Chương 1 Đảng bộ huyện Bình Lục (Hà Nam) lãnh đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng (1986 - 1995) 1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của công tác giáo dục chính trị , tư tưởng của Đảng 1.1 Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, thuật ngữ "công tác giáo dục chính trị tư tưởng" đã được sử dụng rất phổ biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thuật ngữ này cũng được nhiều tài liệu, sách báo trong nước và nước ngoài đề cập đến, được nhiều môn khoa học sử dụng như: Xây dựng Đảng, Công tác vận động quần chúng, Chính trị học. Tùy theo tính chất, đặc điểm, mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách khai thác và tiếp cận khác nhau. Qúa trình nghiên cứu lịch sử xây dựng Đảng đã chứng minh rằng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là công tác hết sức quan trọng, bởi vì đường lối, chính sách của Đảng chỉ có thể thấm nhuần vào quần chúng thông qua GDCTTT và để hiểu rõ hơn khái niệm về công tác GDCTTT cần làm rõ một số khái niệm như chính trị, tư tưởng và một số vấn đề có liên quan đến chính trị, tư tưởng.
* Chính trị và một số vấn đề của chính trị Khái niệm chính trị là khái niệm chỉ lĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp mà khoa học chính trị học và nhiều khoa học chính trị khác nghiên cứu. Trong mỗi một xã hội có giai cấp đều được cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản là kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản đó. Cần phải khẳng định rõ điều này để chống các quan điểm, tư tưởng phi chính trị hoặc tuyệt đối hoá chính trị.
8 z Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong đó, trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế. Đây không phải là cách quan niệm biệt phái riêng của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà nói chung mọi tư duy khoa học khách quan về chính trị đều đi tới, tìm ra và khẳng định thực chất của chính trị là như vậy. Rõ ràng, chính trị có logic vận động nội tại của nó và chịu sự quy định của kinh tế, đồng thời chính trị có tác động to lớn đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Và như vậy cái chi phối trực tiếp chính trị chính là quan hệ giai cấp và vấn đề trung tâm then chốt nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước. Vấn đề quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lực nhà nước là hai vấn đề cơ bản nhất của chính trị. Tuy nhiên, không chỉ có giai cấp và nhà nước mà chính trị còn liên quan đến nhiều vấn đề khác ở những cấp độ quan trọng khác nhau. Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp và nhà nước là chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay khi hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành xu thế của đời sống nhân loại.
Từ đó cho thấy, chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lượng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau, có thể hiểu: “Chính trị, toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực của Nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. Bất kỳ vấn đề chính trị nào cũng đều có liên quan đến quyền lợi của các giai cấp và nhà nước. Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng bao gồm (hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái), 9 z xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế ”. 478] Khái niệm trên đã cho thấy vấn đề chính trị luôn mang bản chất giai cấp, thể hiện mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước.
Mặt khác, để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước. Khi tiếp cận chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, quan hệ của bộ máy của Đảng và của Nhà nước. Vì vậy chính trị cũng có thể hiểu là: Những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính Đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước, giành quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị được thể hiện bằng việc tổ chức ra nhà nước để thống trị xã hội theo quan điểm của một giai cấp nhất định nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp đó mà lợi ích biểu hiện tập trung đầy đủ nhất là lợi ích kinh tế.
Tùy theo tính chất, đặc điểm và sự tiến bộ của giai cấp thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng mà nền dân chủ được thực hiện sâu sắc và triệt để đến mức độ như thế nào đối với toàn xã hội. Mức độ và sự tiến bộ đó thể hiện bằng sự tham gia của quần chúng nhân dân vào việc thực thi quyền lực của nhà nước, giành quyền lực chính trị. Vậy có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ và điều khiển hoạt động của nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. 10 z Để đạt được mục đích đó đòi hỏi các giai cấp phải tiến hành công tác giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, làm cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng.
Từ đó tổ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Với góc độ nghiên cứu của khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, luận văn tiếp cận đến chính trị với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên nói chung, ở cơ sở nói riêng để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. * Tư tưởng, hệ tư tưởng, công tác tư tưởng Theo Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học, xã hội, Hà Nội, 1977) Tư tưởng là sự nhìn nhận, là quan điểm, là sự phản ánh thế giới tự nhiên, xã hội của con người một cách tích cực, tự giác. Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1999 (Nhà xuất bản Văn hoá - thông tin) cho rằng tư tưởng có hai nghĩa: Một là chỉ sự suy nghĩ của con người; hai là chỉ quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội Trong Tạp chí Cộng sản số 3/1993, mục Tìm hiểu khái niệm cho rằng: Tư tưởng là những suy nghĩ, những ý niệm về các sự vật, hiện tượng được phản ánh trong ý thức, là biểu hiện các quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh.
Tư tưởng do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định. Thực chất và nguồn gốc tư tưởng ở trong cơ 11 z sở kinh tế, trong điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, trong tồn tại xã hội. Tóm lại, tư tưởng của con người là sản phẩm của tự nhiên – lịch sử – xã hội, là kết quả của quá trình nhận thức của con người ở giai đoạn cao, giai đoạn trừu tượng hoá của sự phản ánh hiện thực khách quan, là sự suy nghĩ của con người nhận thức bản chất và cải tạo hiện thực khách quan. Tư tưởng là một hiện tượng xã hội, sự hình thành và phát triển của tư tưởng do thực tiễn lịch sử – xã hội quyết định.
Quá trình phát triển của tư tưởng không thể không phụ thuộc vào hoạt động thực tiễn của con người, vào tồn tại xã hội. Khi nói tới tư tưởng của Đảng, thì tư tưởng còn bao gồm nghĩa hẹp hơn, thể hiện ở các quan điểm trong Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Nói tới Đảng là nói tới hoạt động chính trị để bảo vệ lợi ích cho giai cấp và dân tộc của Đảng. Như vậy, những luận điểm trên cho thấy sự đa dạng, đa diện của tư tưởng, nhưng cái chung nhất của tư tưởng là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức, biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội.
Đó là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản ánh lợi ích của một con người, một tập đoàn, một giai cấp, một dân tộc, một thời đại nhất định. Sự phản ánh đó có thể đúng và chưa đúng, thậm chí có thể sai. Vì vậy, có tư tưởng tiến bộ thúc đẩy sự phát triển xã hội; có tư tưởng lạc hậu và cả tư tưởng phản động, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Do đó, trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng để truyền bá tư tưởng của giai cấp mình nhằm mục đích tập hợp quần chúng, giác ngộ họ theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình, tạo nên sức mạnh hành động, giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp.
12 z Các tư tưởng cùng nhìn nhận thế giới theo một hướng được sắp xếp một cách có hệ thống, lôgic được gọi là hệ tư tưởng.