phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và Phục lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với giáo dục mầm non giai đoạn 1991 – 2000. Chƣơng 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với giáo dục mầm non giai đoạn 2001 – 2010. Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 8 z Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 1.
Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chủ trƣơng của Đảng bộ 1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh 1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Là một tỉnh thuộc vùng đông bắc, Tuyên Quang có toạ độ địa lý từ 21030' đến 22041' vĩ độ bắc từ 104050' đến 105035' kinh độ đông. Phía bắc và tây bắc, Tuyên Quang giáp Hà Giang với một số dãy núi cao, phía đông và đông bắc giáp Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái, phái nam giáp Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5820,02 km2 (chiếm 1,76% diện tích cả nước) với dân số 685,792 người (chiến 0,88 dân số cả nước)[6; tr.
265] Về mặt vị trí địa lý, Tuyên Quang có những thuận lợi và khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ có quốc lộ 2, tuyến giao thông huyết mạch chậy trên địa bàn của tỉnh dài khoảng 90 km, Tuyên Quang có thể giao lưu với Hà Giang, xa hơn nữa với các tỉnh miền núi biên giới ở phía bắc, và giao lưu với một số tỉnh thuộc trung du và đồng bằng sông hồng ở phía nam. Khoảng cách giữa thủ đô Hà Nội với thị xã Tuyên Quang là 165km. Theo chiều Đông - Tây, Tuyên Quang cũng có điều kiện trao đổi kinh tế vơí một số tỉnh thuộc vùng núi bắc bộ, trước hết là với Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn… Ngoài ra, thông qua đường sông, chủ yếu là sông Lô, việc giao lưu có thể diễn ra trong nội tỉnh và với các tỉnh khác ở mức độ nhất định.
Tuy nhiên, vị trí địa lí cũng tạo ra những khó khăn đáng kể. Đây là một tỉnh miền núi, lại nằm sâu trong nội địa, hơn nữa, nền kinh tế nhìn chung còn chậm phát triển, kết cấu hạ tầng lại thấp kém; việc giao lưu trao đổi hàng hoá 9 z với các tỉnh chủ yếu trông cậy vào đường ô tô và một phần đường sông. Tuyên Quang chưa có đường sắt, đường hàng không… Do ở sâu trong nội địa, xa các cảng, cửa khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước nên việc trao đổi hàng hoá, liên kết kinh tế với các tỉnh khác còn gặp nhiều hạn chế. Địa hình của Tuyên Quang với hơn 73% diện tích là đồi núi, phân bố khá phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sông suối đặc biệt ở phía Bắc, ở phía Nam tỉnh, địa hình thấp dần ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy dọc theo các sông.
Phần lớn địa hình có hướng nghiêng từ Bắc - Tây bắc xuống Nam - Đông nam. Các dãy núi chính cũng chạy theo hướng này và có cấu trúc vòng cung rõ rệt, nhưng không kéo dài liên tục, mà bị chia cát thành những khối rời rạc (cánh cung sông Gâm) Tuyên Quang được chia làm 3 vùng sau đây: Vùng phía bắc bao gồm các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, Na Hang và phần bắc huyện Yên Sơn với diện tích 377,14 km2 (chiếm 64,89% tổng diện tích cả tỉnh). Độ cao phổ biến là 200 - 600m và thấp dần từ bắc xuống nam. Trên nền độ cao này nổi lên một số ngọn núi cao trên 1000m như Chạm Chu 1587m (đỉnh cao nhất tỉnh, ở phía bắc huyện Hàm Yên), Pia Phơưng, Ta Pao, Kia Tăng (phía bắc huyện Na Hang).
Độ dốc trung bình khoảng 25% ở phía bắc và 20 - 25o ở phía nam. Ở phía bắc huyện Na Hang và rải rác tại một số xã của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên có núi đá vôi và hiện tượng thiếu nước tương đối phổ biến. Nhìn chung, địa hình vùng này bị chia cắt mạnh - đây là vùng hiểm trở, việc đi lại khó khăn hơn so với các vùng khác. Nhiều khu rừng nguyên sinh vẫn còn tồn tại ở Na Hang, Hàm Yên.
Xen kẽ đồi núi là các thung lũng to nhỏ, rộng hẹp khác nhau, có thể canh tác được. Vùng trung tâm gồm thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn và phía bắc huyện Sơn Dương, có diện tích 1252,04 km2 (21,51% diện tích toàn tỉnh). Độ cao trung bình dưới 500m và giảm dần từ bắc xuống nam với một số 10 z ngọn núi nhô cao như núi Là (958m), núi Nghiêm (553m). Tuy nhiên, ở một số nơi địa hình chỉ còn cao 23 - 24m, ở những nơi thấp (thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn, Sơn Dương), hàng năm vào mùa lũ thường bị ngập lụt [6; tr.
Vùng phía nam gồm phần lớn huyện Sơn Dương với diện tích 790,84 km2 (13,6% diện tích toàn tỉnh). Địa hình của vùng gồm đồi bát úp kiểu trung du, những cánh đồng rộng, bằng phẳng, đôi chỗ có dạng lòng chảo. Vùng này, nhìn chung giàu tiềm năng, nhất là về khoáng sản (thiếc, kẽm, angtimoan, vofram), giao thông thuận tiện, đất đai bằng phẳng thích hợp với việc trồng cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Tuyên Quang nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.Tổng lượng bức xạ trung bình năm là 80 - 85 kcal/cm2, lượng nhiệt trung bình năm là 8000 - 8500oC.
Nhiệt độ trung bình năm ở Tuyên Quang là 22-24oC. Thời kì nóng nhất thường diễn ra vào tháng VI và tháng VII, cá biệt có ngày lên tới 39 - 40oC. Thời kì lạnh nhất thường là các tháng XII, I. Nhiệt độ thấp nhất xuống dưới 5oC.
Chế độ nhiệt có sự phân hoá. Nhiệt độ trung bình của thị xã Tuyên Quang luôn cao hơn các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá từ 0,20 – 0,40C [6; tr. Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên như sương muối, mưa đá, lốc, bão…đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp. Tỉnh có 6 huyện và thành phố thuộc tỉnh.
Toàn tỉnh có 129 xã, 7 phường và 5 thị trấn. Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thị hoá, số đơn vị hành chính có thể thay đổi và theo đó số lượng cơ sở giáo dục cũng sẽ biến động theo xu hướng tăng lên để phù hợp với quy mô dân số và đặc điểm tổ chức xã hội trên địa bàn. 11 z Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nền kinh tế với điểm xuất phát thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế. Nền sản xuất hàng hoá đang trong quá trình hình thành.
Trước đổi mới, Tuyên Quang là một bộ phận của tỉnh Hà Tuyên với nền kinh tế phát triển chậm, lạc hậu. Trong thời kì 1986 - 1990, thời kì đan xen giữa hai cơ chế, nền kinh tế của Hà Tuyên nói chung và Tuyên Quang nói riêng còn trong quá trình thích nghi, tiếp cận với cơ chế mới. Từ năm 1991 trở lại đây, nền kinh tế của tỉnh đang dần dần đi vào thế ổn định, từng bước tăng trưởng gắn liền với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Tuyên Quang còn đứng trước hàng loạt khó khăn: xuất phát điểm thấp, nền kinh tế còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp lạc hậu, chuyển dịch kinh tế còn chậm, khả năng mở cửa hạn chế, chi lớn hơn thu, dân trí thấp, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ít… Để tránh tụt hậu, Tuyên Quang cần khai thác hợp lý, có hiệu quả toàn bộ nội lực với sự hỗ trợ về vốn, công nghệ… từ trung ương, thu hút đầu tư nước ngoài và liên kết với các tỉnh khác để tạo nên những bước đột phá trong tương lai.
Tuyên Quang là tỉnh có nhiều dân tộc ít người, nhiều thành phần dân tộc. Nơi đây tập trung hơn 22 dân tộc, trong đó có 8 dân tộc có dân số đông hơn cả là Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Hoa, H'Mông, Sán Dìu Người Kinh chiếm hơn 1/2 dân số Tuyên Quang và cư trú trên địa bàn cả tỉnh, trong đó tập trung nhất ở thị xã và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương. Đứng thứ hai về số dân là người Tày (24,4% dân số), phân bố chủ yếu ở Chiêm Hoá, Na Hang. Tiếp theo là người Dao, tụ cư ở Hàm Yên, Na Hang; người Cao Lan ở Sơn Dương; người Nùng ở Sơn Dương.
Do yêu cầu của công tác quản lý, các cơ sở GDMN thường được tổ chức theo địa bàn đơn vị hành chính. Vì vậy, việc tổ chức hành chính cấp cơ sở (số lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, xã/phường và thôn của tỉnh) có tác động 12 z nhất định đến tổ chức mạng lưới và số lượng cơ sở giáo dục. Trường mầm non (mẫu giáo) thường được tổ chức theo phạm vi một thôn hoặc tổ dân phố. Thực trạng phát triển giáo dục mầm non của trước năm 1991 Có thể thấy rằng, giáo dục có một vai trò rất quan trọng đối với vận mệnh của đất nước.
Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước luôn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đây là sứ mệnh thiêng liêng, đồng thời đồng thời cũng vô cùng nặng nề đối với mỗi người, mỗi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Hệ thống giáo dục, đào tạo bước đầu được sắp xếp, điều chỉnh lại phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, có một số chuyển biến tốt trong giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề và đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên người dân tộc theo địa chỉ sử dụng. Công tác xóa mù chữ và phổ cập cấp I bước đầu được triển khai sâu rộng, năm 1991 đã xóa mù chữ được gần 2000 người, bắt đầu hình thành trường chuyên, lớp chọn để phát hiện bồi dưỡng nhân tài.
Từng bước hình thành và phát triển quan điểm giáo dục nhân dân. Việc tăng cường liên kết nhà trường với xã hội đã tạo điều kiện tốt hơn để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, ngay từ đầu tỉnh Hà Tuyên đã có nhiều chủ trương để phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non.