Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 56 01), mang tiêu đề "Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)", do nghiên cứu sinh Lã Quý Đô thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. NGND Lê Mậu Hãn.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945 - 1954), công tác tư tưởng đã trực tiếp bồi dưỡng, xây dựng và phát huy sức mạnh của con người Việt Nam để vượt qua thử thách chiến tranh khốc liệt. Tuy nhiên, bên cạnh các thành quả đạt được, sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực này cũng bộc lộ những hạn chế, có thời điểm và địa bàn rơi vào tình trạng ấu trĩ, tả khuynh, máy móc, giáo điều, duy ý chí. Trong bối cảnh đổi mới hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên cùng những tác động phức tạp của cơ chế thị trường đặt ra yêu cầu phải tổng kết thực tiễn lịch sử nhằm rút ra các kinh nghiệm khoa học phục vụ công tác xây dựng Đảng.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ các công trình trước đây chủ yếu đề cập công tác tư tưởng như một khía cạnh phụ trợ trong tổng thể chiến tranh quân sự, hoặc chỉ mô tả hoạt động sự vụ của ngành tuyên huấn và tổ chức tư tưởng ở từng địa phương, đơn vị. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng xuyên suốt tiến trình kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng từ chủ trương, quan điểm đến quá trình tổ chức thực hiện; phân tích vai trò của công tác tư tưởng đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến; từ đó rút ra các kinh nghiệm lịch sử cung cấp luận cứ cho công tác tư tưởng hiện nay. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, được đánh số theo văn bản:
- Một là, phân tích bối cảnh lịch sử, mục tiêu, yêu cầu của công tác tư tưởng nhằm động viên toàn dân kháng chiến kiến quốc.
- Hai là, phân tích chủ trương lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng trong kháng chiến.
- Ba là, trình bày quá trình chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ công tác tư tưởng trong kháng chiến.
- Bốn là, thông qua sự chỉ đạo thực tiễn đánh giá kết quả công tác tư tưởng và rút ra những kinh nghiệm lịch sử.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác tư tưởng của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phạm vi thời gian bao quát toàn bộ 9 năm kháng chiến, từ năm 1945 đến năm 1954. Phạm vi không gian trải rộng trên địa bàn cả nước, hướng đến các đối tượng tiếp nhận gồm toàn Đảng, toàn quân và toàn thể nhân dân. Về nội hàm, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền và cổ động, bởi trong điều kiện chiến tranh lúc bấy giờ, công tác nghiên cứu lý luận thuần túy chưa thành lập cơ quan chuyên trách độc lập mà do các lãnh đạo chủ chốt của Đảng trực tiếp đảm nhiệm gắn liền với hoạch định đường lối.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan lịch sử nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu đi trước thành 4 nhóm công trình chính:
Nhóm công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng ở Trung ương:
- Tác phẩm "Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, 1930 - 2000" của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2001) phục dựng hoạt động của ngành tư tưởng văn hóa qua 70 năm nhưng chủ yếu mô tả hoạt động của ngành tuyên huấn, chưa luận giải sâu sắc mục đích, phương pháp và kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp.
- Cuốn sách "Bảy mươi năm công tác tư tưởng - Văn hoá của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn" do Hữu Thọ chủ biên (2000) và "72 năm truyền thống công tác tư tưởng văn hóa của Đảng" của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003) lược ghi các bài phát biểu, ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Tổng Bí thư.
- "Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1925 - 1954)" do Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương biên soạn (2005) thống kê theo trình tự thời gian 246 sự kiện tiêu biểu từ năm 1945 đến năm 1954, trích lược các chỉ thị, nghị quyết nhưng chưa đi vào phân tích hay đánh giá bản chất sự kiện.
- Tác phẩm "Lịch sử 80 năm Ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2010)" của Ban Tuyên giáo Trung ương (2010) dành Chương 2 khái quát hoạt động tuyên giáo thời kỳ 1945 - 1954.
- Công trình "Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)" do Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông chủ biên (2010) đánh giá vai trò của báo chí là công cụ tư tưởng quan trọng trong 9 năm kháng chiến.
- Các công trình chuyên khảo khác gồm: "Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam" do Đào Duy Quát chủ biên (2001); "Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng" do Hồng Vinh, Hà Đăng, Hữu Thọ biên soạn (2004); "Sơ thảo lịch sử 50 năm báo Nhân dân 1951 - 2001" (2001); "Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh" của Hoàng Quốc Bảo (2006); Kỷ yếu hội thảo khoa học "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận" (2002); Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Toản (2005) về công tác tư tưởng giai đoạn 1946 - 1954; "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, tập 1 (1920 - 1954)" của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1984); "Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930 - 2011)" của Nguyễn Trọng Phúc (2012).
Nhóm công trình nghiên cứu công tác tư tưởng ở các địa phương và trong quân đội:
- Về quân đội, các tài liệu tiêu biểu gồm: "Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam" của Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Hồng Anh, Nguyễn Tiến Quốc (2001); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng Nhiên (2006) về Đảng lãnh đạo xây dựng quân đội về chính trị; "Công tác Đảng, công tác chính trị một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ", tập 1 và tập 2 của Hồ Kiếm Việt, Hoàng Kim Hiên, Bạch Đăng Hà (1999, 2000); sách tổng kết của Bộ Tổng tham mưu (2000) do Nguyễn Huy Linh, Nguyễn Văn Tủ, Phạm Đăng Hiệu biên soạn; "Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị chiến dịch..." của Lê Xuân Lựu, Nguyễn Văn Cương, Lê Minh Tân, Nguyễn Huy Long (1998); công trình biên niên tập 1 của Tổng cục Chính trị do Lê Minh Tân và Nguyễn Huy Long thực hiện (1997).
- Về địa phương, tác giả khảo sát các công trình lịch sử ban tuyên giáo các tỉnh, thành phố gồm: Bà Rịa - Vũng Tàu (Nguyễn Đình Thống chủ biên, 2006), Long An (Lê Hữu Phước chủ biên, 2010), Kiên Giang (Nguyễn Anh Động, Phan Trường Chiến, Diệp Hoàng Dư, 2010), Sơn La (Lương Thị Kim Duyên, Lò Minh Hiến, Hoàng Thị Thu Thuỷ, 2010), Nghệ An (Bùi Ngọc Tam chủ biên, 2005), Hà Tĩnh (Nguyễn Thiện chủ biên, 2006), Thái Nguyên (Nguyễn Xuân Minh chủ biên, 2010), Hải Phòng (Phạm Văn Vượng, Nguyễn Thị Phúc, Trần Thị Phương, 2009) và Thanh Hóa (2010).
Nhóm bài viết nghiên cứu các khía cạnh chuyên sâu:
Các bài báo khoa học của Lê Ngọc Toàn (2005) về Cách mạng Tháng Tám; Trần Trọng Trung (2002) về tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" và năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội II (2001); Trần Văn Phòng (2007) về lớp học lý luận trường Nguyễn Ái Quốc; Nguyễn Thị Hằng (2010) về giáo dục lý luận; Hồng Vinh (2005) về người cán bộ tư tưởng; Nguyễn Hoàng Nhiên (2004) về đội ngũ chính trị viên quân đội; báo cáo hội thảo của hai tác giả Pháp Alain Ruscio và Serge Tigneres về nguyên nhân thất bại của quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ.
Nhóm công trình lịch sử cuộc kháng chiến chung:
Bao gồm các công trình của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996, 2000); công trình về chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 của Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Đạo, Phạm Hồng Thanh (2008); công trình của Trường Đại học Tổng hợp (1972); sách tư liệu về Điện Biên Phủ của Lê Kim (1994), Mạc Văn Trọng (1994); bộ sách 6 tập "Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954" của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1985 - 1993); các luận án của Nguyễn Minh Đức (1996), Vũ Quang Hiển (2000) và Đào Trọng Cảng (1993).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết là: Tập trung khảo cứu nguồn tư liệu gốc tại các trung tâm lưu trữ quốc gia và của Đảng; dựng lại bức tranh toàn cảnh về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trên phạm vi cả nước; phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa chủ trương của Đảng và hoạt động thực tiễn của các lực lượng tuyên truyền; từ đó đưa ra đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng. Tác giả tiếp cận công tác tư tưởng dưới góc độ khoa học lịch sử: là hoạt động có mục đích nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của Đảng thành hệ tư tưởng chi phối đời sống tinh thần xã hội; giác ngộ, tập hợp và tổ chức quần chúng hành động cách mạng; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trước các luận điệu của đối phương. Trong điều kiện chiến tranh giải phóng, công tác này được cụ thể hóa thành công tác tuyên truyền, cổ động phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính của chuyên ngành Lịch sử Đảng:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc giữ vai trò chủ đạo, được kết hợp chặt chẽ nhằm tái hiện tiến trình lãnh đạo công tác tư tưởng theo đúng trình tự thời gian, đồng thời khái quát hóa bản chất và quy luật phát triển của mặt trận tư tưởng trong kháng chiến.
- Các phương pháp bổ trợ bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp để xử lý các nguồn văn kiện; phương pháp đồng đại và lịch đại nhằm so sánh hoạt động tư tưởng giữa các chiến trường (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) trong từng giai đoạn; phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu nhằm kiểm chứng các số liệu về tổ chức, báo chí, tài liệu tuyên truyền.
Nguồn tư liệu thực tế của luận án bao gồm:
- Các văn kiện chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương Đảng và các cấp bộ Đảng từ năm 1945 đến năm 1954.
- Các tác phẩm, bài viết, bài phát biểu, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh.
- Nguồn tư liệu lưu trữ gốc khai thác tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng và Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
- Hệ thống báo chí xuất bản trong kháng chiến: Báo Cứu quốc, Báo Sự thật, Báo Nhân dân, Tạp chí Sinh hoạt nội bộ, các bản tin của Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam.
- Các báo cáo tổng kết thực tiễn của các liên khu ủy, tỉnh ủy và Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng dung lượng phần nội dung chính là 188 trang, được bố cục thành 3 chương cụ thể:
| Cấu trúc phần / chương của luận án |
Dung lượng |
Nội dung trọng tâm theo văn bản |
| Phần Mở đầu |
22 trang |
Đặt vấn đề, tình hình nghiên cứu, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp |
| Chương 1 |
65 trang |
Sự lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng giai đoạn 1945 - 1950 |
| Chương 2 |
63 trang |
Chỉ đạo công tác tư tưởng đẩy mạnh kháng chiến giai đoạn 1951 - 1954 |
| Chương 3 |
34 trang |
Nhận xét ưu điểm, hạn chế và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử |
| Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục |
55 trang |
Kết luận (4 tr), công trình của tác giả (1 tr), tài liệu (15 tr), phụ lục (35 tr) |
Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG NHỮNG NĂM 1945 - 1950
Trong tiểu mục khái lược, tác giả điểm lại quá trình chuẩn bị tư tưởng từ khi thành lập Đảng năm 1930, phong trào cách mạng 1930 - 1931 với sự ra đời của Ban Cổ động Tuyên truyền, giai đoạn khôi phục 1932 - 1935, phong trào Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939 cho đến cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945 dẫn tới thắng lợi Cách mạng Tháng Tám.
Giai đoạn 1945 - 1950 diễn ra trong bối cảnh lịch sử phức tạp: chính quyền non trẻ đứng trước hiểm họa "ngàn cân treo sợi tóc"; hậu quả nạn đói năm 1945 làm trên 2 triệu người chết đói; hơn 90% dân số mù chữ; trên 30 vạn quân đội nước ngoài (quân Tưởng, Anh, Pháp) chiếm đóng. Các lực lượng phản động như Việt Quốc, Việt Cách được quân Tưởng hậu thuẫn lập "Mặt trận quốc gia", mở loa phóng thanh tuyên truyền bôi nhọ, ra báo chí phản động và tiến hành bắt cóc, ám sát. Đến cuối năm 1946, quân đội viễn chinh Pháp đã có mặt 10 vạn quân với trang bị hiện đại, trong khi lực lượng vũ trang cách mạng có trên 8 vạn người nhưng vũ khí còn thô sơ, chủ yếu là giáo mác, súng trường, súng kíp.
Trước tình thế đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành các chủ trương công tác tư tưởng mang tính định hướng:
- Phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (ngày 3/9/1945) nêu 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó xác định 2 nhiệm vụ tư tưởng văn hóa là diệt giặc dốt và giáo dục tinh thần nhân dân.
- Hội nghị Cán bộ Bắc kỳ (ngày 11 - 12/9/1945) đề ra khẩu hiệu: "Thống nhất đoàn kết; Chống thực dân Pháp; Việt Nam hoàn toàn độc lập; Ủng hộ Chính phủ Dân chủ cộng hòa"; chỉ đạo thành lập nhà thông tin ở các tỉnh, lắp đặt máy thu thanh (radio recepteur) và máy truyền thanh tại các câu lạc bộ, trụ sở công cộng.
- Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" (ngày 25/11/1945) đề ra khẩu hiệu trung tâm: "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết", chủ trương "đoàn kết với nhân dân Pháp, chống thực dân Pháp xâm lược".
- Chỉ thị "Tình hình và chủ trương" (ngày 3/3/1946) và Chỉ thị "Hòa để tiến" (ngày 9/3/1946) chỉ đạo tiến hành công tác tư tưởng giải thích quyết định hòa hoãn tạm thời với Pháp thông qua Hiệp định Sơ bộ (ngày 6/3/1946) nhằm đuổi quân Tưởng, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng.
- Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" (ngày 12/12/1946) xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh; xác định các khẩu hiệu hành động trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Bản chỉ thị đề ra những điều răn cụ thể:
- Đối với nhân dân gồm 6 điều không (không đi lính, không nộp thuế, không bán lương thực, không dẫn đường, không làm việc, không lộ tin tức cho Pháp) và 7 điều phải (đoàn kết, đánh giặc trừ gian, tăng gia sản xuất, ủng hộ Chính phủ, tiếp tế bộ đội, báo tin bộ đội, giúp đồng bào tản cư).
- Đối với quân đội gồm 6 điều không (không hàng giặc, không để mất súng, không bắn phí đạn, không xâm phạm tính mạng tài sản dân, không xâm phạm tín ngưỡng dân, không ngược đãi tù binh) và 6 điều phải (ủng hộ Chính phủ và Hồ Chủ tịch, bảo vệ tính mạng tài sản dân, kính trọng giúp đỡ dân, sĩ quan và binh lính một lòng, tuân lệnh cấp trên, phục tùng kỷ luật).
- Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19/12/1946) với ý chí sắt đá "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".
- Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh (đăng báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8/1947, in sách tháng 9/1947) làm rõ cơ sở khoa học của cuộc chiến tranh nhân dân, đề ra khẩu hiệu hành động "Yêu nước và căm thù giặc".
- Hội nghị Cán bộ Trung ương (tháng 4/1947) chủ trương động viên văn nghệ sĩ, trí thức tham gia kháng chiến; phát huy vai trò của Báo Cứu quốc, Báo Sự thật và Đài Phát thanh Trung ương. Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ 6 (tháng 1/1949) nhấn mạnh nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm để xây dựng nền lý luận quân sự Việt Nam. Hội nghị Cán bộ tuyên truyền toàn quốc lần thứ nhất (ngày 20/6/1950) đề ra phương châm "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" nhằm chuẩn bị chuyển sang tổng phản công.
Về quá trình chỉ đạo thực tiễn:
- Tổ chức bộ máy: Ngày 7/9/1945, Chính phủ lâm thời thành lập Bộ Thông tin - Tuyên truyền do Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng. Ngày 15/9/1945, Đài phát sóng Bạch Mai phát đi bản Tuyên ngôn Độc lập bằng 3 thứ tiếng Việt - Anh - Pháp, đánh dấu sự ra đời của Thông tấn xã Việt Nam. Thời gian đầu, do thiếu nguồn tin trực tiếp từ nước ngoài, các biên tập viên phải trực tiếp nghe đài BBC, VOA, đài Mátxcơva và đài Paris để biên dịch và xử lý tin tức thế giới.
- Công tác tư tưởng trong Đảng, quân đội và quần chúng: Đảng tổ chức các lớp huấn luyện chính trị nội bộ; xây dựng hệ thống chính trị viên trong lực lượng vũ trang; phát động phong trào "Tuần lễ vàng", phong trào "Bình dân học vụ" diệt giặc dốt, phong trào tăng gia sản xuất và "Hũ gạo cứu đói".
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN ĐẾN KẾT THÚC THẮNG LỢI (1951 – 1954)
Giai đoạn này ghi nhận bước chuyển căn bản của cuộc kháng chiến sau thắng lợi của chiến dịch Biên giới năm 1950, quân ta giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thực dân Pháp tăng cường cấu kết với đế quốc Mỹ, thực hiện Kế hoạch De Lattre de Tassigny và sau đó là Kế hoạch Navarre. Khi quân ta tiến hành một số chiến dịch đánh vào vùng đồng bằng không đạt mục tiêu chiến lược, thương vong tăng lên, tư tưởng bi quan, dao động, ngại gian khổ xuất hiện ở một số bộ phận.
Trước yêu cầu mới, Đảng tiến hành các chủ trương chuyển hướng:
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951) đưa Đảng ra hoạt động công khai dưới tên Đảng Lao động Việt Nam, hoàn thiện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.
- Thành lập Báo Nhân dân - cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng (ra số đầu tiên vào tháng 3/1951) thay thế cho Báo Sự thật.
- Chỉ đạo kiện toàn Ban Tuyên huấn Trung ương và ban tuyên huấn các cấp ủy; ban hành các nghị quyết về mở đợt chỉnh Đảng, chỉnh quân chính trị; chủ trương kết hợp công tác tư tưởng phục vụ chiến tranh với công tác tư tưởng chuẩn bị cho phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất.
Về quá trình tổ chức chỉ đạo:
- Củng cố hệ thống tuyên truyền: Hoàn thiện tổ chức ngành tuyên huấn từ Trung ương, các liên khu (Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4, Liên khu 5, Nam Bộ) đến các tỉnh ủy; tăng cường trang thiết bị in ấn, bảo đảm phát hành sách báo vào cả vùng tự do lẫn vùng tạm bị chiếm.
- Công tác tư tưởng trong Đảng: Tổ chức các đợt chỉnh huấn chính trị sâu rộng trong những năm 1952 - 1953; quán triệt lập trường giai cấp công nhân; đấu tranh tự phê bình và phê bình nhằm khắc phục các biểu hiện sa sút ý chí chiến đấu, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng chủ quan khinh địch hoặc mơ hồ về đối tượng đấu tranh.
- Công tác chính trị tư tưởng trong quân đội: Tiến hành các cuộc chỉnh quân chính trị; nâng cao vai trò chỉ đạo của Tổng cục Chính trị; xây dựng và củng cố chế độ chính ủy, chính trị viên các cấp. Công tác tư tưởng bám sát nhiệm vụ tác chiến trong các chiến dịch lớn: chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc (1952), chiến dịch Thượng Lào (1953), chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Trong trận quyết chiến Điện Biên Phủ, công tác tư tưởng đã giải quyết tư tưởng mỏi mệt, lo ngại tổn thất, quán triệt và giữ vững sự thông suốt đối với quyết định chuyển đổi phương châm từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc".
- Công tác tuyên truyền cổ động quần chúng: Đẩy mạnh các phong trào thi đua ái quốc; vận động nhân dân chấp hành chính sách thuế nông nghiệp, huy động sức người sức của cho hỏa tuyến; tiến hành công tác tư tưởng đi liền với việc thực hiện chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất ở nông thôn; chủ động vạch trần các chiến dịch tuyên truyền tâm lý chiến của thực dân Pháp và chính quyền Bảo Đại.
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
Một số nhận xét của tác giả:
- Về ưu điểm:
- Đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc là cơ sở cho sự thành công của công tác tư tưởng.
- Luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị để tuyên truyền cổ động quần chúng.
- Chú trọng công tác tư tưởng trong Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong quân đội.
- Luôn coi trọng xây dựng các cơ quan chuyên môn, sáng tạo về nghệ thuật và phương pháp tuyên truyền cổ động.
- Về hạn chế: Sự lãnh đạo của Đảng có lúc, có nơi rơi vào tình trạng ấu trĩ, tả khuynh, máy móc, giáo điều, duy ý chí (biểu hiện rõ trong một số khâu của công tác chỉnh đốn nội bộ và việc chỉ đạo tư tưởng khi thực hiện chính sách nông thôn cuối kháng chiến), làm giảm sút phần nào hiệu quả công tác tư tưởng trong thực tiễn.
Năm kinh nghiệm lịch sử:
- Thứ nhất: Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, khơi dậy và phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
- Thứ hai: Đánh giá đúng tình hình và nhiệm vụ kháng chiến để tuyên truyền cổ động định hướng quần chúng.
- Thứ ba: Phối hợp, phát huy vai trò của các lực lượng làm công tác tuyên truyền, cổ động.
- Thứ tư: Chủ động tiến công trên mặt trận tư tưởng để củng cố tư tưởng nội bộ và làm thất bại chiến tranh tuyên truyền của thực dân Pháp.
- Thứ năm: Xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về phương diện tư liệu, luận án đã sưu tầm, xử lý và hệ thống hóa nguồn sử liệu thành văn phong phú về công tác tư tưởng giai đoạn 1945 - 1954. Công trình bổ sung nhiều văn bản chỉ thị, báo cáo hoạt động tuyên huấn từ Cục Lưu trữ Trung ương Đảng và Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, làm sáng tỏ các số liệu, chủ trương chưa được các nghiên cứu trước đây khai thác toàn diện.
Về phương diện khoa học và thực tiễn:
- Luận án phân tích rõ quan điểm nhất quán của Đảng: công tác tư tưởng là mặt trận trọng yếu, là điều kiện tiên quyết xây dựng quyết tâm kháng chiến của toàn thể dân tộc.
- Phục dựng một cách có hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình lãnh đạo công tác tư tưởng qua hai chặng đường chiến lược (1945 - 1950 và 1951 - 1954), chứng minh công tác tư tưởng luôn theo sát diễn biến quân sự, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng chính quyền.
- Chỉ rõ những khuyết điểm, sai lầm mang tính ấu trĩ, tả khuynh, máy móc trong lãnh đạo tư tưởng thời kỳ kháng chiến, từ đó tổng kết thành 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.
Về kiến nghị, luận án đề xuất việc vận dụng các bài học lịch sử vào việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công tác tuyên giáo trong bối cảnh hiện nay; nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, kiên quyết khắc phục tình trạng giáo điều, bảo thủ, thiếu nhạy bén hoặc xem nhẹ công tác tư tưởng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác nhận do hoàn cảnh chiến tranh đặc thù, công tác nghiên cứu lý luận độc lập chưa được tổ chức thành bộ máy chuyên biệt, do đó luận án chỉ tập trung vào phân mảng công tác tuyên truyền và cổ động. Bên cạnh đó, luận án chủ yếu khảo sát nguồn tài liệu lưu trữ từ phía cách mạng Việt Nam, chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ các nguồn tư liệu lưu trữ của Pháp về hoạt động chiến tranh tâm lý và phản ứng của quân viễn chinh đối với công tác địch vận của ta.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần mở rộng nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của tư duy lý luận quân sự, lý luận chính trị của các lãnh đạo chủ chốt thời kỳ 1945 - 1954.
- Đi sâu nghiên cứu, so sánh đặc điểm công tác tư tưởng tại các không gian chiến trường mang tính đặc thù cao như Nam Bộ, vùng cực Nam Trung Bộ và các đô thị tạm bị chiếm đóng.
- Khai thác nguồn tài liệu từ phía đối phương tại các trung tâm lưu trữ ở Pháp để có sự đối chiếu, so sánh đa chiều về hiệu quả tác động của mặt trận tư tưởng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Triết học, Báo chí và Truyền thông.
- Cán bộ làm công tác tư tưởng, tuyên giáo, cán bộ nghiên cứu lý luận và hoạch định chính sách chính trị - xã hội trong hệ thống cơ quan Đảng và Nhà nước.
Các phần có giá trị tham khảo cao:
- Bức tranh phục dựng chi tiết về sự hình thành các cơ quan tuyên truyền kháng chiến (Bộ Thông tin - Tuyên truyền, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Sự thật, Báo Nhân dân) ở Chương 1 và Chương 2.
- Phương thức tiến hành công tác tư tưởng bám sát các chiến dịch quân sự lớn, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
- Năm bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc kết ở Chương 3, có thể trực tiếp vận dụng vào công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng nội bộ và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái hiện nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền và cổ động mà không đi sâu vào công tác nghiên cứu lý luận?
Trả lời: Tác giả lý giải rõ trong văn bản rằng mặc dù nghiên cứu lý luận là bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng, nhưng trong điều kiện chiến tranh ác liệt giai đoạn 1945 - 1954, các cơ quan chuyên trách làm công tác nghiên cứu lý luận hầu như chưa được thành lập. Các lãnh đạo chủ chốt của Đảng trực tiếp nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để hoạch định đường lối kháng chiến. Công tác tư tưởng triển khai trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thời kỳ này về căn bản là công tác tuyên truyền, cổ động.
2. Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" (ngày 12/12/1946) của Đảng đã đề ra các điều răn cụ thể nào cho quân đội và nhân dân?
Trả lời: Chỉ thị đã đề ra các phương châm hành động cụ thể gồm:
- Đối với nhân dân: 6 điều không (không đi lính cho Pháp; không nộp thuế; không bán lương thực; không dẫn đường; không làm việc; không lộ tin tức) và 7 điều phải (phải đoàn kết chặt chẽ; phải đánh giặc trừ gian; phải tăng gia sản xuất; phải ủng hộ Chính phủ; phải tiếp tế bộ đội; phải báo tin bộ đội; phải giúp đồng bào tản cư).
- Đối với quân đội: 6 điều không (không hàng giặc; không để mất súng; không bắn phí đạn; không xâm phạm tính mạng tài sản dân; không xâm phạm tín ngưỡng dân; không ngược đãi tù binh) và 6 điều phải (phải ủng hộ Chính phủ và Hồ Chủ tịch; phải bảo vệ tính mạng tài sản dân; phải kính trọng và giúp đỡ dân; phải sĩ quan và binh lính một lòng; phải tuân lệnh cấp trên; phải phục tùng kỷ luật).
3. Thông tấn xã Việt Nam được thành lập vào ngày nào và gặp khó khăn gì về nguồn tin thế giới trong giai đoạn 1945 - 1946?
Trả lời: Thông tấn xã Việt Nam chính thức khai sinh vào ngày 15/9/1945 khi Đài Bạch Mai phát đi bản Tuyên ngôn Độc lập bằng 3 thứ tiếng Việt - Anh - Pháp. Trong những năm 1945 - 1946, do chưa có quan hệ và ký kết thỏa thuận với các hãng thông tấn quốc tế, Thông tấn xã Việt Nam không có nguồn cung cấp tin tức trực tiếp. Để có tin thế giới, các biên tập viên phải thay phiên nhau trực nghe các đài phát thanh nước ngoài gồm BBC, VOA, chương trình tiếng Anh của Đài Mátxcơva, Đài Paris để ghi chép, chọn lọc và biên soạn lại.
4. Văn kiện nào của lãnh đạo Đảng được luận án nhấn mạnh như cẩm nang lý luận quân sự và tư tưởng chỉ đạo kháng chiến trong năm 1947?
Trả lời: Đó là tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh. Tác phẩm tập hợp chuỗi các bài viết đăng trên Báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8/1947 và được in thành sách vào tháng 9/1947, luận giải một cách khoa học tính chất chính nghĩa, tương quan lực lượng, phương châm chiến lược toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của nhân dân Việt Nam.
5. Luận án chỉ ra những biểu hiện hạn chế, khuyết điểm nào trong lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng giai đoạn 1945 - 1954?
Trả lời: Luận án thẳng thắn chỉ ra rằng bên cạnh những thắng lợi to lớn, trong lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng có lúc, có nơi đã vấp phải các biểu hiện ấu trĩ, tả khuynh, máy móc, giáo điều và duy ý chí, đặc biệt trong các đợt chỉnh huấn nội bộ và giai đoạn đầu phát động quần chúng giảm tô, cải cách ruộng đất, khiến hiệu quả công tác tư tưởng có giai đoạn chưa đạt kết quả tối ưu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lã Quý Đô là công trình chuyên khảo chuyên ngành Lịch sử Đảng, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Bằng việc khảo sát, xử lý các nguồn văn kiện lưu trữ gốc kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử và lôgíc, tác giả đã làm rõ quá trình chuyển biến về chủ trương, xây dựng bộ máy tuyên huấn, báo chí và công tác giáo dục chính trị trong Đảng, quân đội và nhân dân. Công trình không chỉ đánh giá khách quan các ưu điểm và hạn chế thực tế mà còn đúc kết được 5 bài học kinh nghiệm lịch sử sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác xây dựng Đảng về tư tưởng trong giai đoạn hiện nay.