Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Tài nguyên cây thuốc và công tác bảo tồn trên thế giới 1. Tài nguyên cây thuốc trên thế giới Nói về cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là nói đến nguồn tài nguyên cây cỏ phong phú trên hành tinh, đó là những loài thực vật có giá trị đối với loài người, chúng đã và đang được con người khai thác và sử dụng hàng ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mình.
Trong đó, nhu cầu khai thác các cây LSNG để làm thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh luôn là quan trọng nhất, đồng thời hai nhu cầu này lại thường song hành với nhau. Hầu hết các loài cây thuốc được khai thác từ rừng hoặc thuần hóa để gây trồng đều có ý nghĩa như những vị thuốc quan trọng, vì nó giúp cơ thể tăng cường sức khỏe, từ đó tăng sức đề kháng và chống lại bệnh tật. Nguồn tài nguyên cây thuốc và kho tàng tri thức sử dụng cây LSNG của các nền văn hoá khác nhau đang được khai thác triệt để và nghiên cứu nhằm phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ và phát triển kinh tế. Ở mức độ toàn cầu cây thuốc phục vụ cho 4 nhu cầu chính là: (i) các hệ thống chăm sóc sức khoẻ truyền thống; (ii) công nghiệp dược; (iii) cá nhân những người hành nghề y truyền thống; (iv) phụ nữ để chăm sóc sức khoẻ trong gia đình (WHO, 1993)[42].
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số loài cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như Cỏ thi (Achillea), Cúc bạc (Chrysanthemum sinense)… Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng (Opuntia. Sp) mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn. Mức độ sử dụng cây thuốc ở các nước công nghiệp ngày càng tăng. Ngày nay, có khoảng 40% dân số ở các nước công nghiệp phát triển sử dụng các dạng thuốc bổ sung.
Tổng giá trị thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ trên thị trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là 43 tỉ USD (dẫn theo Nguyễn Chí Hiểu, 2011)[13]. Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự (2006) [42] đã nghiên cứu phân bố các loài 4 cây ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được và có tác dụng chữa bệnh thuộc 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài). Trên thế giới có 12 trung tâm đa dạng sinh học cây trồng là Trung Quốc – Nhật Bản, các nước Đông Nam á, Châu Úc, Ấn Độ, Trung Á, Cận Đông, Địa Trung hải, Châu Phi, Châu Âu – Siberi, Nam Mexico, Nam Mỹ và Bắc Mỹ.
Nhiều loài cây thuốc đã được thuần dưỡng và trồng từ lâu đời ở các trung tâm đó như Gai dầu, Nhân sâm, Đinh hương, Nhục đậu khấu, Quế xây lan, Bạc hà, Đan sâm, Canh kina. Các loài cây LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác và sử dụng cách đây hàng nghìn năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia… Hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển các loài cây LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng. Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của cây LSNG nói chung và cây thuốc nói riêng trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo ra thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, cân bằng sinh thái, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. Công tác bảo tồn tài nguyên cây thuốc Theo Trần Văn Ơn (2002) [41] có đến 80% thực vật làm thuốc sử dụng ở Trung Quốc và 95% loài cây thuốc ở Ấn Độ được khai thác từ tự nhiên.
Việc khai thác quá mức tài nguyên cây thuốc do nhu cầu cuộc sống và sự gia tăng dân số. Điều này dẫn đến lượng tài nguyên tái sinh không kịp bù đắp được lượng bị khai thác mất đi. Năm 1988, hội thảo quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã được tổ chức ở Chiang Mai - Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và bảo tồn cây cỏ đến từ 16 5 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới (trừ Australia và Nam Mỹ), "Tuyên ngôn Chiang Mai" đã ra đời, bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra các loại thực phẩm và thuốc mới. Đồng thời báo động về việc mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hoá trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm loài thực vật mới mang lại lợi ích toàn cầu.
Tuyên ngôn Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc. Sau hội thảo, lần đầu tiên một bản hướng dẫn bảo tồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới đã ra đời. Theo Ngân hàng thế giới, trong số tất cả tri thức truyền thống ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latin thì tri thức truyền thống về y học là dễ bị đe doạ nhất. Tri thức này đang bị mất có lẽ với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác.
Ước tính trên thế giới có ít nhất 1.000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài Ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroco, 61 loài ở Thái Lan, 35 loài ở Bangladesh… Các loài đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng có thể kể đến là cây Noratodytesfoetida ở nam Ấn Độ và Sri Lanka, được dùng làm thuốc chống ung thư; cây Saussurea lappa ở Ấn Độ, được dùng làm thuốc trị các chứng rối loạn da mãn tính; cây Fritillaria cirrhosa ở Trung Quốc, được dùng chữa viêm nhiễm đường hô hấp; cây Coptis teeta ở Ấn Độ được khai thác hàng chục tấn bán sang các nước Đông Á trước đây (dẫn theo Trần Văn Ơn, 2004)[36]. Tại Trung Quốc, nhiều chương trình dài hạn đã được thiết lập nhằm bảo tồn cây thuốc và nâng cao giá trị sử dụng của chúng thông qua việc gây trồng. Có khoảng 200 loài được trồng với diện tích là 300.000 ha vào năm 1986 đã tăng lên 440.000 ha vào năm 1995 và cung cấp đến 40% nguyên liệu thô cho công nghiệp chế biến nông lâm sản và dược liệu. Nhiều loài đã được trồng thành công như: Glycyrrhiza uralensis; Rheum palmatum; Cistanche deserticola; Dioscorea nipponica.
Một số loài như Lithospermum erythrorhizon, Panax quinquefolium, Corydalis yanhuosu, Scopolia tangutica. đã được nhân giống nhờ công nghệ sinh 6 học như giâm hom, nuôi cấy mô. Năm 1994 bộ atlas màu về cây thuốc bản địa Trung Quốc đã được vườn thực vật (VTV) Bắc Kinh và Nam Ninh xuất bản (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 1996)[26]. Năm 1989, Tổ chức Bảo tồn các Vườn thực vật Quốc tế (BGCI – Botanic Gardens Conservation International) đã phối hợp với tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) Và quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) xây dựng “Chiến lược bảo tồn ở các VTV”.
BGCI đã ưu tiên bảo tồn cây thuốc trong các VTV cho tương lai. Trên toàn thế giới, có khoảng 1.500 VTV đã được xây dựng, trong đó có 152 vườn của 33 quốc gia chuyên trồng cây thuốc hay trồng thực vật làm thuốc kết hợp với các loài cây kinh tế khác. Các quốc gia có nhiều vườn cây thuốc hay vườn sưu tập cây thuốc là Liên Xô (cũ) (31 vườn), Nhật Bản (26), Mỹ (13), Ba Lan (10), Pháp (10), Ấn Độ (6) Trung Quốc (5), Italia (5). Tại Ấn Độ, một "Mạng lưới phân phối cơ sở dữ liệu thực vật có ích" đã được thành lập với sự đóng góp thông tin của 9 tổ chức "nút".
Mạng lưới này đã thu thập, bảo tồn, nhân giống và sử dụng hơn 8.000 loài cây thuốc trong 48 cơ sở bảo tồn nguyên vị và chuyển vị (WHO, 1993)[42]. Tại Trung Quốc, đã có khoảng 50 loài cây thuốc thuộc diện quí hiếm được thu thập và trồng trong các VTV và vườn sưu tập cây thuốc. Đáng lưu ý là VTV Quảng Tây thành lập năm l959, rộng 240 ha, hiện trồng lưu trữ 2.400 loài; Vườn thực vật Bắc Kinh của Viện Phát triển cây thuốc, có 1.300 loài; VTV Nam Ninh (Quảng Tây), trồng 800 loài [43]. Việc nghiên cứu thành công kỹ thuật trồng và lưu giữ đã bảo tồn và phát triển được nhiều cây thuốc ở các địa phương.
Các VTV có trồng các loài cây thuốc khác trên thế giới có thể kể đến là Vườn cây thuốc ở Tokyo (Nhật Bản) được thành lập năm 1945 hiện trồng khoảng 1.600 loài; VTV dân tộc (Mexico) được thành lập năm 1979 với diện tích 4 ha; VTV và vườn cây gỗ Waimea (Hawai, Mỹ) tập trung trồng các mẫu cây có nguồn gốc Hawai; VTV Devonia (Canada) thu thập và nghiên cứu các loài cây bản địa được người dân sử dụng. Vườn cây thuốc cũng rất phổ biến tại các nước Đông Âu, nơi có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, như Liên Xô (cũ), Bungari, Hungari, Séc, Ba Lan. 7 Hiện nay, có rất ít loài cây cỏ được sử dụng trong các nền y học truyền thống được bảo tồn trong các ngân hàng hạt. Riêng ngân hàng gen Gatersleben ở Đức có khoảng 2.000 mẫu là cây thuốc (dẫn theo Trần Công Khánh, 2002)[41].
Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây thuốc 1. Một số nghiên cứu về nhân giống Theo hướng dẫn bảo tồn cây thuốc của WHO, IUCN và WWF. Nhân giống cây thuốc là một hoạt động quan trọng trong công tác bảo tồn, nhằm tạo giống cây thuốc phục vụ hoạt động trồng trọt, bảo tồn chuyển vị, bảo tồn nguyên vị, phục tráng và nâng cao chất lượng giống cây thuốc. Nhân giống bằng hom (Cutting propagation): Là một phương pháp nhân giống sinh dưỡng với hom là một đoạn thân, cành, rễ được đặt trong điều kiện môi trường thích hợp sẽ phát triển chồi bất định và mọc thành cây độc lập.
Đây là một hình thức nhân giống sinh dưỡng, dựa trên khả năng sinh sản sinh dưỡng của cây, trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm. Tế bào mẹ sinh ra tế bào con có bộ nhiễm sắc thể giống hệt mình.