CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ ASIA DRAGON (ADAC) CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ ASIA DRAGON (ADAC) CHƯƠNG 5: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2.1 Khái niệm về chọn mẫu trong kiểm toán Chọn mẫu là việc lựa chọn một số phần tử gọi là mẫu từ một tập hợp gọi là tổng thể, để nghiên cứu và đánh giá mẫu, sau đó dựa vào những đặc trưng của mẫu để rút ra những suy đoán về đặc trưng của toàn bộ tổng thể. Lấy mẫu kiểm toán là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội được chọn. Lấy mẫu sẽ giúp KTV thu thập và đánh giá các đặc trưng của phần tử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể (Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam- VSA 530). Lấy mẫu có thể tiến hành theo phương pháp thống kế hoặc phi thống kê.
Trong quá trình thực hiện chọn mẫu KTV thường đặc biệt quan tâm tới tính hiệu quả của thủ tục kiểm soát, tính chính xác của quá trình xử lý nghiệp vụ và tính chính xác của các số dư tài khoản, tính đầy đủ của các loại chi phí.2 Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu kiểm toán 2.1 Tổng thể Tổng thể chung là một tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu. Tổng thể mẫu: là bộ phận của tổng thể chung gồm những đơn vị được chọn ra theo một số thủ tục nào đó để thu thập thông tin trong cuộc điều tra mẫu. Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể. Tập hợp các đơn vị mẫu được gọi là một mẫu.
Số lượng các đơn vị được chọn ra trong mẫu được gọi là quy mô mẫu. Trong kiểm toán, tổng thể có thể hiểu là toàn bộ dữ liệu mà từ đó KTV chọn mẫu để đánh giá và đi đến kết luận. Ví dụ tất cả các phần tử trong một loại chi phí. Một tổng thể có thể được chia thành nhiều nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm đều được kiểm tra riêng biệt.
Theo CMKT - VSA 530 mục 36, KTV phải đảm bảo tính phù hợp và đầy đủ của tổng thể.2 Đơn vị lấy mẫu Là các phần tử riêng biệt cấu thành tổng thể. Ví dụ: Số dư nợ phải trả người bán, phải thu khách hàng, số dư của tài khoản ngân hàng hoặc hóa đơn mau vào của các loại chi phí. Đơn vị lấy mẫu có thể là một đơn vị tiền tệ, một đơn vi hiện vật hoặc số lượng.3 Cỡ mẫu Tập hợp những phần tử được chọn ra làm đại diện trong quá trình khảo sát một đặc điểm hay một dấu hiệu nào đó của tổng thể thường được gọi là một mẫu. Số phần tử có trong một mẫu thường gọi là kích thước mẫu hay cỡ mẫu, thường khá nhỏ hơn so với tổng thể chọn mẫu.
Theo CMKT - VSA 530 mục 41 và 42 KTV phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu. Cỡ mẫu ảnh hưởng bởi rủi ro kiểm toán. Rủi ro có thể chấp nhận đươc càng thấp thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn. Cỡ mẫu được xác định theo phương pháp thống kê hoặc xét đoán nghề nghiệ của KTV phải khách quan trong mọi trường hợp.4 Mẫu đại diện Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể.
Chẳng hạn, qua kiểm soát nội bộ có 2% hóa đơn thanh toán bằng tiền mặt trên hai mươi triệu đưa vào chi phí. Nếu trong 100 hóa đơn chọn ra 10 hóa đơn để kiểm tra thấy có đúng ba hóa đơn như thế thì chọn là mẫu đại diện.5 Rủi ro chọn mẫu Khi chọn mẫu rủi ro chọn mẫu luôn phát sinh. Là rủi ro mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên việc kiểm tra mẫu có thể khác so với kết luận đưa ra nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục kiểm toán. Rủi ro lấy mẫu có thể dẫn tới hai loại kết luận sai như sau: Kết luận rằng các kiểm soát có hiệu quả cao hơn so với hiệu quả thực sự của các kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng không có sai sót trọng yếu 5 trong khi thực tế lại có (đối với kiểm tra chi tiết).
Kiểm toán viên quan tâm chủ yếu đến loại kết luận sai này vì nó ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không phù hợp. Kết luận rằng các kiểm soát có hiệu quả kém hơn so với hiệu quả thực sự của các kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng có sai sót trọng yếu trong khi thực tế lại không có (đối với kiểm tra chi tiết). Loại kết luận sai này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì thường dẫn tới các công việc bổ sung để chứng minh rằng kết luận ban đầu là không đúng. Rủi ro chọn mẫu có thể giảm bằng cách tăng cỡ mẫu.6 Rủi ro không do chọn mẫu Là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quan đến chọn mẫu.
Nguyên nhân của rủi ro này thường là do khả năng của KTV (trí lực và thể lực). Ví dụ KTV có thể hiểu sai vấn đề, sử dụng sai thủ tục kiểm toán, sử dụng bằng chứng không thích hợp hay không nhận diện được sai sót trọng điểm. KTV và công ty có thể kiểm soát rủi ro không do chọn mẫu và có khả năng làm giảm rủi ro không do chọn mẫu giảm tới mức có thể chấp nhận được thông qua việc lập kế hoạch và giám sát việc thực hiện một cách chu đáo, đồng thời phải thực hiện các thủ tục kiểm soát chặt chẽ và thích hợp với công việc kiểm toán.7 Sai phạm cá biệt Là một sai sót hay sai lệch được chứng minh là không đại diện cho các sai sót hay sai lệch của tổng thể.3 Yêu cầu đối với chọn mẫu kiểm toán Chọn mẫu kiểm toán trên cơ sở sử dụng các đặc trưng mẫu để suy rộng ra đặc trưng của toàn bộ tổng thể. Như vậy, yêu cầu cơ bản của chọn mẫu là phải chọn được mẫu đại diện.
Một mẫu đại diện là mẫu mà các đặc điểm của mẫu cũng giống như đặc điểm của tổng thể. 6 Trên thực tế KTV không biết mẫu có tính đại diện hay không dù sau đó tất cả các thử nghiệm đều được thực hiện. Tuy nhiên KTV có thể tăng khả năng đại diện của mẫu bằng cách thận trọng khi thiết kế, lựa chọn và đánh giá mẫu. Khi thiết kế một mẫu kiểm toán, KTV phải xtác giả xét mục đích của thủ tục kiểm toán và các tính chất của tổng thể được lấy mẫu.
KTV phải xác định cỡ mẫu đủ lớn để giảm rủi ro lấy mẫu xuống một mức thấp có thể chấp nhận được. KTV phải lựa chọn các phần tử của mẫu theo một phương thức nào đó để mỗi đơn vị lấy mẫu trong tổng thể đều có cơ hội được.4 Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê 2.1 Chọn mẫu thống kê Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng kỹ thuật tính toán toán học để tính kết quả thống kê có hệ thống. Chọn mẫu thống kê có hai đặc điểm sau: Các phần tử được chọn ngẫu nhiên vào mẫu. Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm cả việc định lượng rủi ro chọn mẫu.
Ưu điểm của chọn mẫu thống kê: Đòi hỏi có sự tiếp cận rõ ràng và chính xác đối với đối tượng kiểm toán Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫu chọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán. KTV phải chỉ rõ các đánh giá cụ thể hay rủi ro và mức trọng yếu.2 Chọn mẫu phi thống kê Chọn mẫu phi thống kê là phương pháp chọn mẫu không có một hoặc hai đặc điểm của phương pháp chọn mẫu thống kê. Việc lựa chọn mẫu sẽ dựa vào phán xét nghề nghiệp của 7 KTV chứ không dựa vào lý thuyết xác suất. Do đó, các kết luận được tiếp cận với các tổng thể trên một căn cứ phán đoán nhiều hơn.3 So sánh chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê là hai cách tiếp cận chọn mẫu trong kiểm toán.
Cả hai cách nếu được áp dụng hợp lý đều có thể cung cấp đủ các bằng chứng có hiệu lực. Giống nhau là cả hai cách đều bao gồm 3 bước: Lập kế hoạch chọn mẫu Thực hiện chọn mẫu và thực hiện kiểm tra chọn mẫu Đánh giá kết quả Khác nhau: Chọn mẫu thống kê Chọn mẫu phi thống kê Chọn mẫu thống kê có thể xác định được rủi Trong chọn mẫu phi thống kê, KTV không ro chọn mẫu trong giai đoạn lập kế hoạch về xác định được rủi ro chọn mẫu. Các phần tử mẫu và đánh giá kết quả thông qua việc vận được chọn vào mẫu là những phần tử là dụng các quy tắc toán học. những phần tử mà KTV cho rằng sẽ cung cấp thông tin tốt nhất cho tình huống nghiên cứu.
Kết luận về tổng thể sẽ được KTV đưa ra dựa trên cơ sở đã qua căn nhắc và phán xét.5 Các phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu 2.1 Chọn mẫu xác suất 2.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên Chọn mẫu ngẫu nhiên là một phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu theo nguyên tắc mỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu. 8 Trong chọn mẫu ngẫu nhiên không có sự phân biệt giữa các phần tử tổng thể nên chọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng khi các phần tử trong tổng thể được đánh giá là tương đối đồng đều về khả năng sai phạm, về quy mô… Tuy nhiên, mẫu được chọn ngẫu nhiên không nhất thiết sẽ là mẫu đại diện vì có khả năng mẫu chọn được không chứa những đặc tính giống như đặc tính của tổng thể. Chọn mẫu ngẫu nhiên có thể được thực hiện với việc sử dụng bảng số ngẫu nhiên hay theo chương trình máy tính.