Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật can thiệp ống ghép nội mạch trong điều trị phình động mạch chủ ngực

Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật can thiệp đặt ống ghép nội mạch trong điều trị phình động mạch chủ ngực, mang lại giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

172
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu ứng dụng trong điều trị bệnh phình động mạch chủ ngực

1.2. Động mạch chủ lên và quai động mạch chủ

1.3. Động mạch chủ xuống

1.4. Động mạch đường vào (động mạch chậu-đùi)

1.5. Bệnh phình động mạch chủ ngực

1.5.1. Định nghĩa và phân loại phình động mạch chủ ngực

1.5.2. Nguyên nhân gây bệnh phình động mạch chủ ngực

1.5.3. Diễn tiến tự nhiên của phình động mạch chủ ngực

1.5.4. Chẩn đoán phình động mạch chủ ngực

1.5.5. Các phương pháp điều trị phình động mạch chủ ngực

1.5.5.1. Điều trị nội khoa
1.5.5.2. Điều trị phẫu thuật
1.5.5.3. Can thiệp đặt ống ghép nội mạch điều trị phình động mạch chủ (TEVAR)
1.5.5.3.1. Lịch sử ra đời của TEVAR
1.5.5.3.2. Chỉ định can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch chủ ngực
1.5.5.3.3. Các điều kiện về giải phẫu học
1.5.5.3.4. Lên kế hoạch trước can thiệp và các vùng hạ đặt
1.5.5.3.5. Phẫu thuật chuyển vị các nhánh quai động mạch chủ
1.5.5.3.6. Các loại ống ghép nội mạch động mạch chủ
1.5.5.3.7. Kĩ thuật can thiệp nội mạch động mạch chủ ngực
1.5.5.3.8. Các loại rò nội mạch và cách xử lý
1.5.5.3.9. Các biến chứng của can thiệp nội mạch

1.5.6. Tình hình nghiên cứu hiện nay

1.5.6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.5.6.2. Tình hình tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chí loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.4.3. Qui trình phẫu thuật và can thiệp

2.4.3.1. Quy trình chuyển vị động mạch quai động mạch chủ
2.4.3.2. Quy trình đo đạc và lựa chọn ống ghép nội mạch
2.4.3.3. Quy trình can thiệp nội mạch

2.4.4. Các biến số nghiên cứu

2.4.5. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân TEVAR

2.4.6. Kết quả sau đặt ống ghép động mạch chủ ngực

2.4.7. Xử lý số liệu

2.4.8. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân TEVAR

3.2. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.3. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.4. Kết quả can thiệp nội mạch điều trị TAAs

3.5. Đặc điểm về phẫu thuật và can thiệp

3.6. Kết quả sau đặt ống ghép nội mạch động mạch chủ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân TEVAR

4.2. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

4.3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.4. Kết quả sau đặt ống ghép nội mạch điều trị TAAs

4.5. Đặc điểm phẫu thuật và can thiệp nội mạch

4.6. Đánh giá kết quả sau TEVAR

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phình động mạch chủ ngực

Phình động mạch chủ ngực (ĐMCN) là một tình trạng nghiêm trọng, được định nghĩa khi đường kính của ĐMCN lớn hơn 1,5 lần so với kích thước bình thường. Tình trạng này thường không có triệu chứng rõ ràng, dẫn đến việc phát hiện muộn qua các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như X-quang hoặc chụp cắt lớp vi tính. Theo thống kê, tỷ lệ tử vong do biến chứng của phình ĐMCN ở một số quốc gia phát triển có thể lên đến 2,4%. Việc điều trị phình ĐMCN chủ yếu trước đây là phẫu thuật thay đoạn phình bằng ống ghép nhân tạo, tuy nhiên, phương pháp này có tỷ lệ tử vong và biến chứng cao. Kỹ thuật can thiệp đặt ống ghép nội mạch (TEVAR) đã được phát triển và chứng minh có nhiều ưu điểm hơn, bao gồm tỷ lệ tử vong thấp hơn và thời gian hồi phục nhanh hơn.

1.1. Lịch sử phát triển của TEVAR

Kỹ thuật TEVAR lần đầu tiên được thực hiện thành công vào năm 1990 tại Argentina. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng TEVAR có thể giảm thiểu đáng kể tỷ lệ tử vong chu phẫu và thời gian nằm viện so với phẫu thuật mở truyền thống. Năm 1999, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã chính thức công nhận ống ghép nội mạch, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật này. TEVAR hiện nay đã trở thành phương pháp điều trị ưu tiên cho phình ĐMCN tại nhiều quốc gia trên thế giới.

II. Giải phẫu học liên quan đến phình động mạch chủ ngực

Động mạch chủ ngực là mạch máu lớn nhất trong cơ thể, có vai trò quan trọng trong hệ tuần hoàn. ĐMCN được chia thành nhiều đoạn, mỗi đoạn có đặc điểm và chức năng riêng. Việc hiểu rõ về giải phẫu của ĐMCN là rất cần thiết để thực hiện các can thiệp nội mạch hiệu quả. Đặc biệt, các nhánh động mạch nuôi não và các tạng khác có thể bị ảnh hưởng trong quá trình can thiệp, do đó cần phải có kế hoạch can thiệp cẩn thận để bảo tồn các nhánh này.

2.1. Các đoạn của động mạch chủ ngực

ĐMCN được chia thành bốn đoạn chính: gốc động mạch chủ, động mạch chủ lên, quai động mạch chủ và động mạch chủ xuống. Mỗi đoạn có kích thước và chức năng khác nhau, ảnh hưởng đến cách thức can thiệp. Đặc biệt, động mạch chủ xuống là đoạn thường gặp nhất trong các trường hợp phình động mạch. Việc nắm rõ kích thước và vị trí của các nhánh động mạch là rất quan trọng trong quá trình can thiệp nội mạch.

III. Kỹ thuật can thiệp đặt ống ghép nội mạch

Kỹ thuật can thiệp đặt ống ghép nội mạch (TEVAR) là một phương pháp điều trị tiên tiến cho phình động mạch chủ ngực. Kỹ thuật này cho phép đặt ống ghép qua một đường vào nhỏ, thường là động mạch đùi, giúp giảm thiểu tổn thương mô và thời gian hồi phục. TEVAR đã chứng minh được hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng so với phẫu thuật mở. Tuy nhiên, việc lựa chọn bệnh nhân và lên kế hoạch can thiệp là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất.

3.1. Quy trình thực hiện TEVAR

Quy trình thực hiện TEVAR bao gồm nhiều bước quan trọng, từ việc chuẩn bị bệnh nhân, lựa chọn ống ghép phù hợp đến việc thực hiện can thiệp. Các bác sĩ cần phải đánh giá kỹ lưỡng tình trạng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân trước khi tiến hành. Việc theo dõi sau can thiệp cũng rất quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra.

IV. Kết quả và đánh giá hiệu quả của TEVAR

Nghiên cứu cho thấy TEVAR có tỷ lệ thành công cao trong việc điều trị phình động mạch chủ ngực. Các kết quả sau can thiệp cho thấy bệnh nhân hồi phục nhanh chóng, thời gian nằm viện ngắn hơn và tỷ lệ biến chứng thấp. Tuy nhiên, vẫn cần có các nghiên cứu dài hạn để đánh giá hiệu quả bền vững của phương pháp này. Việc theo dõi và đánh giá kết quả sau can thiệp là cần thiết để cải thiện kỹ thuật và nâng cao chất lượng điều trị.

4.1. Đánh giá kết quả sau TEVAR

Kết quả sau TEVAR cho thấy tỷ lệ sống còn trung hạn cao, với nhiều bệnh nhân không gặp phải biến chứng nghiêm trọng. Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn có thể gặp phải các vấn đề như rò nội mạch hoặc tái phát phình động mạch. Việc theo dõi định kỳ và can thiệp kịp thời là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe lâu dài cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu ứng dụng trong điều trị bệnh phình động mạch chủ ngực Động mạch chủ ngực là động mạch chính của hệ tuần hoàn và là mạch máu lớn nhất trong cơ thể. Xuất phát từ tâm thất trái, ĐMCN chạy lên trên ngang mức đốt sống ngực số 4 thì vòng sang trái rồi quặt xuống dưới, đi dọc theo cột sống ngực, qua cơ hoành xuống ổ bụng và đổi tên thành động mạch chủ bụng. ĐMCN được chia thành 4 đoạn: gốc động mạch chủ (ĐMC), động mạch chủ lên, quai động mạch chủ và động mạch chủ ngực xuống.

Mỗi đoạn có liên quan, phân nhánh cũng như bệnh lý đặc trưng khác nhau. Thành động mạch chủ dày, rất đàn hồi và được nuôi dưỡng bởi các mạch nuôi mạch (vaso vasorum). Kích thước ĐMC của người Việt Nam qua phẫu tích tử thi có liên quan trực tiếp với chiều cao và cân nặng, với đường kính trung bình từ 1,2 cm tới 3 cm, gốc ĐMC có kích thước lớn nhất và nhỏ nhất là ĐMC bụng [7]. Động mạch chủ lên và quai động mạch chủ - Động mạch chủ lên: xuất phát từ khớp nối xoang ống đi lên trên hướng sang phải đến động mạch thân cánh tay đầu (tương ứng đốt sống ngực V).

Động mạch chủ lên nằm trong trung thất giữa và được màng ngoài tim bao bọc cùng với thân động mạch phổi. Ở người Việt Nam trên phim chụp cắt lóp vi tính (CLVT), động mạch chủ lên đường kính trung bình là 28 mm và là phần nằm ra trước của ĐMC [8]. Phần đầu của động mạch chủ lên nằm sau thân động mạch phổi, phía trước tiểu nhĩ trái. Phần cuối nằm trước động mạch phổi và phế quản chính phải.

Động mạch chủ lên không phân nhánh. - Quai động mạch chủ: nối tiếp với ĐMCN lên, quai ĐMC chạy sang trái và hướng ra sau tạo thành một cung lõm xuống dưới, ôm lấy phế quản chính trái. Quai ĐMC nằm ngang mức đốt sống ngực 4 và là phần ngắn nhất của ĐMC. Ở người Việt Nam, quai ĐMC có đường kính trung bình là 24 mm [8].

Mặt trước có dây thần kinh hoành trái, thần kinh lang thang trái và các 4 nhánh tim của thần kinh lang thang trái. Phía sau là khối khí quản và thực quản. Phía dưới liên quan với chỗ phân chia của thân động mạch phổi, có dây chằng động mạch là di tích của ống động mạch, phế quản chính trái và thần kinh quặt ngược thanh quản trái. Phía trên là các nhánh bên của quai ĐMC và trước các nhánh bên này là tĩnh mạch tay đầu trái.

+ Thông thường có 3 nhánh bên lớn xuất phát từ quai ĐMC là thân ĐM cánh tay đầu, động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái. Các nhánh bên này là nguồn cấp máu cho đầu mặt cổ và chi trên [9], [10]. Động mạch chủ lên và quai động mạch chủ * Nguồn: theo Kelley J. (2020) [10] + Các bất thường giải phẫu của quai ĐMC: có thể có những biến thể về mặt giải phẫu, do sự tăng lên hoặc giảm xuống số lượng các nhánh xuất phát từ quai ĐMC.

Theo các tác giả Bahman J. và cộng sự, các biến thể của quai ĐMC có thể được chia thành 4 loại như sau [11], [12.]: 5 • Loại A: quai ĐMC bình thường, với 3 nhánh là thân cánh tay đầu phải, động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái. Đây là loại thường gặp nhất, chiếm 84,9% các trường hợp quai ĐMC ở người bình thường. • Loại B: quai ĐMC dạng của bò, với 2 nhánh là thân cánh tay đầu và động mạch dưới đòn trái, động mạch cảnh chung trái có chung chỗ xuất phát với thân cánh tay đầu, chiếm 12,8% các trường hợp.

• Loại C: quai ĐMC có 4 nhánh là thân cánh tay đầu, động mạch cảnh chung trái, động mạch đốt sống trái và động mạch dưới đòn trái. Loại này chiếm 0,9% các trường hợp quai ĐMC ở người bình thường. • Loại D: động mạch dưới đòn phải xuất phát từ ĐMC ngực xuống, đi sau khối khí thực quản và vòng sang phải, chiếm 1,8% các trường hợp. Loại A Loại B Loại C Loại D Hình 1.

Bất thường giải phẫu của quai động mạch chủ * Nguồn: theo Julia D. và cộng sự (2015) [12. Động mạch chủ xuống Tiếp tục với quai động mạch chủ từ sườn trái D4 đến lỗ cơ hoành, lúc đầu ĐMC ở bên trái thực quản đi xuống dưới, chếch vào trong và bắt chéo sau thực quản ở gần lỗ cơ hoành. 6 - ĐMC xuống chia ra các nhánh sau: ĐM phế quản, các ĐM trung thất rất nhỏ đi vào màng phổi nuôi màng tim, các nhánh thực quản và ĐM gian sườn sau dưới (9 hoặc 10 nhánh) [9].

Ở người Việt Nam, đường kính trung bình ĐMC ngực xuống là 22 mm [8]. Phía trước ĐMC ngực xuống liên quan với cuống phổi trái và thực quản, phía sau liên quan với cột sống ngực, bên phải liên quan với ống ngực và tĩnh mạch đơn, bên trái liên quan với tĩnh mạch bán đơn và tĩnh mạch bán đơn phụ. - Các động mạch Adamkiewicz: tủy sống nhận máu nuôi từ 3 nguồn chính: động mạch tủy trước cấp máu 2/3 trước tủy và 2 động mạch tủy sau cung cấp máu cho phần còn lại. + Động mạch Adamkiewicz là động mạch rễ tủy trước lớn chiếm ưu thế nhất và tưới máu chính cho tủy sống từ vùng T8 đến chóp tủy [13].

Vị trí xuất phát của các ĐM này thay đổi khá nhiều, trải dài từ vùng giữa ngực đến vùng thắt lưng: Từ các động mạch liên sườn T3 đến T12 và L1 đến L4. Thông thường, động mạch Adamkiewicz xuất phát từ lỗ T8 và L1 từ các động mạch liên sườn trái. Đường kính trung bình của động mạch Adamkiewicz từ 0,8 - 1,3 mm. Nhận diện các động mạch Adamkiewicz và bảo tồn hoặc tái tạo lại các động mạch này khi cần thiết có thể giúp giảm tỉ lệ tai biến mạch máu tủy và cải thiện kết quả phẫu thuật động mạch chủ ngực - bụng cũng như can thiệp đặt ống ghép nội mạch điều trị phình động mạch chủ ngực (TEVAR).

+ Trong nghiên cứu gộp về các biến thể của động mạch Adamkiewicz, Dominik T. và cộng sự báo cáo kết quả như sau [14]: Các ĐM Adamkiewicz xuất phát từ bên trái là 76,6% và 23,4% xuất phát từ bên phải. Động mạch Adamkiewicz xuất phát ở ngang mức T8 - L1 là 89%, trong đó vị trí thường gặp nhất là ngang mức T9 (22,2%), sau đó là T10 (21,7%) và T11 (18,7%). 7 Động mạch Adamkiewicz Hình 1.

Động mạch Adamkiewicz * Nguồn: theo Dominik T. và cộng sự (2019) [14] 1. Động mạch đường vào (động mạch chậu-đùi): Động mạch chủ bụng đi bên trái cột sống, đến đốt sống thắt lưng 4-5 chi ra thành hai ĐM chậu gốc trái và phải, góc chia từ 68-80 độ. Từ chỗ phân chia, ĐM chậu chung chạy xuống dưới và sang bên một đoạn dài 5-6cm thì chia thành hai động mạch chậu ngoài và trong.

Đường kính trung bình của ĐM chậu chung phải là 0,89cm và trái là 0,83cm qua phân tích trên giải phẫu tử thi [15]. ĐM chậu trong chia các nhánh cấp máu cho các tạng vùng chậu góp phần tạo nên tuần hoàn bàng hệ trong những trường hợp bệnh lý. ĐM chậu ngoài chạy tiếp theo ĐM chậu chung, xuyên qua vùng tiểu khung theo hướng từ sau ra trước, đến phía sau điểm giữa dây chằng bẹn thì đổi tên thành ĐM đùi chung. Đường kính ĐM chậu ngoài trung bình là 0.

ĐM đùi chung chạy tiếp ĐM chậu ngoài, đi theo một cung thẳng cong vào phía trong của đầu dưới xương đùi, ĐM nằm giữa, thần kinh đùi nằm ngoài và tĩnh mạch đùi nằm trong. Đến khoảng 4cm dưới dây chằng bẹn thì chia thành hai ĐM đùi nông và đùi sâu. Đường kính trung bình ĐM đùi chung khoảng 0. ĐM đùi chung sát dưới da, kích thước lòng mạch lớn nên dễ tiến hành chọc kim trong can thiệp nội mạch, đường tiếp cận với tổn thương ngắn, ngoài ra ĐM đùi được bao quanh bởi hệ thống cân cơ rất chắc 8 (dây chằng bẹn) đóng vai trò như một băng ép cầm máu trong quá trình tiến hành thủ thuật và sau can thiệp.4: Động mạch chậu-đùi.

* Nguồn: theo Frank H. Bệnh phình động mạch chủ ngực 1. Định nghĩa và phân loại phình động mạch chủ ngực Phình ĐMCN được xác định khi đường kính động mạch chủ ngực tại vị trí có phình đo được trên phim cắt lớp vi tính lớn hơn 1,5 lần đoạn động mạch chủ ngực bình thường [17]. Kích thước ĐMCN thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ tuổi, giới tính, chủng tộc….

Bệnh thường gặp ở nam nhiều hơn nữ với tỉ lệ hiện mắc ở nam là 1,3 - 8,9% và ở nữ là 1,0 - 2,2%. Theo Hội Tim mạch học Việt Nam đường kính trung bình ĐMC là 14 - 30 mm, khác nhau ở từng đoạn ĐMC ngực: 9 Bảng 1. Đường kính các đoạn của động mạch chủ ngực Đoạn ĐMC ngực Nam (mm) Nữ (mm) Xoang ĐMC 36 - 39 35 - 37 ĐMC lên 28,5 28,5 Đoạn giữa ĐMC xuống 24 - 30 24,5 - 26,5 Đoạn ngay cơ hoành 24 - 27 24 - 24,5 * Nguồn: theo Hội Tim mạch học Việt Nam (2020) [18]. - Theo vị trí giải phẫu, phình ĐMC ngực được chia thành các dạng như sau [19]: + Phình ĐMC ngực lên: Phình gốc, phình trên lỗ vành và phình dạng ống.

+ Phình quai ĐMC: đơn thuần, liên quan đoạn xa ĐMC ngực lên hoặc đoạn gần ĐMC ngực xuống. Phình quai động mạch chủ * Nguồn: theo Oderich G. và cộng sự (2017) [19] + Phình ĐMC ngực đoạn xuống: Loại A: từ sau ĐM dưới đòn trái đến T6. Loại B: từ T6 đến lỗ cơ hoành.

Loại C: từ trên T6 hoặc sau ĐM dưới đòn trái đến lỗ cơ hoành. Phình động mạch chủ ngực đoạn xuống *Nguồn: theo Oderich G. và cộng sự (2017) [19] - Theo hình thái, phình ĐMC ngực được phân chia thành 2 loại: + Phình dạng túi: mặt bên của ĐMC phồng lên và không đối xứng. + Phình dạng hình thoi: dãn to bất thường một đoạn dài và lên quan đến toàn bộ chu vi của thành ĐMC.

Các hình dạng túi phình động mạch chủ ngực * Nguồn: theo Kathirvel S. và cộng sự (2011) [20] 1. Nguyên nhân gây bệnh phình động mạch chủ ngực (TAAs): Theo y văn, bệnh sinh TAAs là do thoái hóa, nhiễm khuẩn hoặc di truyền. Thoái hóa thường xảy ra ở bệnh nhân xơ vữa động mạch.

Nhiễm 11 khuẩn ở ĐMC thường gây ra phình ĐMC do đáp ứng miễn dịch toàn thân. Do di truyền là biểu hiện của những bệnh mô liên kết di truyền như hội chứng Marfan, hội chứng Loey - Dietz, hội chứng Ehlers - Danlos.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật can thiệp ống ghép nội mạch trong điều trị phình động mạch chủ ngực" của tác giả Lâm Triều Phát, dưới sự hướng dẫn của Trần Quyết Tiến và Nguyễn Trường Giang tại Học viện Quân y, tập trung vào việc áp dụng kỹ thuật can thiệp ống ghép nội mạch để điều trị phình động mạch chủ ngực. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị hiện đại mà còn mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh lý này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về kỹ thuật can thiệp, lợi ích của nó trong điều trị, cũng như các khía cạnh lâm sàng liên quan.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ về công tác xã hội với trẻ vị thành niên điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương", nơi nghiên cứu về sự hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ y học: Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode" cũng mang lại cái nhìn về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chẩn đoán hiện đại trong lĩnh vực ngoại khoa. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích trong lĩnh vực y học.