chương 1, điều 2 của Nghị định số 82/ND-CP, ký ngày 19/5/2003 về Quy định công chức nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, theo đó “Công chức của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là công dân Lào được biên chế va được bô nhiệm làm việc thường trực tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức quần chúng cấp trung ương, cấp địa phương và các cơ quan đại diện của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở nước ngoài, được nhận lương, các khoản trợ cấp từ ngân sách của Nhà nước”. Quan niệm răng “Cán bộ là công chức” hoặc “Cán bộ là người phục vụ tô quốc, phục vụ nhân dân, là người đưa đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân thực hiện, đồng thời báo cáo phản ánh tình hình cơ sở cho Đảng, Chính phủ dé đề ra đường lối chính sách cho đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế” không cho phép chỉ rõ được trong SỐ các công chức, đối tượng nào mới được coi là cán bộ. Nhìn chung, can bộ không chỉ bao hàm công chức, mà còn cả những người làm việc thường trực tại các cơ quan tô chức trong hệ thống chính trị được nhận lương, LITTAPHONE PHOUMMAKEO LUẬN VĂN THẠC SĨ 13 phụ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước. Do vậy, cho dù tại điều 3 Sắc lệnh số 82/TTg nói rõ công chức không bao gồm các loại cán bộ: Cán bộ lãnh đạo cấp cao (tính từ cấp Thứ trưởng và tương đương), bộ đội, công an, cán bộ doanh nghiệp và cán bộ làm theo hợp đồng.
Loại cán bộ này, Chính phủ đã có quy định riêng. Tuy nhiên, Sắc lệnh trên cũng chỉ rõ: Công chức cũng là cán bộ vì khi nói tới việc biên chế vào các cấp quy định được ghi tại điều 6 đã giải thích: - Cong chức được biên chế cấp bác loại I và II gọi là: Can bộ giúp việc hành chính. - Công chức được biên chế cấp bac loại LH, IV và V gọi là: Can bộ chuyên môn. Cán bộ chuyên môn đạt được tại mỗi cấp sẽ được chia thành 3 mức, thể hiện phẩm chat đạo đức, giáo duc và thâm niên công tác: + Người được biên chế bậc 1 đến bậc 5, gọi là Can bộ chuyên môn cấp II, hoặc cấp IV hoặc cấp V mức 1.
+ Người được biên chế bậc 6 đến bậc 10, gọi là Cán bộ chuyên môn cấp III, hoặc cấp IV hoặc cấp V mức 2. + Người được biên chế bậc 11 đến bậc 15, gọi là Can bộ chuyên môn caplll, hodc cap IV hoặc cap V mức 3 hoặc chuyên viên. Như vậy, Cán bộ là những người bao gồm can bộ cấp cao, bộ đội, công an, cán bộ làm theo hợp đồng, công chức, cán bộ doanh nghiệp. Nhưng ở trong xã hội chúng ta, cho tới hiện nay, cũng có cách hiểu thông thường “Cán bộ” là để phân biệt những người làm việc thường trực tại các cơ quan tổ chức trong hệ thống chính trị được nhận lương, phụ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước, từ các t6 chức quần chúng, doanh nghiệp nằm trong hệ thống chính trị với người dân nói chung.
Từ các vấn đề nêu trên, chúng ta có thé khang dinh rang: “Can bộ là một tiêu chuân dùng dé chi tat cả những người làm việc tại các cơ quan tổ chức của Đảng và Nhà nước, các tô chức quần chúng, lực lượng vũ trang mà đạt được các cấp bậc, chức vụ trong bộ máy tô chức, bao gồm những người có vị trí chức vụ và những người làm chuyên môn không có chức vụ”.2 Khai niệm quản lý cán bộ, công chức Chúng ta biết, quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thể có quyền lực tác động vào đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý sử dụng tài nguyên con người, vật chất, LITTAPHONE PHOUMMAKEO LUẬN VĂN THẠC SĨ 14 ngân sách và các thông tin tin tức dé đạt được mục đích nào đó mà t6 chức đề ra, trong đó có các bộ phận: kế hoạch, xác định bộ máy, bổ sung cán bộ, chỉ đạo quản lý, kiểm tra đánh giá và đúc rút kinh nghiệm. Nghĩa là xác định mục đích, đối tượng va hướng hoạt động đúng đắn nhăm đạt được mục tiêu đã đề ra. Việc quản lý khi nào cũng phải thể hiện về mặt nguyên tắc và lý tưởng giai cấp một cách chặt chẽ, dứt khoát, có phán quyết, dám làm, dám hành động và dám chịu trách nhiệm.
Khi các hoạt động quản lý phù hợp với quy luật khách quan của đối tượng quản lý thì được coi rằng việc quản lý đã làm là đúng, mục đích quản lý đã đạt được và hiệu quả quản lý cao. Theo cách nói của những nước đã có bé dày lịch sử về xây dựng chế độ công chức và nền công vụ thì quản lý công chức chính là “sự tự quản lý của chính phủ”, trong quá trình củng cố, xây dựng hệ thống hành chính nhà nước. Đó là hoạt động mà thông qua các nội dung, biện pháp “dùng người” thu hút và lựa chọn được những con người ưu tú, nhiều nhân tài, đào thải, loại bỏ những công chức không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nâng cao trình độ, phẩm chất của đội ngũ công chức. Trên cơ sở đó, bảo đảm cho công tác điều hành, chỉ đạo triển khai của Chính phủ đạt được kết quả tốt.
Dé thực thi có hiệu quả công tác quản lý công chức, có nhiều công việc và hoạt động cần phải triển khai. Song có ba van đề lớn, rất cơ bản cần phải được thực hiện mới bảo đảm cho công tác quản lý công chức có tính toàn diện, bao gồm: các nội dung quản ly cán bộ, công chức cần phải đây đủ và phù hợp; tổ chức bộ máy quản lý cán bộ, công chức phải được thiết lập và hoạt động có hiệu quả; việc đánh giá cán bộ, công chức phải được thực hiện đúng quy định và có hiệu quả. Về nội dung quản lý cán bộ, công chức cần phải ban hành đầy đủ các quy định về quản lý cán bộ, công chức về các mặt phân cấp quản lý cán bộ, công chức; tiêu chuẩn cán bộ, công chức; tuyên dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; chế độ tiền lương và các chính sách đãi ngộ. Thêm vào đó, cần có kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, công chức một cách toàn diện và khả thi; thực hiện việc thống kê cán bộ, công chức và thanh tra, kiểm tra, thi hành các quy định về cán bộ, công chức.
Về tổ chức, bộ máy quản lý công chức cần xác định cơ quan quản lý cán bộ, công chức; phân cấp quản lý cán bộ, công chức một cách phù hợp. Đôi với công tác đánh giá cán bộ, công chức LITTAPHONE PHOUMMAKEO LUẬN VĂN THẠC SĨ 15 cần phải được tiễn hành thường xuyên, liên tục, đúng quy định và đánh giá một cách dân chủ, khách quan. Quản lý cán bộ, công chức là một hoạt động rất rộng. Đó là sự quản lý của nhà nước đối với những người làm việc cho nhà nước dé thực hiện các chức năng của nhà nước.
Trên phương diện lao động, có thé xem nhà nước là một chủ sử dụng lao động và cán bộ, công chức là người lao động, như vậy, nhà nước sẽ quản lý cán bộ, công chức như chủ sử dung lao động quản lý người lao động. Trên phương diện tô chức quản lý nhà nước, nhà nước quản lý cán bộ, công chức bằng nhiều phương tiện khác nhau, từ cơ chế, chính sách, pháp luật đến việc bố trí công việc cho cán bộ, công chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng như tô chức bộ máy của mình để quản lý cán bộ, công chức. Quản lý cán bộ, công chức là hoạt động của nhà nước mà đại diện là các cơ quan, cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện việc tác động đến đối tượng quan lý là cán bộ, công chức dé thực hiện mục đích quan lý là tuyên dung, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của nhà nước. Hoạt động này bao gồm các lĩnh vực: tạo thể chế pháp lý cho hoạt động quản lý cán bộ, công chức; xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũcán bộ, công chức; tô chức thực hiện các quy định quản lý cán bộ, công chức; và sử dụng các kỹ năng quản lý dé thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức.
Nói một cách chung nhất, đây là các công việc, cách thức, biện pháp quản lý cán bộ, công chức của nhà nước vừa ở dạng thức trừu tượng (các quy phạm) vừa ở dạng thức cụ thé (thực hiện trên thực tế). Khái niệm pháp luật quản lý cắn bộ công chức Pháp luật quản lý cán bộ, công chức là hệ thống các quy phạm, bao quát toàn bộ các công việc, cách thức, biện pháp quản lý cán bộ, công chức nhưng dưới dạng thức trừu tượng. Đó là những văn bản pháp luật chứa đựng quan điểm chính trị, tư tưởng chỉ đạo của Nhà nước về cán bộ, công chức như luật công chức, điều lệ, quy chế công chức, các chính sách, chế độ về tiêu chuẩn, tuyên chọn, đào tạo, đánh giá, đãi ngộ, kiểm soát công chức. Như vậy, pháp luật quản lý cán bộ, công chức chính là một bộ phận của hoạt động quản lý cán bộ, công chức của nhà nước.
Nhiệm vụ của pháp luật quản lý cán bộ, công chức là phải làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quản lý cán bộ, công chức. LITTAPHONE PHOUMMAKEO LUẬN VĂN THẠC SĨ 16 Vương quốc Anh là nước ra đời rất sớm chế độ công chức nhưng việc xây dựng và ban hành văn bản pháp luật về công chức cũng phải trải qua chặng đường dài hàng trăm năm [15, trang 8-12]. Lúc đầu, ở Anh, văn bản pháp quy về quản ly công chức chủ yếu do Chính phủ ban hành, bao gồm: lệnh của Viện cơ mật, các văn bản quy định khác của Bộ Tài chính và một số cơ quan khác của Chính phủ. Tuy nhiên, giá trị các văn bản này chỉ có hiệu lực đối với công chức, tòa án không buộc phải tuân theo các văn bản này khi xét xử.
Sau đó, ké từ cuộc cải cách năm 1968, các văn ban pháp lý điều chỉnh về công chức được hoàn chỉnh theo hướng là văn bản của Quốc hội như sự ra đời của các luật: Luật tiền lương bình đăng: Luật giữ bí mật ra đời năm 1970, sửa đôi năm 1972; Luật tăng tiền lương hưu năm 1971, Luật bảo đảm về nghề năm 1978. Đến lúc này, không chỉ công chức phải tuân theo pháp luật về công chức này mà cả tòa án khi xét xử các tranh chấp liên quan đến công chức cũng phải tuân theo các quy định này.