Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Ở nước ngoài Theo tác giả Nguyễn Xuân Linh, Phong lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông (Trung Quốc) do Khổng Tử phát hiện ra vào khoảng năm 551- 479 trước công nguyên. Nhưng khi đó Lan chỉ được chú ý đến vẻ đẹp của lá và hương thơm của hoa, chứ màu sắc của hoa chưa được chú ý do quan niệm thẩm mỹ thời ấy là chuộng tao nhã chứ không thích phô trương sặc sỡ. Cây Lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến Lan (tìm thấy đầu tiên ở Phúc Kiến - Trung Quốc), đó là Cymbidium ensifolium là một loài bán địa Lan [14].
Tác giả Lê Văn Chương cho biết ở Phương tây, mặc dù được biết đến sau nhưng Lan được chú ý trước hết là công dụng về dược liệu của nó, sau đó là vẻ đẹp của hoa cùng với các đặc tính về thực vật mà sự khảo sát rất có hệ thống [2]. Theophrastus được xem là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là người đầu tiên mở ra ngành học về Lan. Ông đã dùng chữ Orkis là chữ Hy lạp để chỉ những cây Lan thường có hai củ tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải. Sau đó, chữ Orchis đã dược Dioscorides dùng để mô tả hai loài địa Lan trong quyển sách về dược liệu của ông và được Linnaeus ghi lại trong quyển “Các loài cây cỏ” vào năm 1753; Năm 1836 John Lindley đã sử dụng từ Orchidaceae để đặt tên cho họ Lan và đặt nền tảng hiện đại cho môn học về Lan [22].
Theo Bùi Xuân Đáng thì từ năm 1510 người Châu Âu mới thực sự biết đến hoa Lan qua những trái Vanilla dùng làm hương thơm cho bánh kẹo, sau đó đến các loài Hạc Đính rồi Kiếm lan… Hoa Lan chính thức gia nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới khoảng 400 năm nay và ngày càng được ưa chuộng trên thế giới [8]. Từ năm 1731 các nhà khoa học và các nhà thảo mộc ở Châu Âu và Châu Mỹ mới bắt đầu nghiên cứu về Lan; họ tìm cách phân loại theo các tiêu chuẩn: 4 điều kiện tăng trưởng, sự sinh sản, và hình dáng của các loài Lan. Đã có nhiều hệ thống phân loại đã được đưa ra: hệ thống phân loại của Lindley (1836) đã chia họ Lan ra làm 7 tông, còn George Bentham (1881) chia họ Lan ra 5 tông,. đa số đều dựa trên những tiêu chuẩn cơ bản như đặc điểm, cấu trúc của hoa, số lượng và bản chất của phấn khối.
Sự đánh giá các tiêu chuẩn ấy vẫn còn mang tính chủ quan của tác giả nên các hệ thống phân loại này vẫn chưa phản ánh đúng tiến trình tiến hóa trong tự nhiên của các loài Lan [22]. Từ khi Lan được nuôi trồng thì yêu cầu nhân giống Lan cũng xuất hiện theo. Tác giả Nguyễn Thiện Tịch cho biết bí mật của việc nảy mầm của hạt Lan đã được tìm ra vào năm 1899, khi Noel Bernard khảo sát các hạt Neottia nidus- avis nảy mầm tự nhiên trong rừng vùng Fontainebleau (Pháp). Ông thấy các cây Lan con đều nhiễm nấm.
Năm 1904 Noel Bernard mới thành công trong việc phân lập các nấm từ rễ Lan rồi cho nhiễm vào các hạt Lan. Bằng cách này, Noel Bernard là người đầu tiên làm cho 100% hạt Lan nảy mầm. Sau đó Noel Bernard và Burgeff đã hình thành phương pháp gieo hạt Lan có nhiễm nấm trong chai thạch (phương pháp gieo hạt cộng sinh). Năm 1922, Knudson đã nhận thấy vai trò của nấm với hạt Lan là sự cung cấp đường và đã thành công trong việc thay thế nấm bằng đường ở môi trường thạch để gieo hạt (phương pháp gieo hạt không cộng sinh) [22].
Theo Bùi Xuân Đáng, giáo sư Georges Morel (1960) người Pháp đã phát minh ra phương pháp Meristem (Phương pháp nuôi cấy mô phân sinh), tức là cắt mầm hay rễ Lan thành mảnh nhỏ rồi cho vào trong một dung dịch đặc biệt, sử dụng máy để lắc đều. Vài tuần sau, từ mảnh Lan này sẽ phát triển thành những cây Lan nhỏ có thể đem đi trồng. Phương pháp này đã khắc phục được những khó khăn của cách gieo Lan bằng hạt do đặc điểm hạt Lan nhỏ và quá trình xử lý nảy mầm cũng rất phức tạp [8]. Judy White (1996), trong cuốn Taylor’s Guides to Orchids đã giới thiệu một số loài Lan phổ biến trồng ở gia đình như: Cattleya, Cymbidium, Dendrobium, Phalaenopsis, Vanda, Oncidium,.
Không chỉ giới thiệu về điều 5 kiện sống, yêu cầu nhiệt độ và ánh sáng để cây sinh trưởng phát triển mà trong đó tác giả còn miêu tả những nét đặc trưng của một số loài Lan. Cuốn sách như là một cẩm nang cho những ai yêu thích việc trồng Lan [28]. Bill Lavarack và cộng sự (2000), trong cuốn Dendrobium and its relatives đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về một số loài trong chi Dendrobium; tác giả đã trình bày từ vấn đề phân loại và danh pháp, đặc điểm phân bố và nguồn gốc của một số loài trong chi Dendrobium. Bên cạnh đó, tác giả còn mô tả đặc điểm sinh học và sinh thái học của hơn 400 loài, vấn đề nuôi trồng và lai giống của các loài này.
Qua cuốn sách này, tác giả cũng đã giúp cho những người yêu Lan biết được môi trường sống và cách thức trồng, chăm sóc một số loài trong chi Dendrobium nhằm đạt được hiệu quả cao nhất [27]. Trong cuốn Orchid grower’s companion: cultivation, propagation, and varieties của David P. Banks (2005) đã cung cấp cho những hiểu biết cơ bản về họ Lan: cấu tạo của cây, lịch sử nuôi trồng, sự phân bố của chúng,. Cuốn sách cũng cung cấp những kỹ năng cơ bản trong việc nuôi trồng, chăm sóc hoa Lan.
Qua đó giúp chúng ta biết được nhu cầu nhiệt độ, độ ẩm, chế độ phân bón, cách thức nhân giống và một số bệnh hại Lan thường gặp. Cuốn sách này cũng giới thiệu đặc điểm của một số loài thuộc các chi: Bulbophylium, Cattleya, Coelogyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedium, Phalaenopsis, Vanda,. Qua đó đã giúp người đọc nhận biết được một số loài Lan thường gặp [26]. Ở Việt Nam Phong lan thuộc ngành Ngọc Lan (Mangnoliophyta), lớp Hành (Liliopsida), Phân lớp Hành (Lilidae), Bộ Lan (Orchidales), Họ Lan (Orchidaceae) [1].
Việc phát hiện, thuần hóa và gây trồng hoa Lan đã có một lịch sử lâu dài so với các loài cây thực phẩm. Từ đời nhà Trần, vua Trần Anh Tông là người chơi Phong lan nổi tiếng đã xây dựng vườn “Ngũ bách Lan viên” gây trồng tới 500 loài Lan khác nhau [16]. Nhưng đó mới chỉ đơn thuần là sưu tập để thưởng ngoạn chứ chưa đi sâu mô tả nghiên cứu về loài hoa này. 6 Theo Bùi Xuân Đáng, việc tìm kiếm Lan rừng của Việt Nam chúng ta trước kia không thấy sách vở nào ghi chép, nhưng những người nước ngoài đến Việt Nam sưu tầm hoa Lan đều viết sách hoặc có tường trình công việc của mình.
Người đầu tiên khảo sát Lan ở Việt Nam là một nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, Joannis de Loureiro đã đến Nam Kỳ vào năm 1743. Ông đã xuất bản cuốn Cây cỏ tại Nam Kỳ vào năm 1790. Trong tài liệu này có ghi lại những loại Lan Aerides (Giáng Hương) và Thrixspermum (Mao tử) [7]. Theo Nguyễn Thiện Tịch thì F.Gullanmin đã mô tả 101 giống gồm 750 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H.
Lecomte chủ biên ở quyển 6, xuất bản năm 1932 - 1934. Một số tác giả khác cũng đề cập đến Lan Việt Nam như Schmid, Tixer và Gunna Seidenfaden (1975) [22]. Tác giả Bùi Xuân Đáng cũng cho biết, năm 1992 giáo sư Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã cho phát hành cuốn Hoa Lan tại Đông Dương bao gồm 200 giống với 2000 loài, trong đó có 136 giống và 720 loài của Việt Nam. Giáo sư Seidenfaden ghi rõ sách vở tra cứu, hình vẽ, tuy nhiên còn có nhiều cây không được mô tả rõ ràng do vấn đề ngôn ngữ [7].
Cũng theo Nguyễn Thiện Tịch, năm 1972 giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong cuốn “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” có mô tả 289 giống Lan ở Việt Nam ở quyển II về đặc điểm hình thái lá, hoa, thân, rễ và nơi phân bố của chúng. Năm 1993, giáo sư Phạm Hoàng Hộ tái bản lại bộ Cây cỏ Việt Nam, đã bổ sung thêm 364 loài Lan nâng tổng số Lan có ở Việt Nam lên 653 loài [22]; trong bộ sách này, số loài tuy được mô tả ít hơn nhưng không khác nhiều so với mô tả của Gunnar Seidenfaden. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ có ghi rõ tên khoa học, tên tiếng Việt, địa điểm tìm thấy Lan và đã mô tả về cây, về hoa, kèm theo hình vẽ và giải thích để giúp người đọc hình dung ra được cây Lan [7]. Đặc biệt trong tác phẩm “Phong lan Việt Nam” của TS.
Trần Hợp đã miêu tả và phân loại chi tiết được 800 loài thuộc 138 chi [10]. Họ Lan đang ngày càng 7 gây được sự chú ý của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước vì thế mà nhiều giá trị quý của họ Lan đang ngày càng được phát hiện không những về khoa học mà còn có giá trị kinh tế. Tài liệu được công bố gần đây theo bảng trích yếu cập nhật hoá về các loài Phong lan của chuyên gia cao cấp về hoa Lan của thế giới Leonid Averyanov và Anna L. Averyanov (2003) ở Việt Nam hiện đã biết 897 loài, 152 chi.
Đặc biệt trong tác phẩm Lan Hài Việt Nam (2004) của Leonid Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp đã có mô tả chi tiết 22 loài Lan thuộc chi Lan Hài (Paphiopedilum). Đây là nhóm thực vật thuộc nhóm IA trong sách đỏ Việt Nam chúng đều là các loài quý hiếm nhiều loài đặc hữu đang có nguy cơ cao bị tuyệt chủng ở mức độ cao [11]. Trong cuốn “Đa dạng thực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pan” (1998) của GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời đã có số liệu thống kê được 110 loài Lan thuộc 42 chi có phân bố trên dãy Hoàng Liên [19]. Ngoài những công trình nghiên cứu về tính đa dạng và đặc điểm phân bố của hệ Lan ở Việt Nam, cũng có những tác giả đi vào nghiên cứu kỹ thuật trồng những loài Lan phổ biến, có giá trị kinh tế.
Cuốn “Hoa Lan- nuôi trồng và Kinh doanh” của Phan Thúc Huân (2005) đã giới thiệu về lịch sử nghề trồng Lan, các giống Lan phổ biến ở Đông Nam Á. Tác giả cũng trình bày đặc điểm hình thái, phân loại, quá trình sinh trưởng và yêu cầu sinh thái, kỹ thuật nhân giống và chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho một số loài Phong lan ở Việt Nam [12].