ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm virus B gây viêm gan (Hepatitis B Virus = HBV) vẫn còn là một vấn đề sức khỏe toàn cầu. Theo tổ chức y tế thế giới(WHO) hiện nay, trên thế giới ước tính có trên 2 tỷ người đã từng hay đang bị nhiễm VGB, khoảng 400 triệu người mang VGB mạn tính, trong đó 75% là người châu Á [63]. Hàng năm, có gần 1 triệu người chết do những bệnh lý liên quan đến nhiễm VGB như xơ gan, ung thư gan… VGB có tốc độ lây nhiễm gấp 100 lần so với HIV, VGB cũng là một yếu tố gây ung thư đứng hàng thứ 2 sau thuốc lá, là nguyên nhân gây ra 60-80% trường hợp ung thư gan nguyên phát và 50% trường hợp xơ gan [28]. Vì thế, mặc dù chương trình tiêm chủng phòng VGB đã được triển khai rộng rãi trong thời gian qua và cũng đã có hiệu quả giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm VGB cấp ở nhiều nước, nhưng nhiễm VGB cho đến nay vẫn còn là một nguyên nhân quan trọng gây mắc bệnh và tử vong [41].
Việt Nam là một nước có tỷ lệ lưu hành VGB cao trên thế giới, theo nhiều nghiên cứu, tỷ lệ VGB trong quần thể thay đổi từ 7-15%, thậm chí có nơi tỷ lệ này khoảng 20% [21],[22],[18]. Như chúng ta biết, máu rất quan trọng và cần thiết cho sự sống, nhờ có máu nhiều bệnh nhân đã được cứu sống. Tuy nhiên, truyền máu lại là con dao hai lưỡi, vì vừa cứu sống bệnh nhân, lại vừa có thể gây nên những phản ứng, những tai biến không mong muốn, như các phản ứng miễn dịch, truyền tác nhân lây bệnh cho người bệnh. Viện Huyết học – Truyền máu TW với đặc thù công việc là nhận nguồn máu từ người HM, qua quá trình sàng lọc các bệnh lây nhiễm và khẳng định máu không nhiễm các bệnh lây qua đường truyền máu thì máu mới được truyền lại cho bệnh nhân.
Theo quy định của Bộ y tế, tất cả các đơn vị máu trước khi truyền cho người bệnh, phải được sàng lọc 5 tác nhân gây bệnh là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), vi rút gây viêm gan B (HBV), vi rút gây viêm gan C (HCV), giang mai và sốt rét [10]. Tuy nhiên, các tác nhân gây bệnh qua đường truyền máu, hầu hết đều có “giai đoạn cửa sổ”, đó là giai đoạn mà người bị nhiễm bệnh sẽ không phát hiện được bằng các xét nghiệm hiện tại. Đối với VGB, với các kỹ thuật hiện tại 1 “giai đoạn cửa sổ” còn kéo dài từ 1 đến 6 tuần nên vẫn còn khả năng tiềm ẩn nguy cơ lây bệnh cho người nhận máu, đe dọa an toàn sức khỏe người nhận [34],[44]. Có thể thấy để có một đơn vị máu an toàn thì không chỉ dựa vào các xét nghiệm sàng lọc mà vai trò của người hiến máu là tối quan trọng để loại trừ “giai đoạn cửa sổ”, nếu họ có kiến thức tốt, thái độ tích cực và biện pháp phòng bệnh tốt thì sẽ làm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường máu như VGB [10],[17].
Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành phòng VGB ở người HM và đặc biệt khi phỏng vấn nhanh khoảng 20% trường hợp có HbsAg (+) thì hầu như tất cả đều bất ngờ khi biết mình bị nhiễm VGB, số còn lại cho rằng mình đã có nghi ngờ những vẫn muốn hiến máu. Vì những lý do trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng viêm gan B ở người hiến máu khu vực Hà Nội của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương năm 2014”. 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh viêm gan B ở những người hiến máu khu vực Hà Nội của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương năm 2014.
Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh viêm gan B ở những người hiến máu trên. 3 Chƣơng I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học viêm gan B 1. Lịch sử phát hiện viêm gan B Bệnh viêm gan B có từ thời Hyppocrates nhưng vụ dịch xảy ra đầu tiên được phát hiện vào năm 1885 do Luman ghi chép được.
Tương tự là vụ dịch năm 1942 xảy ra ở Mỹ, 62 người trong số 28 ngàn người bệnh đã tử vong. Năm 1947, Mac Callum dùng thuật ngữ “Hepatitis A” và “Hepatitis B” để chỉ viêm gan nhiễm trùng, viêm gan huyết thanh và được hội nghị vi rút viêm gan của WHO chấp nhận [62]. Năm 1963, Babuch Blumberg trong lúc tìm kiếm kháng nguyên mới cho định loại biểu mô đã tìm ra trong máu người ưa chảy máu của người Úc bản địa một kháng nguyên và đặt tên là kháng nguyên Au (Australian antigen). Năm 1967, được xác nhận kháng nguyên Au là kháng nguyên bề mặt của HBV ký hiệu là HBsAg (hepatitis B surface antigen).
Năm 1970, Dane phát hiện ra tiểu thể Dane trong máu của người có HBsAg(+) và chính tiểu thể Dane là một virion HBV hoàn chỉnh; tiểu thể Dane có kháng nguyên nhân của HBV ký hiệu là HBcAg (hepatitis B core antigen). Năm 1973, các nhà nghiên cứu phát hiện ra kháng nguyên có vai trò rất quan trọng chỉ dẫn mức độ lây nhiễm và tiên lượng xấu về tiến triển của HBV là kháng nguyên E ký hiệu là HBeAg. HBeAg gắn chặt với HBcAg và phải dùng hóa chất đặc hiệu thì tách biệt được [31]. Và tương ứng với mỗi loại kháng nguyên nói trên thì có kháng thể tương ứng là HBsAb, HBcAb, HBeAb [30].
Tình hình dịch tễ viêm gan B trên thế giới Nhìn chung tình hình nhiễm VGB phổ biến ở các nước trên thế giới, có xu hướng gia tăng và thay đổi trên từng vùng địa lí. Tỷ lệ nhiễm bệnh ở người dân ở mỗi nước khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và vệ sinh môi trường. Trên thế giới hiện nay có 2 tỷ người nhiễm VGB, trong đó có 350 triệu người nhiễm VGB mạn tính, ¾ trong số này là người Châu Á, 25% người nhiễm VGB mạn tính có thể chuyển biến thành viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan nguyên phát [33]. Mặc dù, nhiều tác 4 giả đã gây bệnh thực nghiệm cho một số loài linh trưởng và vượn Chimpanzees nhưng nói chung người vẫn là đối tượng cảm nhiễm duy nhất của VGB [20].
Hình ảnh: Phân bố VGB trên toàn cầu (Hoiyhtphcm.vn) Phân bố tỷ lệ nhiễm VGB không giống nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới, thậm chí ngay trong cùng một khu vực tỷ lệ nhiễm VGB ở từng nước, từng vùng cũng khác nhau. Tỷ lệ này ở vùng nhiệt đới cao hơn (≥ 20%) so với vùng ôn đới (0,1% - 0,5%) [55],[59],[53],[52]. Đặc biệt ở một số nước như Trung Quốc, Senegal, Thái Lan, Đài Loan, tỷ lệ nhiễm VGB rất cao ở trẻ nhỏ và trong thời kì thơ ấu với tỷ lệ HBsAg (+) đến 25% [61]. Tỷ lệ nhiễm VGB trong cộng đồng và kiểu lây truyền thay đổi rõ rệt ở các vùng khác nhau trên thế giới.
Dựa chủ yếu vào tỷ lệ người mang HBsAg, người ta chia làm 3 khu vực chính: Vùng dịch lưu hành cao: dân số có HbsAg (+), bao gồm các nước vùng Đông Nam Á ngoại trừ Nhật Bản và Ấn Độ, phần lớn các nước Trung Đông, lưu vực sông Amazon của Nam Mỹ, các nhóm đảo Thái Bình Dương, Châu Phi. Có 45% dân số thế giới sống trong khu vực này. Kiểu lây truyền chủ yếu là từ mẹ sang con trong thời kỳ chu sinh, lây theo chiều dọc, đặc biệt từ những bà mẹ có HBeAg (+). Ngoài ra sự lây nhiễm còn xảy ra theo chiều ngang là do tiếp xúc thân mật trong gia đình, bạn bè.
5 Vùng lưu hành trung bình: có 2 – 8% dân số có HBsAg (+), với 43% dân số thế giới phân bố ở khu vực này, thường gặp ở Đông Âu, Nga, Địa Trung Hải, Trung Đông, Nam Mỹ. Lây nhiễm xảy ra ở mọi lứa tuổi. Kiểu lây nhiễm theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Vùng dịch lưu hành thấp: <2% dân số có HBsAg (+), chỉ có 12% dân số thế giới ở khu vực này, bao gồm Bắc Mỹ, Tây Âu, Úc… Lây truyền hầu hết xảy ra ở người lớn thuộc nhóm nguy cơ cao như tiêm chích ma túy, đồng tính luyến ái, có nhiều bạn tình, tiếp xúc thân mật với người nhiễm VGB mạn tính, thường xuyên tiếp xúc với máu và dịch tiết… 1.3 Tình hình dịch tễ viêm gan B tại Việt Nam Theo hệ thống của WHO, Việt Nam được xếp vào vùng lưu hành cao của nhiễm VGB và là một trong 9 quốc gia có tỷ lệ nhiễm VGB cao nhất thế giới [60].
Theo Bộ Y Tế, từ 1978 đến năm 1990, tỷ lệ người mắc viêm gan khoảng 0,7% - 0,8% [23]. Tuy nhiên cho đến nay, qua nhiều nghiên cứu của một số tác giả trong nước chúng ta biết rằng tỷ lệ nhiễm VGB ở Việt Nam trung bình vào khoảng 15%. Trong khu vực lưu hành cao như nước ta hầu hết các trường hợp lây nhiễm VGB qua đường mẹ truyền sang con [7],[3]. Tỷ lệ sinh của Việt Nam hiện nay vào khoảng 1,8% , như vậy hàng năm có khoảng 2 triệu phụ nữ mang thai, tỷ lệ phụ nữ mang thai bị nhiễm VGB không nhỏ vào khoảng 360.000 người mang HbsAg (+), trong số này có khoảng 1/3 vừa mang HbsAg (+) vừa mang HBeAg (+) và nguy cơ lây nhiễm cho con khoảng 85%, nghĩa là mỗi năm chúng ta có khoảng 100.000 trẻ em bị nhiễm VGB từ mẹ [18],[1],[23].
Bên cạnh đó, lây nhiễm VGB qua đường tiêm chích cũng đáng báo động. Theo nghiên cứu của Phạm Song và Đào Đình Đức trên người nghiện ma túy tại địa bàn Hà Nội là 13%, tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 13,9%. Một số khái niệm và thể lâm sàng bệnh viêm gan B 1. Viêm gan B cấp Biểu hiện lâm sàng rất phong phú, thể điển hình thường có 4 giai đoạn gồm: 6 * Thời kỳ ủ bệnh: thay đổi từ vài tuần đến 6 tháng, thường im lặng không có biểu hiện gì trên lâm sàng.
* Thời kỳ tiền vàng da: kéo dài từ 3-10 ngày, lâm sàng nổi bật với các triệu chứng sốt nhẹ khoảng 38-39oC, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đôi khi nôn mửa, đau tức vùng hạ sườn phải. * Thời kỳ vàng da (toàn phát): xuất hiện vàng da, vàng mắt và nước tiểu đậm màu, kéo dài 1-3 tuần. Các triệu chứng của thời kỳ tiền vàng da có giảm nhưng chưa hết hẳn. Khám thực thể phát hiện gan lớn dưới bờ sườn, mềm ấn đau, lách lớn chỉ tìm thấy khoảng 10-20%, nhưng không có dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa.