CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số nét tổng quan về HPV 1. Hình thái của HPV. HPV là một viru không có vỏ ngoài, kích thước nhỏ, đường kính trung bình khoảng 45-55 nm (Hình 1).
Lớp vỏ protein của viru bao bọc nucleic acid và được cấu thành từ các đơn vị cấu trúc ( tructure unit ), là các đơn vị hình thái quan át được trên bề mặt của các hạt viru [19]. Phân loại HPV HPV là một trong những viru có nhiều loại nhất. Người ta đã biết đến gần 12 loại. Mỗi loại có một ự thích nghi cao với một loại biểu mô nhất định.
Ví dụ như loại 1, 2, 3, 1 , 27… thường gây bệnh ở da, còn loại 16, 11, 18… lại chủ yếu tấn công cơ quan inh dục người. Điều này phụ thuộc vào cách tác động khác nhau của những vùng gene khác nhau ở mỗi loại đối với protein bao phủ tế bào chủ tại những vị trí khác nhau trên cơ thể. Người ta xác định có đến hơn 38 loại HPV xâm nhiễm tế bào biểu mô vảy ở vùng cơ quan inh dục người. Trong đó, phổ biến nhất là các loại 6, 11, 16, 18, 42, 43, 44, 31, 33, 35, 45, 51, 52, 56 [33].
Tùy thuộc vào khả năng dẫn đến ung thư (tạo khối u ác tính) người ta chia các loại HPV làm 2 nhóm: Nhóm “nguy cơ thấp” (low-risk): những loại HPV thuộc nhóm này chỉ gây những mụn cóc hoặc khối u lành tính. Nhóm “nguy cơ cao” (high-risk): bao gồm những loại có khả năng gây ra rối loạn, hình thành các khối u ác tính. Mặc dù có ự khác biệt về tần uất nhiễm các loại HPV giữa các vùng địa lý nhưng loại 16,18 thường gây ung thư ở hầu hết các nơi trên thế giới [14];[40]. Phương thức lây truyền cơ chế gây bệnh và hậu quả do HPV 1.
Phương thức lây truyền HPV là loại viru lây truyền qua nhiều đường: tiếp xúc da qua da, qua niêm mạc miệng và niêm mạc bộ phận inh dục, vết thương hở bộ phận inh dục, qua các hành vi tình dục trong đó có ờ, chạm vào bộ phận inh dục của người khác bằng tay hoặc bằng miệng, và có bằng chứng về lây truyền từ mẹ ang con trong thời kỳ trước và au inh [41],[27]; nhưng chủ yếu là hành vi Quan hệ tình dục (QHTD) [11],[21]; được xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên ung thư cổ tử cung (UTCTC), 7 % các trường hợp UTCTC là do loại 16 và 18 của HPV gây ra. Quá trình lây truyền và gây bệnh của HPV có thể chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn xâm nhập: HPV xâm nhập từ đó thực hiện quá trình sao chép. Giai đoạn tiềm ẩn: Người bệnh đều chỉ có những biểu hiện thoáng qua và không xác định được. Giai đoạn nhân bản mạnh: Chúng phát triển mạnh hình thành mụn nhỏ, dẹt, phẳng hoặc lồi, đến những biểu hiện ban đầu của các bệnh.
Giai đoạn có hoạt động của tế bào chủ:. Đây là giai đoạn au nhân bản mạnh của viru. Cơ chế gây bệnh Các gen có tính gây ung thư tác động vào các gen của tế bào thông qua lớp vỏ protein bên ngoài của HPV để b t đầu quá trình xâm nhiễm và gây ra ự phát triển hỗn loạn của nhóm tế bào bị nhiễm. Những trường hợp nhiễm kéo dài, đặc biệt do nhóm nguy cơ cao, ẽ gây ra các tổn thương về phát triển mô học của cổ tử cung (dị ản xếp theo thứ tự nhẹ, vừa, nặng).
Hơn phân nửa các trường hợp dị ản nhẹ có khả năng tự thoái lui; 1 % các trường hợp dị ản nặng hay vừa có khả năng tiến triển nặng hơn trong 2-4 năm; khoảng 5 % dị ản nặng ẽ trở thành ung thư tại chỗ cổ tử cung (khả năng này ít gặp ở người trẻ tuổi). au khi xâm nhập được viru ẽ tấn công vào lớp tế bào đáy của biểu mô vốn có khả năng inh ản cao và gây ra hiện tượng phát triển mạnh hơn bình thường của 1 rồi nhiều lớp tế bào. Khi tế bào bất thường chiếm toàn bộ các lớp của tế bào biểu mô lát ẽ có khả năng phát 6 triển lan rộng khỏi màng đáy vào các lớp âu hơn biểu mô lát và hình thành UTCTC giai đoạn xâm lấn[1],[19]. Tuy nhiên, những tổn thương ban đầu không có tiếp xúc mạch máu, HPV hầu như chỉ hiện diện tại chỗ, do đó không gây ra tình trạng viêm, không hoạt hóa hệ miễn dịch, và hầu như không gây miễn nhiễm au khi đã nhiễm tự nhiên HPV [7].
Ngày nay, có một ố ít bằng chứng cho thấy dường như cũng có vai trò miễn dịch trong nhiễm HPV mặc dù yếu ớt: những người có uy giảm miễn dịch ẽ dễ bị nhiễm HPV và khi đã nhiễm thì tiến triển ẽ nhanh và nặng nề; có gia tăng nồng độ kháng thể với HPV au khi bị nhiễm tự nhiên tuy nhiên nồng độ kháng thể không đủ để gây miễn dịch [7],[17],[22]. Tổn thương dị ản hay UTCTC có một thời gian dài phát triển tại biểu mô và tại chỗ cổ tử cung. Trung bình, có khoảng 1 -2 năm cho ự tiến triển từ dị ản đến UTCTC. Đây chính là thuận lợi cho việc tầm oát UTCTC, giúp phát hiện ớm và điều trị những tổn thương dị ản cũng như ung thư giai đoạn ớm[1].
Có những yếu tố tạo thuận lợi cho tiến triển UTCTC từ nhiễm HPV: inh nhiều con, QHTD ớm trước 21 tuổi, nhiều bạn tình, hút thuốc lá. Việc ử dụng nội tiết inh dục nữ (trong thuốc ngừa thai dạng uống) lâu năm dường như làm tăng nhẹ tình trạng nhiễm HPV kéo dài và do đó làm tăng khả năng ung thư cổ tử cung do HPV[1],[21]. Hậu quả của nhiễm HPV Hậu quả mà đại đa ố các loại HPV là lành tính thuộc nhóm nguy cơ thấp gây ra các bệnh như mụn cóc bàn tay, bàn chân hoặc một ố loại gây ra mụn cóc inh dục như HPV 6 và HPV 11 với những biểu hiện như những mụn nhỏ như da gà mọc ở xung quanh cổ tử cung, âm đạo, hậu môn hay dương vật, không gây đau đớn có thể có kích thước khác nhau và nó xuất hiện au vài tuần hoặc vài tháng có QHTD với người bệnh. Việc điều trị các loại mụn cóc này tùy thuộc vào vị trí và kích thước của chúng: có thể dùng la er hoặt tiểu phẫu để loại bỏ và đôi khi nó cũng có thể tự biến mất mà không cần điều trị.
Không thể điều trị triệt để hoàn toàn việc nhiễm HPV hiện nay, chúng hoàn toàn có thể tái phát lại dù đã được điều trị khỏi 7 trước đó. Giai đoạn xuất hiện mụn cóc là giai đoạn mà khả năng lây lan nhanh và dễ dàng nhất [27]. Tuy nhiên có một ố loại thuộc nhóm nguy cơ cao gây UTCTC ở phụ nữ, đặc biệt ở độ tuổi ngoài 3. Nó cũng là nguyên nhân gây Ung thư hậu môn, ung thư hầu họng.
Đối với nam giới thì HPV cũng là nguyên nhân gây ung thư dương vật [21]. Tình hình nhiễm HPV hiện nay 1. Tình hình nhiễm HPV trên thế giới Dù chỉ 7% người nhiễm HPV tiến triển thành ung thư nhưng do ố người nhiễm HPV rất cao (hơn 5 % ố người ở tuổi có hoạt động tình dục có nguy cơ nhiễm HPV ít nhất một lần), cho nên mỗi năm trên thế giới có khoảng 49 nghìn phụ nữ m c bệnh UTCTC và hơn 27 nghìn phụ nữ chết [12]. Nó được xác định là nguyên nhân đứng hàng thứ hai, au ung thư vú gây tử vong cho phụ nữ.
Bệnh thường xuất hiện ở phụ nữ từ 35 đến 6 tuổi. ự nguy hiểm nhất của căn bệnh này là bệnh khó nhận biết ở giai đoạn đầu do không gây đau và không có những dấu hiệu khác lạ [22]. Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 1 người ung thư dương vật và khoảng 1.7 người ung thư hậu môn, 12 nghìn phụ nữ UTCTC [21]. Tỷ lệ nhiễm HPV dao động ở các quần thể khác nhau trên thế giới và ự phân bố các loại HPV cũng thay đổi theo khu vực.
Tỷ lệ hiện nhiễm HPV ước tính là 1 , %. Trong đó, Châu Phi, đặc biệt là Đông Phi, có tỷ lệ m c cao nhất (31,6%), tiếp theo là Châu Âu với 6,8%, Đông Nam Á là 6,2% Phụ nữ châu Phi có tỷ lệ HPV ước tính cao nhất, có thể là do tình trạng kết hôn ớm, kết hôn với những người đàn ông lớn tuổi hơn, những người đàn ông đó thường có nhiều bạn tình đồng thời và điều kiện vệ inh kém. o ánh với phụ nữ của các khu vực khác trên thế giới, phụ nữ ở khu vực Châu Phi ít có cơ hội àng lọc UTCTC, do đó họ có nguy cơ bị UTCTC xâm lấn ở mức rất cao [39]. Trong ố phụ nữ châu Mỹ, tỷ lệ m c HPV gần tương tự như nhau ở các nhóm tuổi khác nhau, cao nhất ở nhóm tuổi 45 và cao hơn.
Tỷ lệ nhiễm HPV cao hơn ở Trung Mỹ (2 ,4%) và Nam Mỹ (12,3%) o với B c Mỹ (11,3%). Kết quả 8 này phù hợp với tỷ lệ m c UTCTC quan át được cũng tại những khu vực này, trong đó tỷ lệ m c theo nhóm tuổi chuẩn là 3 ,6/1 dân ở Trung Mỹ, 28,6/1 dân ở Nam Mỹ, và 7,7/1 dân ở B c Mỹ. Tại khu vực châu Á cho thấy Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm HPV là 6,2%, trong khi khu vực Đông Á là 13,6%, tương tự như khu vực châu Mỹ và cao hơn Nam Á (Ấn Độ) nơi mà tỷ lệ này ở mức trung bình (7,5%). Tuy nhiên, xu hướng phát triển của tình trạng nhiễm HPV dự báo ự xuất hiện của một đại dịch nhiễm HPV mới tại khu vực Đông Á, bởi vì liên quan đến hành vi quan hệ tình dục tự do trong những thập kỷ gần đây [39].
Ở tất cả các vùng, tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất trong nhóm phụ nữ dưới 35 tuổi và tỷ lệ này giảm dần au độ tuổi 35 [25]. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy ự phân bố loại HPV ở phụ nữ với tế bào cổ tử cung bình thường có 5 loại HPV, phổ biến nhất là HPV 16 (2,5%), HPV 18 (0,9%), HPV 31 (0,7%), HPV58 (0. Tuy nhiên thứ tự của tỷ lệ m c các loại này khác nhau theo từng khu vực. Nhật Bản, Đài Loan và các nước Đông Phi có tỷ lệ nhiễm HPV52 là phổ biến nhất.
HPV18 là chủng viru phổ biến nhất ở Nam Châu Âu. HPV53 là 1 trong 5 loại HPV chủ yếu được phát hiện tại Đông Phi, Trung và B c Mỹ.