Luận văn kiến thức thái độ thực hành phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan ở người dân 18 65 tuổi xã bắc thành huyện yên thành tỉnh nghệ an năm 2018

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh lao và các yếu tố liên quan ở người dân 18-65 tuổi tại xã Bắc Thành, Yên Thành, Nghệ An năm 2018.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

100
5
2

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phòng bệnh lao

Phòng bệnh lao là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng tại xã Bắc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kiến thức, thái độ, và thực hành của người dân trong việc phòng chống bệnh lao. Kết quả cho thấy, tỷ lệ người dân có kiến thức đạt về phòng bệnh lao là 63,8%, trong đó 64,2% hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh và 71,7% biết về nguồn lây. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường tuyên truyền phòng bệnh lao để nâng cao nhận thức cộng đồng.

1.1. Kiến thức về bệnh lao

Kiến thức về bệnh lao của người dân xã Bắc Thành được đánh giá thông qua các câu hỏi về nguyên nhân, triệu chứng, và biện pháp phòng ngừa. Kết quả cho thấy, 86,7% người dân biết triệu chứng chính của bệnh lao là ho khạc kéo dài trên 2 tuần, và 93,1% nhận thức được bệnh lao có thể phòng ngừa. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người dân thiếu hiểu biết đầy đủ, đặc biệt là nhóm có trình độ học vấn thấp. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình giáo dục sức khỏe nhằm cải thiện kiến thức phòng bệnh lao.

1.2. Thái độ phòng bệnh lao

Thái độ phòng bệnh lao của người dân được đánh giá qua việc họ có kỳ thị hay không với người mắc bệnh. Kết quả cho thấy, 63,8% người dân không kỳ thị người bệnh lao, và 86,7% đồng ý rằng bệnh lao không nên giấu. Tuy nhiên, vẫn còn một số người dân có thái độ tiêu cực, đặc biệt là nhóm tuổi cao. Điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp để thay đổi thái độ phòng bệnh lao, đặc biệt là trong nhóm dân số có nguy cơ cao.

II. Thực hành phòng bệnh lao

Thực hành phòng bệnh lao của người dân xã Bắc Thành được đánh giá qua các hành vi cụ thể như việc đeo khẩu trang, hạn chế tiếp xúc, và đi khám khi có dấu hiệu nghi ngờ. Kết quả cho thấy, 87,1% người dân đến cơ sở y tế khi nghi ngờ mắc bệnh, nhưng chỉ 46,6% thực hiện đeo khẩu trang và hạn chế tiếp xúc. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường hành vi phòng bệnh lao thông qua các chương trình giáo dục và hỗ trợ từ cộng đồng.

2.1. Hành vi phòng bệnh lao

Hành vi phòng bệnh lao của người dân được đánh giá qua việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa như đeo khẩu trang, hạn chế tiếp xúc, và đi khám khi có dấu hiệu nghi ngờ. Kết quả cho thấy, 83,9% người dân đi khám khi có dấu hiệu nghi ngờ, nhưng chỉ 55,9% hướng dẫn người khác phòng bệnh. Điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp để cải thiện thực hành phòng bệnh lao, đặc biệt là trong nhóm dân số có trình độ học vấn thấp.

2.2. Yếu tố liên quan đến thực hành

Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thứcthực hành phòng bệnh lao. Những người có kiến thức đạt tiêu chuẩn có tỷ lệ thực hành đạt cao hơn gấp 2,14 lần so với nhóm không đạt. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức phòng bệnh lao để cải thiện thực hành phòng bệnh lao trong cộng đồng.

III. Tình hình bệnh lao tại Nghệ An

Tình hình bệnh lao tại Nghệ An được đánh giá qua số liệu thống kê về số ca mắc và tử vong do lao. Nghiên cứu cho thấy, huyện Yên Thành là một trong những khu vực có tỷ lệ mắc lao cao nhất tỉnh, với xã Bắc Thành ghi nhận 10 ca mắc lao trong 10 tháng đầu năm 2017. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường các biện pháp phòng bệnh lao và nâng cao nhận thức cộng đồng để giảm thiểu nguy cơ lây lan bệnh.

3.1. Biện pháp phòng bệnh lao

Các biện pháp phòng bệnh lao được đề xuất bao gồm tăng cường tuyên truyền phòng bệnh lao, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, và khuyến khích người dân đi khám sớm khi có dấu hiệu nghi ngờ. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiêm phòng vắc xin BCG cho trẻ em và điều trị dự phòng bằng INH cho người nhiễm HIV.

3.2. Đối tượng phòng bệnh lao

Đối tượng phòng bệnh lao chính trong nghiên cứu là người dân từ 18-65 tuổi tại xã Bắc Thành. Kết quả cho thấy, nhóm tuổi từ 51-65 có kiến thức và thực hành phòng bệnh tốt hơn so với nhóm trẻ hơn. Điều này cho thấy cần có các chương trình giáo dục sức khỏe phù hợp với từng nhóm tuổi để cải thiện kiến thức, thái độ, và thực hành phòng bệnh lao.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh lao 1. Định nghĩa Lao là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi khuẩn lao hay còn gọi Mycobacterium tuberculosis. Bệnh lao hầu như có ở tất cả các bộ phận trên cơ thể, trong đó lao phổi chiếm khoảng 80 – 85%, là nguồn lây chủ yếu cho cộng đồng và là thể lao phổ biến nhất[6].

Vi khuẩn lao Vi khuẩn lao do Robert Koch tìm ra năm 1882, hay còn có tên khác là Bacilie de Koch (viết tắt là BK). Ngày nay, căn cứ vào đặc điểm kháng acid, người ta gọi chúng là vi khuẩn kháng cồn toan, viết tắt là AFB (Acid fast Bacilli). Vi khuẩn lao có thể sống trong môi trường tự nhiên được một thời gian dài. Dưới ánh sáng mặt trời, vi trùng lao bị tiêu diệt sau 1,5 giờ.

Vi khuẩn lao chỉ sống được 2-3 phút khi chiếu tia cực tím. Vi khuẩn ngừng phát triển ở nhiệt độ 420C và ở 800C chúng bị tiêu diệt sau 10 phút. Trong phòng tối, ẩm thì vi khuẩn lao ở trong đờm của người bệnh vẫn tồn tại và giữ được độc lực trong vòng 3 tháng. Nhưng chúng sẽ bị chết khi đun sôi đờm trong 5 phút; với cồn 900C vi khuẩn bị tiêu diệt sau 3 phút, vi khuẩn chết sau 1 phút trong acid phenic 5%[5].

Vi khuẩn Lao sống lâu trong môi trường ẩm thấp, nhiệt độ thấp và thiếu ánh sáng mặt trời. Đó chính là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn lao phát triển, sinh sôi nảy nở và cũng là môi trường hay gặp ở những nơi có điều kiện sống khó khăn, các nước có nền kinh tế đang phát triển. Đường lây Vi khuẩn lao lây qua đường hô hấp từ người bệnh sang người lành. Các vi khuẩn lao sẽ phát tán ra môi trường bên ngoài khi bệnh nhân lao phổi ho, hắt hơi hay khạc nhổ đờm có vi khuẩn lao.

Một người chỉ cần hít phải không khí có vi khuẩn lao sẽ có nguy cơ nhiễm lao[6]. Triệu chứng Ho khạc kéo dài trên 2 tuần như ho khạc đờm, ho khan, ho ra máu là dấu hiệu nghi lao điển hình nhất. Ngoài ra có thể kèm theo mệt mỏi, sụt cân, chán ăn; đỗ mồ 5 hôi đêm; đau ngực đôi khi khó thở; Sốt nhẹ về chiều. Với bệnh nhân lao phổi, triệu chứng hay gặp nhất là ho khạc đờm trên 2 tuần, khoảng 10% bệnh nhân có triệu chứng ho ra máu, đau ngực thường đau khu trú ở một vị trí cố định; khi có tổn thương ở phổi sẽ có khó thở[6].

Chẩn đoán lao phổi 1. Dựa vào lâm sàng Người bệnh có biểu hiện ho, khạc đờm, đôi khi có ho ra máu, đau tức ngực, có thể khó thở; ra mồ hôi trộm vào ban đêm, sốt nhẹ về chiều, ăn kém, mệt mỏi, gầy sút cân; nghe phổi có tiếng ran ẩm, ran nổ,. Dựa vào cận lâm sàng Soi đờm trực tiếp tìm AFB: Khi có biểu hiện nghi lao tất cả người bệnh cần được làm xét nghiệm đờm để phát hiện bệnh lao phổi. Mỗi bệnh nhân cần được lấy 2 mẫu đờm để làm xét nghiệm, mẫu đờm thứ nhất cách mẫu đờm thứ 2 tối thiểu phải 2 giờ.

Để đảm bảo độ chính xác thì đờm phải được lấy đúng cách theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Xét nghiệm Xpert MTB/RIF: đây là xét nghiệm có độ đặc hiệu và độ nhạy cao cho kết quả sau 2 giờ. Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: Kết quả dương tính sau 2 tuần nếu nuôi cấy trong môi trường lỏng. Cho kết quả dương tính sau 3 - 4 tuần nếu nuôi cấy trong môi trường đặc.

Xquang phổi thường quy: Là phương pháp chẩn đoán hình ảnh phổ biến giúp phát hiện các tổn thương như thâm nhiễm, nốt, xơ hang, có thể co kéo ở 1/2 trên của phế trường. Tuy nhiên Xquang phim phổi thường quy có độ đặc hiệu thấp nên nó không dùng để chẩn đoán xác định lao phổi mà chỉ dùng để hỗ trợ trong chẩn đoán[6]. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán xác định: Xác đinh được vi khuẩn lao có ở nơi tổn thương bằng các kỹ thuật xét nghiệm. Điều trị lao 1.

Nguyên tắc điều trị Phối hợp nhiều thuốc chống lao: phải dùng phối hợp nhiều thuốc điều trị lao, giai đoạn tấn công phải phối hợp tối thiểu 3 loại thuốc điều trị lao và giai đoạn duy trì dùng tối thiểu 2 loại thuốc[6]. Dùng thuốc phải đúng liều: Phải tiêm hoặc uống thuốc lao theo đúng chỉ dẫn của người thầy thuốc. Nếu dùng liều cao có thể gây tai biến, nếu dùng không đủ liều lượng theo quy định sẽ không diệt được vi khuẩn lao, hiệu quả thấp và vi khuẩn lao có thể sinh ra các chủng kháng thuốc[6]. Dùng thuốc phải đều đặn: Các thuốc điều trị lao phải được uống hoặc tiêm cùng một lúc vào thời điểm nhất định trong ngày, uống vào lúc đói cách bữa ăn ít nhất 1 giờ để thuốc được hấp thu tốt nhất[6].

Phải dùng thuốc đủ thời gian, theo 2 giai đoạn: giai đoạn tấn công từ 2 – 3 tháng để tiêu diệt phần lớn vi khuẩn và tránh vi khuẩn lao kháng thuốc. Giai đoạn duy trì nhằm mục đích tiêu diệt hết vi khuẩn lao, phòng tránh tái phát với thời gian điều trị từ 4-6 tháng[6]. Phác đồ điều trị. Tùy từng loại bệnh lao mắc phải mà thầy thuốc sử dụng phác đồ điều trị lao phù hợp sau: Phác đồ 2RHZE(S)/4RHE: áp dụng điều trị cho người mắc bệnh lao ở người lớn chưa được điều trị lao lần nào hoặc đã được điều trị lao trước đó nhưng chưa quá 1 tháng[6].

Phác đồ 2RHZE/4RH: áp dụng điều trị cho người mắc bệnh lao ở trẻ em chưa được điều trị lao lần nào hoặc đã được điều trị lao trước đó nhưng chưa quá 1 tháng. Phác đồ 2SRHZE/1RHZE/5RHE hoặc 2SRHZE/1RHZE/5R3H3E3: áp dụng điều trị cho bệnh nhân lao tái phát, người bệnh điều trị lại sau bỏ trị trên 1 tháng, bệnh nhân thất bại trong điều trị[6]. Phác đồ 2RHZE/10RHE: áp dụng điều trị cho bệnh nhân lao màng não hoặc lao xương khớp ở người lớn[6]. Phác đồ 2RHZE/10RH: Áp dụng điều trị cho bệnh nhân lao màng não và 7 lao xương khớp ở trẻ em[6].

Phòng bệnh lao 1. Giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao. Kiểm soát vệ sinh môi trường. Làm loãng các hạt nhiễm vi khuẩn trong không khí bằng cách mở các cửa sổ, cửa chính hàng ngày để ánh sáng và không khí được lưu thông.

Thay đổi nhận thức của bệnh nhân để làm giảm các hạt nhiễm khuẩn ra ngoài môi trường: Khạc nhổ đờm vào vật dụng riêng biệt, bỏ đúng nơi quy định, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng để loại bỏ vi khuẩn lao bám vào; Mang khẩu trang hoặc dùng khăn che miệng, mũi khi nói chuyện, ngồi gần người khác, khi ho, hắt hơi; Khi ho khạc để lấy đờm làm xét nghiệm phải đến đúng vị trí quy định, thường là ngoài trời có ánh sáng mặt trời và thông thoáng nhằm hạn chế lây lan bệnh lao cho người xung quanh. Giảm nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao Tiêm vắc xin BCG (Baccille Calmette-Guuuesrin): Việc tiêm phòng vắc xin phòng lao cho trẻ em hay còn được gọi là vắc xin BCG là thực sự cần thiết. Vắc xin phòng lao để đạt được hiệu quả cao cần tiêm càng sớm càng tốt. Thời gian tiêm vắc xin phòng lao cho trẻ là từ lúc sinh ra đến dưới 1 tháng tuổi nhằm tạo miễn dịch chủ động chống lại bệnh lao khi bị nhiễm lao.

Điều trị lao dự phòng bằng INH cho toàn bộ người lớn nhiễm HIV đã được khám, xét nghiệm nhưng chẩn đoán không mắc lao hoặc trẻ dưới 5 tuổi và trẻ 0 – 14 tuổi nhiễm HIV tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, có nghĩa là trẻ sống cùng với ông, bà, cha, mẹ, người thân mắc bệnh lao phổi dương tính, những trẻ này được chẩn đoán không mắc bệnh lao[6]. Tình hình bệnh lao trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình Lao trên thế giới Bệnh Lao đã và đang là một vấn đề sức khỏe được các quốc gia trên thế giới quan tâm. Theo báo cáo năm 2016 của WHO, Lao là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu.

Có khoảng 1/3 dân số thế giới bị nhiễm lao, 10,4 triệu người mắc lao mới và 1,7 triệu ca tử vong liên quan đến bệnh lao. Hơn 95% trường hợp chết do bệnh lao lao nằm ở các nước nghèo hoặc đang phát triển. 7 nước 8 gồm Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc, Philippines, Pakistan, Nigeria và Nam Phi chiếm 64% số trường hợp mắc bệnh lao, trong đó cao nhất là Ấn Độ và thấp nhất là Nam Phi. Năm 2016, khoảng 1 triệu trẻ em mắc lao và 250.000 trẻ em tử vong vì lao (bao gồm cả lao/HIV).

Lao là nguyên nhân chính dẫn tới tử vong đối với bệnh nhân HIV dương tính, 40% số ca chết do mắc lao/HIV. Lao kháng đa thuốc (MDR- TB) vẫn là một cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng và mối đe dọa về an ninh sức khoẻ.000 trường hợp lao mới có khả năng đề kháng với rifampicin, trong đó có 490.000 trường hợp bị MDR-TB. Trên toàn cầu, tỷ lệ lao đang giảm khoảng 2% mỗi năm. Cần đẩy nhanh mức giảm hàng năm 4-5% để đạt được các cột mốc vào năm 2020 của Chiến lược Phòng chống lao.

Từ năm 2000 đến năm 2016 đã cứu sống cho khoảng 53 triệu người mắc bệnh lao trên thế giới[37]. Hiện nay trên toàn cầu có khoảng 75% tương đương 2,9 triệu người được chẩn đoán mắc lao nhưng chưa được đưa vào điều trị và không được báo cáo trong các Chương trình lao quốc gia. Qua đó cho biết số người mắc bệnh lao trong cộng đồng còn chiếm một tỷ lệ khá cao nếu không được khám phát hiện và đưa vào điều trị sớm thì đó chính là nguồn lây bệnh lao cho cộng đồng. Mức độ nặng nề của bệnh lao đã tác động không nhỏ tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con người của các quốc gia trên toàn cầu.

Năm 2013, WHO cho biết, gánh nặng bệnh tật và tử vong liên quan đến bệnh lao ở trẻ em và phụ nữ cao hơn nam giới. Năm 2012, trên toàn cầu có 2,9 triệu đối tượng nữ mắc lao mới, có 410.000 trường hợp tử vong liên quan đến bệnh lao ở nữ, có 250.000 bệnh nhân chết do đồng nhiễm lao và HIV, có 530.000 trẻ em mắc lao mới trong năm 2012[35, 36]. Bệnh Lao kháng thuốc là một vấn đề đang được cả thế giới quan tâm vào cuộc, nhất là tình hình lao đa kháng thuốc. Năm 2012, thế giới có khoảng 450.000 bệnh nhân mắc Lao đa kháng thuốc (MDR – TB) mới được phát hiện[35].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh lao ở người dân 18-65 tuổi xã Bắc Thành, Yên Thành, Nghệ An 2018 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi của người dân trong việc phòng ngừa bệnh lao. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng kiến thức y tế cộng đồng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng bệnh. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia y tế và cộng đồng trong việc cải thiện công tác phòng chống lao.

Để mở rộng hiểu biết về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ y học thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh lào cai, nghiên cứu này tập trung vào thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, một vấn đề sức khỏe cộng đồng khác cần được quan tâm. Ngoài ra, Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị hiv aids tại phòng khám ngoại trú huyện đông anh hà nội năm 2017 cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến bệnh nhân. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người cung cấp thông tin về các nguy cơ sức khỏe liên quan đến ô nhiễm thực phẩm, một chủ đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe và môi trường đang được quan tâm hiện nay.