Luận văn kiến thức thái độ thực hành về điều trị thuốc arv và một số yếu tố liên quan của người nhiễm hiv aids tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa tỉnh long an năm 2015

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về điều trị ARV và các yếu tố liên quan ở người nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2015.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức về điều trị ARV

Nghiên cứu đánh giá kiến thức về điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại Long An năm 2015 cho thấy 59,8% bệnh nhân có kiến thức đạt về tuân thủ điều trị. Trong đó, 90,2% bệnh nhân nhận biết được thuốc ARV là thuốc kháng virus HIV, 93,4% hiểu rõ tuân thủ điều trị là uống đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ và đều đặn suốt đời. Tuy nhiên, chỉ 76,2% bệnh nhân biết cách xử trí khi quên thuốc. Kiến thức về điều trị ARV là yếu tố quan trọng giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ kháng thuốc.

1.1. Nhận thức về thuốc ARV

Đa số bệnh nhân nhận thức được thuốc ARV là thuốc kháng virus HIV, điều này cho thấy sự hiểu biết cơ bản về loại thuốc này. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân chưa nắm rõ tác dụng và cách sử dụng thuốc, đặc biệt là cách xử lý khi quên thuốc.

1.2. Tác hại của việc không tuân thủ điều trị

95,1% bệnh nhân nhận thức được tác hại của việc không tuân thủ điều trị, bao gồm nguy cơ kháng thuốc và giảm hiệu quả điều trị. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức về tuân thủ điều trị ARV.

II. Thái độ đối với điều trị ARV

Nghiên cứu chỉ ra rằng 90,2% bệnh nhân có thái độ tích cực đối với việc tuân thủ điều trị ARV. Thái độ này được hình thành từ sự hiểu biết về lợi ích của điều trị ARV và sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một số bệnh nhân có thái độ tiêu cực do lo ngại về tác dụng phụ của thuốc hoặc sự kỳ thị xã hội.

2.1. Yếu tố ảnh hưởng đến thái độ

Nhóm tuổi và việc tham gia các buổi tập huấn, tư vấn trước điều trị là những yếu tố tích cực ảnh hưởng đến thái độ đối với điều trị ARV. Những bệnh nhân được hỗ trợ tâm lý và giáo dục sức khỏe thường có thái độ tích cực hơn.

2.2. Thách thức trong việc duy trì thái độ tích cực

Sự kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là rào cản lớn trong việc duy trì thái độ tích cực của bệnh nhân. Ngoài ra, việc sử dụng ma túy cũng là yếu tố tác động tiêu cực đến thái độ tuân thủ điều trị.

III. Thực hành điều trị ARV

Kết quả nghiên cứu cho thấy 81,2% bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV trong tháng qua, trong đó 8,2% bệnh nhân quên thuốc 1-2 lần. Thực hành điều trị ARV được cải thiện đáng kể nhờ sự hỗ trợ từ gia đình và các buổi tập huấn, tư vấn. Tuy nhiên, việc sử dụng ma túy vẫn là yếu tố cản trở lớn đến việc tuân thủ điều trị.

3.1. Hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng

Sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì thực hành điều trị ARV. Những bệnh nhân được hỗ trợ tại nhà thường có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn.

3.2. Tác động của việc sử dụng ma túy

Việc sử dụng ma túy là yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến thực hành điều trị ARV. Những bệnh nhân nghiện ma túy thường có tỷ lệ tuân thủ điều trị thấp hơn do lối sống không ổn định và thiếu sự hỗ trợ từ gia đình.

IV. Yếu tố liên quan đến HIV AIDS

Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến HIV/AIDS như trình độ học vấn, sự hỗ trợ từ gia đình, và việc sử dụng ma túy. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kiến thức, thái độ và thực hành điều trị ARV của bệnh nhân. Việc nâng cao trình độ học vấn và tăng cường hỗ trợ từ gia đình là giải pháp quan trọng để cải thiện hiệu quả điều trị.

4.1. Trình độ học vấn

Trình độ học vấn là yếu tố tích cực ảnh hưởng đến kiến thức về điều trị ARV. Những bệnh nhân có trình độ học vấn cao thường có kiến thức và thái độ tốt hơn trong việc tuân thủ điều trị.

4.2. Sự hỗ trợ từ gia đình

Sự hỗ trợ từ gia đình giúp bệnh nhân duy trì thực hành điều trị ARV một cách hiệu quả. Những bệnh nhân được hỗ trợ tại nhà thường có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn.

V. Điều trị ARV tại Long An

Nghiên cứu được thực hiện tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An cho thấy tỉnh đã triển khai 3 cơ sở điều trị ARV với 1.010 bệnh nhân đang điều trị. Tuy nhiên, việc theo dõi tuân thủ điều trị và đánh giá kết quả điều trị vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất cần tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ bệnh nhân và nâng cao chất lượng điều trị.

5.1. Thực trạng điều trị ARV tại Long An

Tỉnh Long An đã triển khai điều trị ARV từ năm 2004, nhưng việc theo dõi tuân thủ điều trị và đánh giá kết quả điều trị vẫn chưa được hệ thống hóa. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

5.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả điều trị

Nghiên cứu đề xuất cần tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ bệnh nhân và nâng cao chất lượng điều trị. Đồng thời, cần có hệ thống theo dõi và đánh giá kết quả điều trị một cách chặt chẽ hơn.

23/02/2025
Luận văn kiến thức thái độ thực hành về điều trị thuốc arv và một số yếu tố liên quan của người nhiễm hiv aids tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa tỉnh long an năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS vẫn đang là một đại dịch gây thách thức toàn cầu. Trung bình mỗi ngày trên thế giới có khoảng 6.000 ngƣời nhiễm mới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến cuối năm 2013 đã có 35 triệu ngƣời đang nhiễm HIV và tổng số ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV là 12,9 triệu ngƣời. Riêng năm 2013 đã phát hiện 2,1 triệu ca nhiễm mới và 1,5 triệu ngƣời tử vong do AIDS [32, 33].

Tại Việt Nam, từ trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên phát hiện vào năm 1990 đến cuối tháng 9/2014 dịch đã xảy ra hầu hết cả nƣớc, kể cả các khu vực vùng sâu, vùng xa với 224.223 ngƣời hiện nhiễm, 69.617 bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS và tích lũy 70.734 trƣờng hợp tử vong [2]. Trong những năm gần đây, phƣơng pháp điều trị bằng thuốc kháng retrovirus (ARV) là một trong những phƣơng pháp hiệu quả nhất giúp ngƣời nhiễm HIV/AIDS phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội (NTCH), cải thiện chất lƣợng sống và kéo dài tuổi thọ [8]. Việt Nam bắt đầu triển khai mở rộng điều trị ARV từ năm 2005, đến nay có 365 điểm điều trị ARV đặt tại cơ sở y tế, các trại giam và trung tâm giáo dục chữa bệnh và lao động xã hội với số bệnh nhân đang điều trị ARV là 88.800, chiếm khoảng 36% số nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng [2]. Việc gia tăng số ngƣời đƣợc điều trị ARV trong thời gian qua đã làm giảm đáng kể số tử vong do AIDS hằng năm [2].

Phƣơng pháp điều trị ARV đòi hỏi bệnh nhân (BN) phải tham gia điều trị suốt đời và tuân thủ điều trị (TTĐT) tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc [8]. Tuy nhiên, do tình trạng phân biệt đối xử còn phổ biến, bệnh nhân đăng ký điều trị muộn, bệnh nhân sống xa khu vực điều trị, bệnh nhân đi làm xa nhà, nhiều bệnh nhân là ngƣời nghiện chích ma túy nên di biến động thƣờng xuyên. đã ảnh hƣởng đến hoạt động tuân thủ điều trị của bệnh nhân cũng nhƣ chất lƣợng điều trị [2]. Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại Ninh Bình đánh giá TTĐT trong vòng 7 ngày trƣớc thời điểm điều tra cho thấy có 64,2% bệnh nhân TTĐT; tìm thấy mối liên quan giữa việc đi làm xa nhà, sử dụng ma túy và uống rƣợu bia với việc TTĐT ARV [16].

Một nghiên cứu khác 2 tại Thanh Hóa cũng cho thấy, tỷ lệ TTĐT ARV của bệnh nhân trong một tháng qua còn thấp (77,5%) và việc TTĐT ARV có mối liên quan chặc chẽ với kết quả điều trị [21]. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị ở Việt Nam còn ít đƣợc đề cập. Tại tỉnh Long An, lũy tích số trƣờng hợp nhiễm HIV đến 30/9/2014 là 4.167, chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.320 trƣờng hợp tử vong. Đến nay, tỉnh đã triển khai đƣợc 3 cơ sở điều trị ARV với số bệnh nhân đang điều trị ARV là 1.010; trong đó có 148 bệnh nhân mới bắt đầu điều trị và 39 bệnh nhân chuyển đến trong 9 tháng đầu năm [22].

Với số lƣợng bệnh nhân điều trị ngày một gia tăng và ở rải khắp các địa bàn trong tỉnh, nhiều bệnh nhân thƣờng xuyên đi lao động ở tỉnh ngoài, trong khi đó điều trị ARV chỉ tập trung tại 3 phòng khám, điều đó gây không ít khó khăn cho bệnh nhân trong việc tiếp cận điều trị và tuân thủ điều trị. Theo thống kê của các phòng khám ngoại trú (PKNT), chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm đã có 12 bệnh nhân đang điều trị ARV tử vong và 47 bệnh nhân không đến tái khám trên 3 tháng (bỏ trị) [22]. Tại tỉnh, hiện nay các báo cáo về công tác điều trị ARV chỉ đơn thuần tập trung vào các chỉ số nhƣ số điều trị, số bỏ trị, số tử vong… và theo dõi kết quả điều trị của bệnh nhân qua các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng nhƣng chƣa có nghiên cứu nào đánh giá về kết quả điều trị cũng nhƣ đánh giá thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng không tuân thủ điều trị từ khi chƣơng trình triển khai cho đến nay. Tại PKNT Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Long An, công tác chăm sóc, điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS đƣợc triển khai năm 2004 với sự tài trợ của dự án hỗ trợ phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam.

Đây là phòng khám của bệnh viện tuyến tỉnh đã trải qua nhiều năm điều trị ARV, vì thế hầu hết ngƣời nhiễm HIV/AIDS ở các huyện, thành phố của tỉnh tham gia điều trị ARV đều tập trung ở đây. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về điều trị thuốc ARV và một số yếu tố liên quan của người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An năm 2015” nhằm đánh giá kết quả của quá trình triển khai điều trị bằng thuốc ARV và đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng điều trị ARV nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc, điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị ARV của ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An năm 2015.

Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị ARV của ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm HIV: Là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời. HIV gây tổn thƣơng hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết ngƣời [12, 18].

AIDS: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV đƣợc thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thƣ và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong [12, 18]. Ngƣời nhiễm HIV: Một ngƣời đƣợc xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dƣơng tính cả ba lần xét nghiệm kháng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và phƣơng pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau [6, 8]. Thuốc ARV: Là thuốc kháng virut sao chép ngƣợc [20]. Điều trị ARV: Là liệu pháp kháng virut sao chép ngƣợc, sử dụng phối hợp ba hoặc nhiều loại thuốc ARV để ức chế virut và phải điều trị suốt đời [20].

Tuân thủ điều trị ARV: Là uống đúng thuốc, đúng liều, đúng thời gian và đòi hỏi bệnh nhân phải tham gia điều trị liên tục suốt đời. Để đạt kết quả điều trị tốt, mức độ tuân thủ yêu cầu từ 95% trở lên, ví dụ: nếu thuốc điều trị đƣợc kê đơn uống 2 lần/ngày thì bệnh nhân không đƣợc quên quá 3 lần/tháng. Tuân thủ điều trị ARV là yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo sự thành công của điều trị, tránh sự xuất hiện kháng thuốc. - Uống đúng thuốc: Uống đủ số lƣợng thuốc đƣợc kê.

- Uống đúng liều, đúng thời gian: Đối với thuốc uống 2 lần/ngày phải uống cách nhau 12 giờ [6]. Nhiễm trùng cơ hội: Là nhiễm trùng xảy ra do cơ thể bị suy giảm miễn dịch vì bị nhiễm HIV [12, 18]. Điều trị thuốc kháng HIV (điều trị ARV) 1. Mục đích của điều trị ARV - Ức chế sự nhân lên của virus và kìm hãm lƣợng virus trong máu mức thấp nhất.

- Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội. - Cải thiện chất lƣợng sống và tăng khả năng sống sót cho ngƣời bệnh [8]. Nguyên tắc điều trị ARV - Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS. - Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và đƣợc chỉ định khi ngƣời bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng, và/hoặc xét nghiệm và chứng tỏ đã sẵn sàng điều trị.

- Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc. Điều trị ARV là điều trị suốt đời; ngƣời bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc. - Ngƣời nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm virus cho ngƣời khác. - Ngƣời nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chƣa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội [8].

Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV (theo QĐ 4139/BYT ban hành 2/11/2011) - Ngƣời nhiễm HIV có số lƣợng tế bào TCD4 ≤ 350 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng. - Ngƣời nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3,4 không phụ thuộc số lƣợng tế bào TCD4 [10]. Quy trình điều trị ARV - Cung cấp thông tin về phác đồ điều trị ARV mà ngƣời nhiễm HIV sẽ sử dụng: tên thuốc, liều lƣợng, cách uống thuốc, tác dụng phụ và xử trí tác dụng phụ của thuốc. - Tƣ vấn về tuân thủ điều trị và sự cần thiết của ngƣời hỗ trợ điều trị cho ngƣời nhiễm HIV.

- Đánh giá sự sẵn sàng điều trị ARV của ngƣời nhiễm HIV. 6 - Cấp thuốc ARV khi ngƣời nhiễm HIV sẵn sàng điều trị và thông báo về lịch cấp thuốc (định kỳ hàng tháng). - Thông báo cho ngƣời nhiễm HIV về lịch tái khám: + Đối với trẻ em: Tái khám từ 01 đến 03 tháng/lần tùy thuộc vào độ tuổi và tình trạng bệnh của trẻ. + Đối với ngƣời lớn: Tái khám hàng tháng trong 06 tháng sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng HIV, sau đó căn cứ vào mức độ đáp ứng điều trị và tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh có thể tái khám 06 tháng/lần.

- Trƣờng hợp tình trạng bệnh của ngƣời nhiễm HIV vƣợt quá khả năng điều trị của cơ sở điều trị thì phải thực hiện việc chuyển ngƣời bệnh đến cơ sở y tế có đủ khả năng điều trị. - Cấp phiếu chuyển tiếp điều trị đối với trƣờng hợp ngƣời bệnh chuyển sang điều trị tại cơ sở điều trị khác. - Ghi chép đầy đủ thông tin của ngƣời nhiễm HIV vào sổ điều trị bằng thuốc kháng HIV [11]. Theo dõi điều trị ARV - Ngƣời bệnh bắt đầu điều trị ARV cần đƣợc tái khám và phát thuốc định kỳ.

- Thăm khám thƣờng xuyên trong giai đoạn đầu để đƣợc tƣ vấn, hỗ trợ tuân thủ và theo dõi tác dụng phụ khi bắt đầu điều trị. - Khi ngƣời bệnh tuân thủ và dung nạp thuốc tốt, các triệu chứng lâm sàng đƣợc cải thiện, thời gian giữa các lần tái khám là 1 tháng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Kiến Thức, Thái Độ, Thực Hành Về Điều Trị ARV Và Yếu Tố Liên Quan Ở Người Nhiễm HIV/AIDS Tại Long An 2015" cung cấp cái nhìn sâu sắc về kiến thức, thái độ và thực hành của người nhiễm HIV/AIDS trong việc điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) tại tỉnh Long An. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những hiểu biết cần thiết về điều trị mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị, từ đó giúp nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và môi trường, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017", nơi khám phá thêm về sự kỳ thị trong cộng đồng người nhiễm HIV. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ y học thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai" cũng cung cấp thông tin hữu ích về sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở trẻ em. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về chất lượng nước sinh hoạt qua tài liệu "Luận văn đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên", giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và môi trường.