ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS vẫn đang là một đại dịch gây thách thức toàn cầu. Trung bình mỗi ngày trên thế giới có khoảng 6.000 ngƣời nhiễm mới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến cuối năm 2013 đã có 35 triệu ngƣời đang nhiễm HIV và tổng số ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV là 12,9 triệu ngƣời. Riêng năm 2013 đã phát hiện 2,1 triệu ca nhiễm mới và 1,5 triệu ngƣời tử vong do AIDS [32, 33].
Tại Việt Nam, từ trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên phát hiện vào năm 1990 đến cuối tháng 9/2014 dịch đã xảy ra hầu hết cả nƣớc, kể cả các khu vực vùng sâu, vùng xa với 224.223 ngƣời hiện nhiễm, 69.617 bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS và tích lũy 70.734 trƣờng hợp tử vong [2]. Trong những năm gần đây, phƣơng pháp điều trị bằng thuốc kháng retrovirus (ARV) là một trong những phƣơng pháp hiệu quả nhất giúp ngƣời nhiễm HIV/AIDS phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội (NTCH), cải thiện chất lƣợng sống và kéo dài tuổi thọ [8]. Việt Nam bắt đầu triển khai mở rộng điều trị ARV từ năm 2005, đến nay có 365 điểm điều trị ARV đặt tại cơ sở y tế, các trại giam và trung tâm giáo dục chữa bệnh và lao động xã hội với số bệnh nhân đang điều trị ARV là 88.800, chiếm khoảng 36% số nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng [2]. Việc gia tăng số ngƣời đƣợc điều trị ARV trong thời gian qua đã làm giảm đáng kể số tử vong do AIDS hằng năm [2].
Phƣơng pháp điều trị ARV đòi hỏi bệnh nhân (BN) phải tham gia điều trị suốt đời và tuân thủ điều trị (TTĐT) tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc [8]. Tuy nhiên, do tình trạng phân biệt đối xử còn phổ biến, bệnh nhân đăng ký điều trị muộn, bệnh nhân sống xa khu vực điều trị, bệnh nhân đi làm xa nhà, nhiều bệnh nhân là ngƣời nghiện chích ma túy nên di biến động thƣờng xuyên. đã ảnh hƣởng đến hoạt động tuân thủ điều trị của bệnh nhân cũng nhƣ chất lƣợng điều trị [2]. Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại Ninh Bình đánh giá TTĐT trong vòng 7 ngày trƣớc thời điểm điều tra cho thấy có 64,2% bệnh nhân TTĐT; tìm thấy mối liên quan giữa việc đi làm xa nhà, sử dụng ma túy và uống rƣợu bia với việc TTĐT ARV [16].
Một nghiên cứu khác 2 tại Thanh Hóa cũng cho thấy, tỷ lệ TTĐT ARV của bệnh nhân trong một tháng qua còn thấp (77,5%) và việc TTĐT ARV có mối liên quan chặc chẽ với kết quả điều trị [21]. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị ở Việt Nam còn ít đƣợc đề cập. Tại tỉnh Long An, lũy tích số trƣờng hợp nhiễm HIV đến 30/9/2014 là 4.167, chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.320 trƣờng hợp tử vong. Đến nay, tỉnh đã triển khai đƣợc 3 cơ sở điều trị ARV với số bệnh nhân đang điều trị ARV là 1.010; trong đó có 148 bệnh nhân mới bắt đầu điều trị và 39 bệnh nhân chuyển đến trong 9 tháng đầu năm [22].
Với số lƣợng bệnh nhân điều trị ngày một gia tăng và ở rải khắp các địa bàn trong tỉnh, nhiều bệnh nhân thƣờng xuyên đi lao động ở tỉnh ngoài, trong khi đó điều trị ARV chỉ tập trung tại 3 phòng khám, điều đó gây không ít khó khăn cho bệnh nhân trong việc tiếp cận điều trị và tuân thủ điều trị. Theo thống kê của các phòng khám ngoại trú (PKNT), chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm đã có 12 bệnh nhân đang điều trị ARV tử vong và 47 bệnh nhân không đến tái khám trên 3 tháng (bỏ trị) [22]. Tại tỉnh, hiện nay các báo cáo về công tác điều trị ARV chỉ đơn thuần tập trung vào các chỉ số nhƣ số điều trị, số bỏ trị, số tử vong… và theo dõi kết quả điều trị của bệnh nhân qua các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng nhƣng chƣa có nghiên cứu nào đánh giá về kết quả điều trị cũng nhƣ đánh giá thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng không tuân thủ điều trị từ khi chƣơng trình triển khai cho đến nay. Tại PKNT Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Long An, công tác chăm sóc, điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS đƣợc triển khai năm 2004 với sự tài trợ của dự án hỗ trợ phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam.
Đây là phòng khám của bệnh viện tuyến tỉnh đã trải qua nhiều năm điều trị ARV, vì thế hầu hết ngƣời nhiễm HIV/AIDS ở các huyện, thành phố của tỉnh tham gia điều trị ARV đều tập trung ở đây. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về điều trị thuốc ARV và một số yếu tố liên quan của người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An năm 2015” nhằm đánh giá kết quả của quá trình triển khai điều trị bằng thuốc ARV và đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng điều trị ARV nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc, điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị ARV của ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An năm 2015.
Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị ARV của ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm HIV: Là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời. HIV gây tổn thƣơng hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết ngƣời [12, 18].
AIDS: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV đƣợc thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thƣ và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong [12, 18]. Ngƣời nhiễm HIV: Một ngƣời đƣợc xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dƣơng tính cả ba lần xét nghiệm kháng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và phƣơng pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau [6, 8]. Thuốc ARV: Là thuốc kháng virut sao chép ngƣợc [20]. Điều trị ARV: Là liệu pháp kháng virut sao chép ngƣợc, sử dụng phối hợp ba hoặc nhiều loại thuốc ARV để ức chế virut và phải điều trị suốt đời [20].
Tuân thủ điều trị ARV: Là uống đúng thuốc, đúng liều, đúng thời gian và đòi hỏi bệnh nhân phải tham gia điều trị liên tục suốt đời. Để đạt kết quả điều trị tốt, mức độ tuân thủ yêu cầu từ 95% trở lên, ví dụ: nếu thuốc điều trị đƣợc kê đơn uống 2 lần/ngày thì bệnh nhân không đƣợc quên quá 3 lần/tháng. Tuân thủ điều trị ARV là yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo sự thành công của điều trị, tránh sự xuất hiện kháng thuốc. - Uống đúng thuốc: Uống đủ số lƣợng thuốc đƣợc kê.
- Uống đúng liều, đúng thời gian: Đối với thuốc uống 2 lần/ngày phải uống cách nhau 12 giờ [6]. Nhiễm trùng cơ hội: Là nhiễm trùng xảy ra do cơ thể bị suy giảm miễn dịch vì bị nhiễm HIV [12, 18]. Điều trị thuốc kháng HIV (điều trị ARV) 1. Mục đích của điều trị ARV - Ức chế sự nhân lên của virus và kìm hãm lƣợng virus trong máu mức thấp nhất.
- Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội. - Cải thiện chất lƣợng sống và tăng khả năng sống sót cho ngƣời bệnh [8]. Nguyên tắc điều trị ARV - Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS. - Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và đƣợc chỉ định khi ngƣời bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng, và/hoặc xét nghiệm và chứng tỏ đã sẵn sàng điều trị.
- Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc. Điều trị ARV là điều trị suốt đời; ngƣời bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc. - Ngƣời nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm virus cho ngƣời khác. - Ngƣời nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chƣa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội [8].
Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV (theo QĐ 4139/BYT ban hành 2/11/2011) - Ngƣời nhiễm HIV có số lƣợng tế bào TCD4 ≤ 350 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng. - Ngƣời nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3,4 không phụ thuộc số lƣợng tế bào TCD4 [10]. Quy trình điều trị ARV - Cung cấp thông tin về phác đồ điều trị ARV mà ngƣời nhiễm HIV sẽ sử dụng: tên thuốc, liều lƣợng, cách uống thuốc, tác dụng phụ và xử trí tác dụng phụ của thuốc. - Tƣ vấn về tuân thủ điều trị và sự cần thiết của ngƣời hỗ trợ điều trị cho ngƣời nhiễm HIV.
- Đánh giá sự sẵn sàng điều trị ARV của ngƣời nhiễm HIV. 6 - Cấp thuốc ARV khi ngƣời nhiễm HIV sẵn sàng điều trị và thông báo về lịch cấp thuốc (định kỳ hàng tháng). - Thông báo cho ngƣời nhiễm HIV về lịch tái khám: + Đối với trẻ em: Tái khám từ 01 đến 03 tháng/lần tùy thuộc vào độ tuổi và tình trạng bệnh của trẻ. + Đối với ngƣời lớn: Tái khám hàng tháng trong 06 tháng sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng HIV, sau đó căn cứ vào mức độ đáp ứng điều trị và tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh có thể tái khám 06 tháng/lần.
- Trƣờng hợp tình trạng bệnh của ngƣời nhiễm HIV vƣợt quá khả năng điều trị của cơ sở điều trị thì phải thực hiện việc chuyển ngƣời bệnh đến cơ sở y tế có đủ khả năng điều trị. - Cấp phiếu chuyển tiếp điều trị đối với trƣờng hợp ngƣời bệnh chuyển sang điều trị tại cơ sở điều trị khác. - Ghi chép đầy đủ thông tin của ngƣời nhiễm HIV vào sổ điều trị bằng thuốc kháng HIV [11]. Theo dõi điều trị ARV - Ngƣời bệnh bắt đầu điều trị ARV cần đƣợc tái khám và phát thuốc định kỳ.
- Thăm khám thƣờng xuyên trong giai đoạn đầu để đƣợc tƣ vấn, hỗ trợ tuân thủ và theo dõi tác dụng phụ khi bắt đầu điều trị. - Khi ngƣời bệnh tuân thủ và dung nạp thuốc tốt, các triệu chứng lâm sàng đƣợc cải thiện, thời gian giữa các lần tái khám là 1 tháng.