CHƯƠNG 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU Theo điều 25 Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người: "Mọi người đều có quyền có mức song đầy đủ cho sức khoẻ, phúc lợi cùa bán thán và gia đình, bao gồm ăn, mặc, nhà ở và được chăm sóc y tế, cũng như các dịch vụ xà hội cân thiêi và quyển được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm. khi về già hoặc gặp những thiếu thôn đời sông khác trong những hoàn cành vượt quá kha năng đoi phó cùa họ” [381- Hiển pháp của nước Cộng hoà Xã hội Chù nghĩa Việt Nam dã quy định: "Nhà nước, xã hội gia đình và công dân có trách nhiệm bào vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực hiện chương trình dán so và kế hoạch hoá gia đình” [5]. Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã khắng định: "Công tác thanh niên là van đề sống còn của dán tộc, là một trong những nhãn tò quyết định sự thành bại cùa cách mạng". Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010" với mục ticu chung nham dam bảo đến năm 2010 tình trạng sức khoe sinh sản dược cài thiện rõ rệt [91.
Tổng quan các khái niệm, định nghĩa và phân loại vị thành niên (VTN) và trẻ VTN có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB) I. Khái niệm, định nghĩa và phân loại vị thành niên ỉ. Khái niệm, định nghĩa vê trẻ em Trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/11/1989 đã nhác lại diều được ghi nhận trong tuyên ngôn về quyền trê cm 1959: "Trẻ em là người còn non nớt về thế chất và trí tuệ. cần phái báo vệ và chăm sóc đặc biệt kê cá sự bao vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”.
Điêu 1 của Công ước Quổc tẻ về quyền trẻ qui định "Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trè em dược quy định tuồi thành niên sớm hơn” [381 Trong những quy tắc tối thiểu cùa Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên được ghi nhận trong phần II. diều 11: "Những người chua thành niên là 4 người dưới 18 /HỚi"[38]. Bộ luật dân sự của Việt Nam, tại điều 20 quy định: "Người đủ 18 tuồi trờ lên là người thành niên, người chưa đù 18 tuổi là người chưa thành niên". Khái niệm, định nghĩa vị thành niên Thuật ngữ Adolescent được đưa ra vào năm 1904 theo đề xuất của nhà tâm lý học G.Stanley Hal, nhăm đê chi một thời ký quá độ từ tré con chuyên lên người lớn.
Nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc dang trưởng thành. Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước ta (như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động) có dùng thuật ngữ "Người chưa thành niên" và có quy định rõ hơn về độ tuổi và mức độ mà người chưa thành niên phãi chịu trách nhiệm đối với từng hành vi của mình. Vị thành niên là một giai đoạn (một thời kỳ) trong quá trình phát triên của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng để đạt tới sự trường thành về cơ thể, sự tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách để có thể nhận lãnh trách nhiệm xà hội đầy đủ. Giai doạn này được hiếu một cách đơn giản là giai đoạn "sau trẻ con và trước người lớn" của mỗi cá thê.
còn được gọi là "Thời kỳ’ vị thành niên". Thời kỳ VTN cà nam và nữ đều có những thay đoi nhanh chóng về tâm lý, sinh lý cùa cơ thề. Giữa nam và nữ có những thay dổi giong nhau và có những thay dổi khác nhau, nhưng nhìn chung đặc điểm quan trọng nổi lên mà không thấy ở các lứa tuổi khác, đó là hiện tượng "dậy thì", được thế hiện rõ nhất ớ sự phát triển tăng vọt về chiều cao, cân nặng cơ thể và sự trưởng thành về giới tính, tính dục. Dậy thì, dưới góc độ sinh lý học, dậy thì là thời kỳ trưởng thành sinh dục, nghĩa là có khả năng có con.
Trong tuổi này, con người phải trải qua những biến đối lớn về cấu trúc cơ thế, về các chức năng cũng như các hành vi. Đỏ là một bước ngoặt cơ bản trong dời sống của mồi con người, mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua. Giới hạn của tuồi này cũng như ý nghĩa của nó đối với sự phát triền của cá nhân có thê thay đôi tuỳ theo giới, đặc điểm cá nhân và môi trường sống (khí hậu. Tuổi dậy thì ờ nam và nữ có sự khác nhau, nhìn chung 5 nữ dậy thì sớm hơn nam khoảng 2 tuổi.
Các em gái có thể bắt dầu bước vào giai đoạn này từ 9 - 12 tuổi và kết thúc vào 17 - 18 tuổi. Các em trai bắt đầu giai đoạn này chậm hơn, khoảng 10- 14 tuổi và kết thúc vào 19-20 tuổi. Thời kỳ dậy thì chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn trước dậy thì ở nữ là 11 - 13 tuổi; ở nam là 13 - 15 tuổi. - Giai doạn chính thức là giai đoạn tiếp theo: ở nữ là 13 - 15, ờ nam là 15-17 tuồi.
Những biến đổi của tuổi dậy thì Những biến đổi cùa tuổi dậy thì xuất hiện do ảnh hưởng cùa tuyển nội tiết, quan trọng là tuyến yên nẳm ở dưới đáy não. Tuyến yên tiết ra hoóc môn. được đưa vào máu và tới các bộ phận khác cúa cơ thề. kích thích sự tăng trưởng và phát triển.
Thường là trong một hai năm đầu của thời kỳ dậy thì, não thuỳ tiết ra một loại hoóc môn kiểm soát sự phát triển của tuyển sinh dục: buồng trứng cùa nĩr và tinh hoàn của nam. Buồng trứng và tinh hoàn tiết ra những hoóc môn khác nhau làm phát triển những đặc tính thể chất của người nam hoặc người nữ trưởng thành. Lúc này đứa trẻ trở thành một thiểu nữ và cuối cùng bước vào giai đoạn phát triển khả năng sinh sàn. về nội tiết: Tuyến dưới não và tuyến sinh dục ở nam và nữ tiết ra nhũng hoóc môn khác nhau.
Ớ nam là những hoóc môn nam tính chủ yếu là chất tcstosteron do các tế bào kẽ trong tinh hoàn tiết ra. ơ nữ là những hoóc môn nữ tính chu yếu là oestrogen làm chín trứng do nang trứng tiết ra và chất progesteron do the vàng và nhau thai tiết ra. về cấu tạo CO' thế + Có đặc tính phụ như: mọc râu, ria mép ở nam, có lớp mỡ dày dưới da ờ nữ. + Cỏ những đặc tính cơ bản như: tinh hoàn sản xuất tinh trùng ở nam, buồng trứng sân xuất trứng và dạ con phát triền (là nơi nuôi dưỡng thai nhi) ở nữ.
Nam hơn nữ ở tầm vóc. sức khoè cơ bắp, ít bị mắc bệnh truyền nhiễm. Nữ hơn nam ở độ ben của hệ mạch: ít bị vỡ và ít bị xơ cứng [47], Khi trẻ gái tới tuổi dậy thì, cỏ nhiều biến đối quan trọng về cơ thề, tâm sinh lý. tính cách như: Lớn nhanh, cơ thể trở nên mềm mại và nữ tính, ngực và vú phát 6 ■ triển.
Đặc trưng của dậy thì nữ là xuất hiện kinh nguyệt, kinh nguyệt là sự báo hiệu khả năng thụ thai của trẻ gái, tử cung đã có đủ khả năng đảm bảo cho thai nhi phát triển nếu như có sự thụ tinh diễn ra. Dấu hiệu dậy thì ớ nam VTN khác nhiều so với nữ VTN. Vóc dáng cơ thế ớ nam VTN thay dổi nhanh như: Chiều cao tăng, phát triển cơ bắp, giọng nói thay dối rõ rệt, xuất hiện lông mu. lông ở nơi khác và râu,.
Song sự thay đối quan trọng nhất là bộ phận sinh dục do tác dộng của hoóc môn sinh dục nam testosteron. Tinh hoàn bắt đầu phát triển và sản xuất ra tinh trùng, dương vật cũng phát triển to ra. Sau một thời gian xuất hiện mộng tinh. Tinh trùng lúc này có khả năng gây thụ thai nếu như QHTD mà không sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu.
Phân loại vị thành niên Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10-19 tuổi là dộ tuổi vị thành niên. Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19-24 tuổi [40]. Trong đề tài này khái niệm VTN-HCĐB được định nghĩa là những trẻ trong độ tuổi 10-19. có hoàn cảnh khó khăn dang dược nuôi dưỡng tại các cơ sở dóng trèn địa bàn quận cầu Giấy, Hà Nội.
Khái niệm, định nghĩa và phân loại vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB ) 1. Khải niệm, định nghĩa vị thành niên có HCĐB Thế giới: Những người có mức sống dưới ngưỡng nghèo khó, với thu nhập dưới 1 đô la Mỹ /người/ngày tính theo Tỷ giá sức mua tương đương (PPP) do Ngân hàng Thế giới áp dụng vào nãm 1990, họ là những người có HCĐB [64]. Việt Nam: Hiện có những quan niệm khác biệt nhất định về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Theo qui định tại Quyết định số I34/1999/QD-TTg, Quyết định số: 19/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về bào vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm: trẻ em lang thang; trẻ nhiễm HIV /AIDS; tré em làm trái pháp luật; trẻ em bị lạm dụng tình dục; trẻ em bị xâm hại bởi tệ nạn ma túy.
Theo quyết định số 65/2005/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ vê việc phê duyệt đê án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. trẻ em 7 bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trè em là nạn nhân của chất độc hoá học và tré em bị nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010" trẻ em có hoàn canh dặc biệt khó khăn gồm: - Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, - Trẻ em bị bỏ rơi, - Trè em bị tàn tật nặng - Trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học Dacam/Dioxin chiến tranh, - Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS [35] Ngày 13/4/2007 Chinh phủ đà ban hành Nghị định số: 67/2007/ND-CP (gọi tat là Nghị định 67) về chính sách trợ giúp các đối tượng bâo trợ xã hội. Điểm mới của Nghị định 67 so với các Nghị định và Quy định trước đó là Nghị định 67 dã thống nhất được tên gọi đối tượng xã hội có hoàn cành đặc biệt khó khăn là dối tượng bảo trợ xà hội. Theo Nghị định 67, trẻ có HCĐB được nuôi dưỡng là nhùng trẻ dưới 18 tuổi mồ côi hoặc mất nguồn nuôi dưỡng sống trong các gia đình đặc bict khó khăn không tự lo được cuộc sống, không có điều kiện sống tại gia đình 114].
Ngày 5/6/2007, tại thành phố Hạ Long. Quảng Ninh, Bộ LĐTBXH tố chức Hội thảo tham vấn dự thào Nghị định sửa đổi bồ sung Nghị định 25/2001/NĐ-CP \ e ban hành quy chế thành lập và hoạt động các cơ sở bảo trợ xã hội.