ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường type 2 là một vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhiều người, nhất là nhóm người trong độ tuổi lao động. Tốc độ phát triển của bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Năm 2008, ước tính tỷ lệ hiện mắc bệnh đái tháo đường trên toàn cầu là 10% ở người trưởng thành trên 25 tuổi. Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải và châu Mỹ (11%) và thấp nhất ở khu vực châu Âu và Tây Thái Bình Dương (9%) [42], [54].
Đến năm 2011, số người mắc đái tháo đường trên toàn thế giới là 366 triệu người [18]. Quy mô vấn đề còn lớn hơn nữa nếu tính cả các trường hợp tiền đái tháo đường, là nhóm có nguy cơ cao của đái tháo đường type 2 và cũng có thể gây nên các biến chứng vi mạch như bệnh võng mạc, bệnh thận. Dự tính tới năm 2030, số người mắc đái tháo đường trên toàn thế giới sẽ là 552 triệu người [44]. Đái tháo đường cũng là một trong những yếu tố nguy cơ gây tử vong và tàn tật cao ở hầu hết các nước (khoảng 6% tổng số tử vong toàn cầu) [55].
Ước tính trong năm 2010, trên thế giới có 3,96 triệu người từ 20-70 tuổi chết vì đái tháo đường và đã lấy đi của hệ thống y tế ít nhất là 465 tỷ USD hay 11% tổng chi tiêu chăm sóc sức khỏe toàn cầu [50]. Tới năm 2030, con số này ước tính là hơn 595 tỷ USD [46]. Tại Việt Nam, kết quả điều tra về đái tháo đường cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường lứa tuổi 30-69 tuổi toàn quốc là 2,7% vào năm 2002 [29], đã tăng gấp 3 lần, lên 9,2% năm 2014 [3]. Đây là điều đáng báo động khi tỷ lệ đái tháo đường gia tăng nhanh hơn dự báo.
Tỷ lệ tiền đái tháo đường tăng từ 13,5% năm 2012 lên 24,9% năm 2014 [5]. Dự báo đến năm 2030, số người mắc đái tháo đường sẽ là 3,42 triệu người, tăng 88.000 người một năm [52]. Tại Đồng Tháp, năm 2012, tác giả Nguyễn Ngọc Ấn và cộng sự đã điều tra 3.600 đối tượng từ 45-69 tuổi, kết quả: tỷ lệ mắc đái tháo đường là 9,9% [15], cao hơn tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc năm 2014 (9,2%). Thành phố Cao Lãnh nằm ngay trung tâm tỉnh Đồng Tháp, kinh tế phát triển nhanh, đời sống người dân ngày càng cải thiện, tình hình đô thị hóa nhanh chóng, 2 dẫn đến sự thay đổi lối sống, thói quen ăn uống.
Tất cả sự thay đổi đó đã hình thành những hành vi nguy cơ làm gia tăng bệnh đái tháo đường. Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng Đồng Tháp, Thành phố Cao Lãnh có tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng nhanh từ 4,84% (năm 2012) lên 12,1% (năm 2014); tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường tăng từ 11% (năm 2012) lên 32,7% (năm 2014) [35], [32]. Điều đáng quan tâm là trong khi bệnh đái tháo đường ngày càng gia tăng thì kiến thức và thực hành phòng bệnh của người dân còn rất hạn chế. Nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang, Lê Phong năm 2011 cho thấy: Về kiến thức phòng bệnh: tỷ lệ đối tượng có kiến thức chung rất kém là 57% và tốt là 1,4%; tỷ lệ đối tượng có kiến thức về yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường kém là 91,9% và tốt là 0,3%; Về thực hành phòng bệnh: tỷ lệ đối tượng có thói quen không tốt (ăn mỡ động vật, đồ rán) là 27,4%; tỷ lệ đối tượng có thói quen ăn ít rau là 25,1% [19].
Tại Đồng Tháp, đến nay trên địa bàn Tỉnh chưa có số liệu thống kê về kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường của người dân. Để có số liệu chính xác, làm nền tảng cho việc đề ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả, góp phần nâng cao hiểu biết của người dân Đồng Tháp về phòng bệnh đái tháo đường, có một nghiên cứu mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường và một số yếu tố liên quan của người dân nơi đây là vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường type 2 và một số yếu tố liên quan của người dân từ 30-69 tuổi, tại Phường 4, Thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp năm 2016.” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường type 2 của người dân từ 30-69 tuổi, tại Phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, năm 2016; 2.
Xác định một số yếu tố liên quan như: trình độ học vấn; nghề nghiệp; tiền sử mắc đái tháo đường của người thân đối tượng nghiên cứu;. với kiến thức, thực hành về phòng bệnh đái tháo đường type 2 của người dân từ 30 - 69 tuổi, tại Phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, năm 2016. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa bệnh đái tháo đƣờng Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2004: “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai.
Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [41]. Chẩn đoán bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) Dựa theo khuyến cáo chẩn đoán ĐTĐ của Hiệp hội ĐTĐ Hoa kỳ (ADA) năm 1997 và những báo cáo của WHO về nguy cơ bệnh lý võng mạc ở nhiều mức đường huyết khác nhau; năm 1999, WHO đã công bố tiêu chuẩn chẩn đoán mới ĐTĐ dựa vào chỉ số xét nghiệm glucose máu lúc đói và glucose máu 2 giờ sau làm nghiệm pháp tăng đường huyết (uống 75g đường glucose không ngậm nước). Đến nay, Dự án phòng chống ĐTĐ quốc gia vẫn hướng dẫn sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA và WHO [4]. Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTD và tiền ĐTĐ dựa vào nồng độ glucose huyết tương tĩnh mạch theo ADA và WHO: * Chẩn đoán ĐTĐ - Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126mg/dl) - Hoặc: Glucose huyết tương 2 giờ sau làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl).
- Hoặc: HbA1C ≥ 6,5% - Hoặc: Glucose huyết tương thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) và bệnh nhân có các triệu chứng cấp tính của tăng glucose máu như: gầy sút cân, khát nước, tiểu nhiều. * Chẩn đoán rối loạn dung nạp glucose - Glucose huyết tương lúc đói < 7,0 mmol/l (126mg/dl) - Và: Glucose huyết tương 2 giờ sau làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 7,8 mmol/l và ≤ 11,1 mmol/l (140-200mg/dl) 5 * Chẩn đoán rối loạn glucose máu lúc đói - Glucose huyết tương lúc đói: 5,6 - 6,9 mmol/l (100-125 mg/dl) - Và: Glucose huyết tương 2 giờ sau làm nghiệm pháp tăng đường huyết < 7,8 mmol/l (140 mg/dl) * Bình thƣờng: Glucose huyết tương lúc đói < 5,6 mmol/l. Hiện nay rối loạn dung nạp glucose và rối loạn đường huyết lúc đói được coi là tiền ĐTĐ. Người tiền ĐTĐ có nguy cơ bị ĐTĐ type 2 cao gấp 3-10 lần so với người bình thường.
Khoảng 30-40% người tiền ĐTĐ sẽ tiến triển thành bệnh ĐTĐ trong vòng 5 năm (nếu không được can thiệp để khống chế) [4]. Phân loại bệnh đái tháo đƣờng * Phân loại đầu tiên về bệnh đái tháo đường Phân loại đái tháo đường được nhóm nghiên cứu dữ liệu ĐTĐ quốc gia của Mỹ xây dựng và công bố vào năm 1979, được Hội đồng chuyên gia về ĐTĐ của Tổ chức Y tế Thế giới và Nhóm nghiên cứu của WHO chấp thuận vào năm 1980. Chia ĐTĐ thành 5 thể riêng biệt: ĐTĐ phụ thuộc insulin (ĐTĐ type 1); ĐTĐ không phụ thuộc insulin (ĐTĐ type 2); ĐTĐ thai kỳ; ĐTĐ liên quan đến dinh dưỡng; Các thể ĐTĐ khác. * Phân loại năm 1999 Đến năm 1999, có những thay đổi về thuật ngữ, theo đó ĐTĐ phụ thuộc Insulin và ĐTĐ không phụ thuộc Insulin không còn được sử dụng vì những thuật ngữ này có thể dẫn đến một số nhầm lẫn và bệnh nhân thường được phân loại dựa vào biện pháp điều trị hơn là dựa vào nguyên nhân gây bệnh.
Từ đó Tổ chức Y tế Thế giới phân bệnh ĐTĐ thành 4 loại [24]: - Đái tháo đường type 1: Do quá trình tự miễn dịch phá hủy tế bào bê ta của tụy dẫn đến sự thiếu hụt insulin tuyệt đối. Bệnh ĐTĐ type 1 ước tính chiếm khoảng 5-10% bệnh ĐTĐ. - Đái tháo đường type 2: Hậu quả kháng insulin hoặc/ và suy giảm tăng dần bài tiết insulin của tuyến tụy. Bệnh ĐTĐ type 2 ước tính chiếm khoảng 80-90% bệnh ĐTĐ.
Bệnh ĐTĐ type 2 là sự tác động giữa yếu tố gen và môi trường sống. Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh. Phần lớn bệnh 6 nhân ĐTĐ type 2 là bệnh nhân béo phì. Những bệnh nhân không bị béo phì có thể có sự tăng lên tỷ lệ phân bố mỡ nội tạng tập trung ở vùng bụng.
- Đái tháo đường thai kỳ: ĐTĐ được phát hiện khi mang thai. Mặc dù đa số các trường hợp, khả năng dung nạp glucose có cải thiện sau thời gian mang thai, nhưng vẫn có sự tăng đáng kể nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ type 2 về sau này. - Đái tháo đường khác do nhiều nguyên nhân khác nhau: Khiếm khuyết gen của tế bào bê ta hoặc rối loạn quá trình chuyển hóa glucose (thể MODY), đột biến gen ảnh hưởng đến hoạt động của insulin, bệnh lý tụy, thuốc, hóa chất… 1. Các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh đái tháo đƣờng type 2 ĐTĐ type 2 là hậu quả của sự kết hợp, tác động qua lại phức tạp giữa yếu tố gen và lối sống.
Mặc dù gen là yếu tố cơ bản để phát triển bệnh ĐTĐ, nhưng bệnh chỉ xuất hiện khi có sự kết hợp với lối sống. Sự gia tăng nhanh chóng của bệnh ĐTĐ type 2 đã chứng minh vai trò quan trọng của yếu tố lối sống. Những nơi có sự tăng lên nhanh chóng của bệnh ĐTĐ type 2 là những cộng đồng dân cư có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống. Những thay đổi bao gồm thay đổi trong chế độ dinh dưỡng (gia tăng tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng) và giảm vận động.
Đây là các yếu tố thuận lợi làm gia tăng tình trạng quá cân và béo phì - những yếu tố nguy cơ cao của bệnh ĐTĐ type 2. Các yếu tố nguy cơ cao của bệnh ĐTĐ type 2 bao gồm các yếu tố không thay đổi được và các yếu tố có thể thay đổi được: 1.