phần mở đầu, danh mục bảng, biểu đồ, hình, phụ lục, tài liệu tham khảo, và kết luận. Kết cấu chính của luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Thành phố Hà Nội. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công táckiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại TP Hà Nộiđến năm 2025.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀCƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng cơ bản của hoạt động quản lý thuế. Chính vì vậy trong thời gian qua ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thanh tra, kiểm tra thuế dƣới dạng giáo trình, luận ăn tiến sĩ, luận văn thạc sĩ hoặc một số bài báo. Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu sau: - Luận văn của tác giả Nguyễn Chí Dũng (2009) về Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính tuân thủ của ngƣời nộp thuế trong điều kiệm Việt Nam đã tập trung vào việc phân tích NNT dƣới giác độ tuân thủ, đã nêu đƣợc vài trò của thanh tra, kiểm tra thuế đối với việc nâng cao tính tuân thủ của NNT.
Tác giả đã đƣa ra các nhóm giải pháp xây dựng bộ tiêu chiếu đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra nhƣ: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra/ kiểm tra/ số doanh nghiệp trong vòng 1 năm; tỷ lệ (%) độ chính xác trong việc phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra, kiểm tra - Luận văn của tác giản Lê Thị Phƣơng Thảo (2009) về Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế ở Việt Nam cũng đã phân thích thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế qua 3 nội dung: Đăng ký thuế, chấp hành chế độ kế toán sổ sách, chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế và nộp thuế. Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá, lựa chọn xếp loại donah nghiệp để xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra cho phù hợp; phân cấp quản lý doanh nghiệp cho các cấp để chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách. - Luận văn của tác giả Ngô Thị Thu Hƣơng (2011) về Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với ngƣời nộp thuế trong tiến trình hiện đại học công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã tập trung nghiên cứu về hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế là đáng kể so với các công trình trƣớc đó. Tác giả đã kế thừa, đƣa ra những 4 c tiêu chí định lƣợng và định tính về hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế, nêu lên đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế nhƣ điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí, mô hình quản lý thuế, cơ chế quản lý thuế - Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Ánh (2012), về Hoạt động kiểm tra, thanh tra tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng đã đi đến kết luận Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng xác định kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý thu thuế.
Công tác kiểm tra, thanh tra thuế của tỉnh Lâm Đồng đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, đã góp phần quan trọng vào kết quả chung của ngành thuế. Qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế đã phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thuế, kiến nghị sữa đổi bổ sung cơ chế chính sách về thuế.góp phần tích cực trong việc chống thất thu ngân sách nhà nƣớc, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngƣời nộp thuế. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng vẫn còn nhiều bất cập, khiến cho công tác quản lý thuế chƣa thực sự hiệu quả. Trên cơ sở định hƣớng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, để công tác kiểm tra, thanh tra thuế hiệu quả, Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng cần thực hiện các giải pháp nhƣ: kiện toàn đội ngũ kiểm tra, thanh tra đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tăng cƣờng kiểm tra việc thực hiện các nghiệp vụ quản lý, đồng thời các kiến nghị với ngành thuế, UBND tỉnh Lâm đồng, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nƣớc và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và Quản lý thuế nhằm thực hiện tốt quá trình hoàn thiện kiểm tra, thanh tra thuế theo cơ chế tự khai tự nộp thuế trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng góp phần phát triển kinh tế, xã hội tỉnh - Luận văn của tác giả Lê Hữu Giang (2016) về Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục Thuế huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa đã khẳng đinh doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế của huyên Quảng Xƣơng, tuye nhiên hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế với đối tƣơng này vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập.
Luận văn cho rằng qua thanh tra, kiểm tra thuế tại huyện Quảng Xƣơng tỉnh Thanh Hóa, trong 5 c nhiều năm qua đã không ít doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở của các chính sách, chế độ, luật thuế hoặc dựa vào tính chất phức tạp trong hoạt động kinh doanh, khó kiểm soát để khai man, trốn lậu thuế, chây ì, chậm nộp thuế làm thất thoát và ảnh hƣởng đến công tác thu ngân sách Nhà nƣớc (NSNN). Mặc dù, Chi cục thuế huyện Quảng Xƣơng đã đƣa ra nhiều giải pháp để quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên đến nay chƣa có một đề tài nào nghiên cứu sâu về giải pháp để tăng cƣờng công tác kiểm tra thuế đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính vì vậy, sau nghiên cứu, tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nhƣ tăng cƣờng hệ thống tin học, đào tạo nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, tăng cƣờng phối hợp giữa các ban ngành.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu về thuế và thanh tra, kiểm tra thuế cho thấy: việc nghiên cứu thƣờng tập trung chính vào nghiên cứu thực trạng cơ quan, địa bàn nghiên cứu để chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất một số giải pháp hoàn công tác kiểm tra thuế đối với phạm vi nghiên cứu đề ra. Với đặc thù. Xét phạm vi Hà Nội là thu đô với số lƣợng doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài lớn, hoạt động nhiều lĩnh vực, do đó, công tác kiểm tra thuế đạt hiệu quả là rất quan trọng, do đó, nghiên cứu vấn đề này với đối tƣơng, pham vi nghiên cứu riêng biệt, nên đề tài là không trùng lắp với những công trình đã có. Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của công tác kiểm tra thuế 1.
Khái niệm về thuế, kiểm tra thuế Thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nƣớc. Khi Nhà nƣớc ra đời, thuế là công cụ để Nhà nƣớc có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình ban hành các Luật thuế để bắt buộc các đối tƣợng thuộc phạm vi điều chỉnh đóng góp cho NSNN. Thuế là khoản đóng góp theo luật định của ngƣời nộp thuế cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc.
6 c Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Đặc điểm này đƣợc thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Nhà nƣớc dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nƣớc có nguồn thu ổn định, thƣờng xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thƣờng xuyên của Nhà nƣớc mà vẫn ổn định đƣợc NSNN. Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó.
Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho NSNN và thuế đối với các khoản vay mƣợn của Chính Phủ.Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế vận động một chiều, trên cơ sở các số thuế thu đƣợc, Nhà nƣớc sẽ sử dụng cho những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nƣớc và mọi cá nhân trong xã hội. Số thuế mà các đối tƣợng phải nộp cho Nhà nƣớc đƣợc tính toán không dựa trên khối lƣợng lợi ích công cộng họ nhận đƣợc mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ. Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí.
Các sắc thuế theo quy định hiện nay bao gồm: Phí Môn Bài, thuế GTGT, thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhà thầu, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trƣờng, thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trƣớc bạ, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ngoài ra Cơ quan thuế còn quản lý thutiền sử dụng đất, tiền thuê đất, một số loại thuế, phí khác. Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế đối với đối tượng kiểm tra thuế (là các tổ chức, cá nhân kê khai thuế), từxđó đối chiếu vớichức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá, xử lý các sai phạm. Mục đích của kiểm tra thuế 7 c Thanh tra, kiểm tra thuế là chức năng không thể thiếu trong công tác quản lý thuế. Tổ chức hoạt động thanh tra thuế, kiểm tra thuế nhằm các mục đích cụ thể sau: Thứ nhất, phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền biện pháp khắc phục.
Cơ quan quản lý thuế kiểm tra việc tự khai tự nộp thuế của các chủ thể trong nền kinh tế, để phản hồi lại việc NNT có thực hiện đúng quy định của pháp luật không, chính sách pháp luật có phù hợp với thực tiễn hay không phải thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Qua việc xem xét, đánh giá tình hình chấp hành pháp luật thuế của NNT, Cơ quan Thuế có thể nhận thấy những sơ hở về quy chế, những quy định không phù hợp với NNT để kiến nghị cấp trên sửa đổi và hoàn thiện. Thứ hai, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật.