Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1. Những vấn đề lý luận về kiểm tra hàng hóa sau thông quan 1. Khái niệm, đặc điểm của kiểm tra hàng hóa sau thông quan 1. Khái niệm kiểm tra hàng hóa sau thông quan Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được hình thành và hoàn thiện dần cùng với việc hình thành và phát triển của khoa học về quản lý rủi ro (QLRR - risk management) trong quá trình hoạt động của hải quan các nước trên thế giới.
Quản lý rủi ro nghĩa là không quản lý toàn bộ các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu mà quản lý dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro của các thông tin về lô hàng, quản lý theo mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, rút ngắn quy trình, thời gian thông quan, hoặc thông quan trước, sử dụng thông tin đến trước để thông quan và nhận ngay hàng sau khi cập cảng. Hoạt động này đã được Hội đồng hợp tác Hải quan, tiền thân của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), triển khai áp dụng từ những năm 1960. Theo công ước Kyoto được sửa đổi, bổ sung 1999 của (WCO), kiểm tra hàng hóa sau thông quan (Post-clearance audit) hay còn gọi là “ kiểm tra hải quan trên cơ sở kiểm toán ” (Audit- based control). Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp do cơ quan hải quan tiến hành để kiểm tra sự chuẩn xác và trung thực của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra sổ sách chứng từ, hệ thống kinh doanh hay các số liệu thương mại do các bên có liên quan đang quản lý.
Có thể thấy, KTSTQ là yêu cầu tất yếu của quản lý hải quan hiện đại, nhằm đáp ứng những đòi hỏi khách quan của quá trình hội nhập kinh tế và phát triển thương mại quốc tế. Nhật Bản là một trong những nước áp dụng hoạt động kiểm tra hàng hóa sau thông quan đầu tiên. Hải quan Nhật Bản thí điểm kiểm tra hàng hóa sau thông quan từ năm 1967 và chính thức áp dụng hệ thống này vào năm 1968. Nhật Bản quy định “Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằm thẩm định tính chính xác và trung thực của khai hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổ chức cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương 8 mại quốc tế”.
Ở các nước phát triển như Đức, Mỹ, Ý, Pháp. KTSTQ đã được hình thành từ hàng trăm năm trước với việc thừa nhận quyền hạn của Hải quan trong việc kiểm tra các chứng từ có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu. Pháp từ cuối thế kỷ 19 đã ghi nhận quyền kiểm tra chứng từ và sổ sách kế toán của hải quan. Dưới góc độ là một nội dung mang tính thỏa thuận quốc tế, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Hội đồng hợp tác Hải quan thế giới (Tổ chức Hải quan thế giới - WCO ngày nay) đã có những nghiên cứu đầu tiên về các biện pháp quản lý hải quan tiên tiến, trong đó có biện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan.
Theo Tổ chức Hải quan thế giới WCO, thì: “Duy trì và phát triển hệ thống KTSTQ là tuyệt đối cần thiết, vì một hệ thống KTSTQ đủ mạnh có thể phát hiện và ngăn chặn mọi hình thức gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận qua giá, dù cho hệ thống giá tính thuế đó được xác định theo bất cứ phương pháp nào”. Ở các nước ASEAN, trong Sổ tay hướng dẫn về KTSTQ của Tổ chức Hải quan ASEAN được công bố tại cuộc họp Tổng cục trưởng ASEAN tại Thái Lan tháng 8/2003 đã nêu: “ KTSTQ là một biện pháp hải quan có hệ thống mà cơ quan hải quan tự thỏa mãn về độ chính xác và tính trung thực của việc khai báo hải quan thông báo việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế”. Hiệp định Hải quan ASEAN 2012 nêu: Sau khi giải phóng hàng hóa và nhằm đảm bảo độ chính xác của các chi tiết cụ thể trong khai báo hải quan, cơ quan hải quan của nước thành viên kiểm tra bất cứ chứng từ và dữ liệu nào liên quan đến các hoạt động đối với hàng hóa nghi vấn. Ở Việt Nam, năm 2014 quy định: KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.
Việc KTSTQ nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu người khai hải quan. Từ các khái niệm liên quan, các quan niệm có tính quốc tế và theo quy định 9 của pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể xây dựng một khái niệm chung về KTSTQ như sau: “KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan được thực hiện đối với hàng hóa sau khi đã thông quan để đảm bảo tính chính xác và trung thực của các nội dung khai báo hải quan trong quá trình xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa đó”. Như vậy, xét trong tổng thể hệ thống kiểm tra hải quan, KTSTQ là khâu nghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại những nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Đây là một công cụ hữu hiệu đối với công tác kiểm tra hải quan, vì nó phản ánh rõ ràng và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được phản ánh trong các sổ sách và ghi chép của doanh nghiệp.
KTSTQ cho phép cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm tra hải quan theo hướng đơn giản, ưu tiên làm thủ tục hải quan nhanh chóng, thuận tiện đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp nhưng vẫn đảm bảo việc ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu đấu tranh chống gian lận thương mại hữu hiệu nhất. Đặc điểm của kiểm tra hàng hóa sau thông quan Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan nhằm đảm bảo chức năng nhiệm vụ được giao. Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là hoạt động kiểm tra do cơ quan Hải quan thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được tiến hành nhằm xác định việc khai hải quan có tuân thủ các yêu cầu của và các qui định liên quan đến hoạt động xuất khẩu nhập khẩu hay không.
Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được tiến hành với sự hỗ trợ từ các nguồn thông tin liên quan Kiểm tra hàng hóa sau thông quan không chỉ áp dụng với đối tượng khai hải quan mà còn áp dụng với các cá nhân, tổ chức tham gia vào thương mại quốc tế. Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được tiến hành nhằm đánh giá tính chính xác trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan, đánh giá việc tuân thủ pháp và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan. Đây là đặc điểm quan trọng của KTSTQ, cơ quan Hải quan cần tiến hành các biện pháp nghiệp vụ một cách toàn diện nhằm khuyến khích các nhà xuất khẩu, nhập 10 khẩu phát huy tính tự giác tuân thủ các quy định của pháp thông qua phần tự khai báo. Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là phương pháp kiểm tra ngược thời gian, diễn ra sau khi hàng hóa đã được thông quan.
Đây là một nghiệp vụ trong quản lý rủi ro. Kiểm tra hàng hóa sau thông quan có hiệu quả đáng kể khi thực hiện kiểm tra đối với những cá nhân, tổ chức có tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu liên tục trong một thời gian nhất định và có giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu lớn dựa trên cơ sở phân tích trước thông tin về hồ sơ dữ liệu. Kiểm tra hàng hóa sau thông quan không chỉ áp dụng với đối tượng khai hải quan mà còn áp dụng với tất cả các cá nhân tổ chức trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế. Vì vậy khi thu thập thông tin, công chức Hải quan cần khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác: như ngân hàng, cơ quan thuế nội địa, các hãng bảo hiểm…Kiểm tra hàng hóa sau thông quan được coi là khâu nghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại những nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Kiểm tra hàng hóa sau thông quan là việc kiểm tra tính xác thực của các thông tin do người hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu (gọi tắt là chủ hàng) đã khai báo với hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại, ngân hàng, kế toán… có liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Để thực hiện các cuộc kiểm tra này công chức hải quan phải vận dụng các kiến thức chuyên ngành như: thương mại quốc tế, ngân hàng, kế toán… trên cơ sở tư duy kiểm toán để phát hiện gian lận, sai sót. Xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ này mà Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Organization WCO) và Hải quan các nước gọi nghiệp vụ này là Kiểm toán sau thông quan (Post Clearance Audit – PCA) hoặc “Kiểm toán Hải quan” (Customs Audit), Việt Nam gọi là Kiểm tra hàng hóa sau thông quan. Với những đặc điểm nêu trên, có thể thấy KTSTQ thể hiện rõ mục đích và ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thương mại của ngành Hải quan. Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra hàng hóa sau thông quan 1.