CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT NỘI BO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ Những năm gần đây, tình trạng gian lận trong báo cáo tài chính (BCTC) xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới, điển hình là các vụ việc của các doanh nghiệp, tập đoàn có tên tuổi như: Enron, WorldCom, Health South, Tyco International, Olympus. gây ra thiệt hại tài chính rất lớn đối với các nhà đầu tư, kéo theo hệ luy là sự phá sản của không ít các doanh nghiệp, tập đoàn lón.
Do vậy, vấn đề chất lượng thông tin kế toán đang được quan tâm hàng đầu trong hoạt động quản tri. Tại Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay, với mục tiêu đưa lĩnh vực kế toán, kiểm toán và tài chính Việt Nam tiếp cận gần nhất với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, chất lượng thông tin kế toán cũng ngày càng được chú trọng. Nghiên cứu các nhân tô ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán được nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện trên nhiều lĩnh vực nhăm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng thông tin kế toán. Trên thé giới, sau những đồ vỡ trong hoạt động kinh doanh do việc quan trị công ty yếu kém, vai trò của kiểm soát nôi bộ đã được chú ý và đề cao từ những năm 1990.
Các quy trình và hướng dẫn về kiểm soát nộ bộ như Coso (Mỹ), Turnbull (Anh), Coco (Canada) đã nhiều lần được tái bản, cập nhật và bổ Sung. Đồng thời cũng có rất nhiều nghiên cứu khác về lý thuyết kiểm soát nội bộ và lợi ích mà kiểm soát nội bộ mang lại. Cho đến dau thé kỷ 21, kiểm soát nội bộ đã trở thành đề tài nóng cùng với quản trị doanh nghiệp trước sự kiện nhiều tập đoàn kinh tế lớn cũng lâm vào tình trạng phá sản. Nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, Chính phủ và các nhà lập pháp tại nhiều quốc gia đã xây dựng luật mới, đưa ra các quy định và tiêu chuẩn về hoạt động quản trị công ty với các quy định cụ thể về kiểm soát nội bộ.
Ví dụ như đạo luật Sarbanes-Oxley năm 2002 của Mỹ (thường gọi là đạo luật SOX) đã yêu cầu các công ty đã đăng ký với UBCK Mỹ phải có báo cáo của bộ phận kiểm soát nội về báo cáo tài chính của công ty, hay Quy trình kiểm soát nội bộ của COSO (COSO’s Internal Control Integrated Framework (1992)) và Hướng dẫn của Turnbull về kiểm soát nội bộ (Turnbull’s Guidance on InternalControl (1999)) đều đã có tiếp cận sâu hơn về kiểm soát nội bộ so với đạo luật SOX, theo đó hoạt động này sẽ kiểm soát đối với toàn bộ các hoạt động của công ty chứ không chỉ đối với báo cáo tài chính Tại Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu về thông tin tài chính minh bạch từ các đối tượng quan tâm ngày càng gia tăng trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi phải có một nền tảng lý thuyết căn bản về KSNB hoàn chỉnh dé làm cơ sở cho việc quản lý doanh nghiệp ở nước ta. Tháng 01/1994, Chính phủ đã xây dựng ban hành quy chế về kiểm toán độc lập. Tiếp sau đó, tháng 7/1994, Chính phủ tiếp tục thành lập bộ máy kiểm toán nhà nước trực thuộc Chính phủ. Tháng 10/1997, Bộ Tài chính đã xây dựng và ban hành quy chế kiểm toán nội bộ được áp dụng cho các tổng công ty, tập đoàn và các doanh nghiệp nhà nước.
Các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng được xây dựng và ban hành ngay sau đó. Theo đó, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi ro và KSNB” đã hình thành định nghĩa về hệ thống KSNB. Tháng 12/2012, Bộ Tài chính đã ban hành và chuẩn hoá lại 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam theo thông lệ quốc tế ở Thông tư 214. Trong đó, chuân mực kiểm toán Việt Nam số 315 về “Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yêu thông qua hiểu biết về đơn vị kiểm toán và môi trường của đơn vi’.
Trong Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 cũng đã xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách, tiền va tài sản nhà nước phải xây dựng, duy trì hoạt động hệ thong KSNB thích hợp và có hiệu quả. Đối với lĩnh vực ngân hàng, từ năm 1998 đến năm 2011, Ngân hang Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác KSNB như Quyết định số 03/1998/QD-NHNN3; Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN, Thông tư số 44/2011/TT-NHNN. Việc nghiên cứu về KSNB ở các trường đại học cũng được rất nhiều tác giả quan tâm, cụ thể: Giáo trình kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007; Giáo trình kiểm toán của Nguyễn Quang Quynh năm 2006; Giáo trình KSNB của Trần Thị Giang Tân năm 2012. Điều 39, Luật Kế toán 2015 đã đưa ra định nghĩa về hệ thống KSNB và yêu cầu các đơn vị phải thiết lập một hệ thống KSNB hữu hiệu đề đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Với Basel II, ủy ban Basel đã từ bỏ phương pháp luận “một kích thước phù hợp với tat cả” (“one size fits all”) của hiệp ước về von năm 1988 về việc tính toán yêu cầu vốn pháp định nhỏ nhất và giới thiệu khái niệm “3 cột trụ” (three pillar concept) mà tìm kiếm dé liên minh các yêu cầu pháp định với các nguyên tắc kinh tế của quản lý rủi ro. Basel I giới hạn băng việc đo lường rủi ro thị trường và đo lường cơ bản cho rủi ro tín dụng. Basel II giới thiệu một chuỗi các cách tiếp cận rủi ro tín dụng phức tap và tập trung mới vào rủi ro vận hành. Basel IT su dụng khái nệm “three pillars”— (1) Yêu cầu vốn tối thiêu, (2) rà soát giám sát, (3) nguyên tắc thị trường.
Với Basel II, ủy ban Basel đã từ bỏ phương pháp luận “một kích thước phù hợp với tất ca” (“one size fits all”) của hiệp ước về vốn năm 1988 về việc tính toán yêu cầu vốn pháp định nhỏ nhất và giới thiệu khái niệm “3 cột trụ” (three pillar concept) mà tìm kiếm dé liên minh các yêu cầu pháp định với các nguyên tắc kinh tế của quản lý rủi ro. Basel I giới hạn bằng việc đo lường rủi ro thị trường và đo lường cơ bản cho rủi ro tín dụng. Basel II giới thiệu một chuỗi các cách tiếp cận rủi ro tín dụng phức tạp và tập trung mới vào rủi ro vận hành. Basel II sử dụng khái niệm “three pillars”— (1) Yêu cầu vốn tối thiểu, (2) rà soát giám sát, (3) nguyên tắc thị trường.
Tổng quan nghiên cứu về kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại Trong những năm qua, hệ thống NHTM Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ké về quy mô tài sản, hệ thống mạng lưới giao dich, sản phẩm dịch vụ cũng như hệ thống công nghệ ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, hệ thống NHTM cũng đang bộc lộ nhiều hạn ché, yeu kém va co nguy cơ xảy ra rủi ro. Một trong những giải pháp mang tính chiến lược và cấp thiết là việc thiết lập và nâng cấp KSNB của NHTM (Podpiera, R. KSNB đã trở thành cơ chế tự phòng chống rủi ro quan trọng và mang lại hiệu quả trong hoạt động.
Thực tế, hoạt động KSNB tại các NHTM Việt Nam mới được đề cập về mặt lý luận và áp dụng vào thực tiễn trong vai năm gan đây, tuy nhiên quá trình áp dụng còn nhiều nhiều hạn chế. Do vậy, KSNB đang được hiểu và thực hiện khác nhau cũng như chưa được đặt đúng vị trí ở mỗi ngân hàng. Nghiên cứu sẽ giúp nâng cao sự phù hợp của KSNB trong ngân hàng, nhằm tăng hiệu quả quản trị, đồng thời tuân thủ yêu cầu về KSNB của Ngân hàng Nhà nước; giúp các NHTM tại Việt Nam đạt được các mục tiêu trong hoạt động, mang lại hiệu quả cao và quản lý tốt các rủi ro của mình. Một số công trình nghiên cứu về KSNB các NHTM tại Việt Nam đã bước đầu thành công trong việc vận dụng các bộ phận cau thành của KSNB theo báo cáo COSO và Basel riêng biệt cho từng ngân hàng.
Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu định lượng xây dựng các mô hình KSNB tác động đến các mục tiêu kiểm soát ngân hàng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chưa có cách tiếp cận lý thuyết làm nền tảng nghiên cứu như lý thuyết đại diện, lý thuyết đối phó ngẫu nhiên và một số lý thuyết khác. Các đề tài được tác giả chọn lọc để tham khảo gồm có: 1. Nguyễn Thị Hương Ly, 2015.Kiểm soát nội bộ hoạt động tin dụng NHTMCP Dau Tư và Phát Triển Việt Nam.
Trường đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội.Đã phản ánh kết quả việc thực hiện chuẩn hóa hệ thống KSNB hoạt động tín dụng theo quy định của NHNN và thông lệ quốc tế cũng như những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục đối với BIDV 2. Đồng Thị Như Quỳnh, 2019. Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dung tại ngân hàn TMCP Công Thương Việt Nam - chỉ nhánh Quảng Trị. Phần tích thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NH TMCP Công thương Việt Nam - CN Quảng Tri, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện.
Nguyễn Hồng Ngọc, 2016. Kiển Soát Nội Bộ Hoạt Động Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phân Kỹ Thương Việt Nam. Đại học Ngân hàng TP. Đề cập thực trạng, những hạn chế và một số giải pháp hoàn thiện hệ thống hoạt động kiểm soát nội bộ nói chung và của hoạt động tín dụng nói riêng tại Techcombank.
Đinh Thị Thu Phương, (2014). Kiểm Soát Nội Bộ Hoạt Động Tín Dụng Tại Ngân Hang Thương Mại Cổ Phan Công thương — chỉ nhánh Bắc Đà nẵng. Đại học Đà nẵng. Nguyễn Thị Lan Hương, 2016.Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế -DHQG Hà Nội.
Dé tài đánh giá thực trạng KSNB tại Vietcombank và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB.