Luận văn: Kiểm sát tuân thủ pháp luật trong điều tra vụ án hình sự tại Phú Thọ

Nghiên cứu kiểm sát tuân thủ pháp luật trong điều tra hình sự tại Phú Thọ, luận văn thạc sĩ luật cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Luật

2023

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.1.1. Giai đoạn điều tra và sự cần thiết của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.1.3. Ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra

1.2. Mối liên hệ giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.3. Nội dung, đối tượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.3.1. Nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.3.2. Đối tượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.4.1. Phát hiện kịp thời, chính xác vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra

1.4.2. Kiên quyết đưa ra vi phạm, yêu cầu xử lý vi phạm, bảo đảm mối quan hệ chế ước - phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

1.4.3. Đưa ra phương thức hợp lý để khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra phù hợp, hiệu quả

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

2.1. Các quy định của pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

2.1.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam trước năm 2003 về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

2.1.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 2003 đến nay về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2015 - 2019)

2.2.1. Tình hình tội phạm và kết quả điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

2.2.2. Thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2015 - 2019)

2.2.3. Những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra

2.2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1. Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật

3.1.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

3.1.2. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế giám sát nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự

3.2. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

3.2.1. Nhận thức và thực hiện đúng mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác, giữa kiểm sát điều tra với các lĩnh vực công tác khác của Viện kiểm sát

3.2.2. Tăng cường công tác tập huấn, tổng kết kinh nghiệm thực hiện pháp luật

3.2.3. Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ Kiểm sát viên

3.2.4. Nâng cao cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho cán bộ kiểm sát

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là khâu then chốt, nền tảng cho toàn bộ quá trình tố tụng. Hoạt động này tiềm ẩn nhiều nguy cơ sai sót, vi phạm pháp luật, có thể dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Do đó, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) giữ vai trò vô cùng quan trọng. Đây là một phương thức giám sát chuyên trách, thường xuyên, liên tục nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo mọi hoạt động của Cơ quan điều tra (CQĐT) và Điều tra viên đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Mục tiêu cốt lõi của công tác này là phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi vi phạm, từ đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân, góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án. Luận văn của tác giả Đỗ Trần Khánh đã chỉ ra rằng, “kết quả của giai đoạn điều tra vụ án hình sự đóng vai trò quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động buộc tội”. Thông qua việc kiểm sát, Viện kiểm sát không chỉ thực hiện chức năng giám sát mà còn chủ động tham gia vào quá trình điều tra, đề ra các yêu cầu điều tra, đảm bảo việc thu thập chứng cứ được tiến hành đầy đủ, khách quan và hợp pháp. Hoạt động này là sự chế ước quyền lực cần thiết, tạo ra cơ chế kiểm soát chặt chẽ, giúp nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật. Vai trò của Kiểm sát viên trong giai đoạn này không chỉ dừng lại ở việc phê chuẩn các quyết định tố tụng mà còn phải nắm chắc tiến độ, trực tiếp kiểm sát các hoạt động điều tra quan trọng như khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can để chống oan saichống bỏ lọt tội phạm một cách hiệu quả nhất.

1.1. Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động kiểm sát điều tra

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm giám sát tính hợp pháp trong các hành vi và quyết định của các chủ thể tham gia tố tụng, chủ yếu là Cơ quan điều traĐiều tra viên. Hoạt động này bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi có kết luận điều tra. Sự cần thiết của nó xuất phát từ thực tế giai đoạn điều tra là nơi các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam được áp dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người. Nếu không có sự giám sát chặt chẽ, nguy cơ lạm quyền, bức cung, nhục hình có thể xảy ra, làm sai lệch bản chất vụ án. Luận văn nhấn mạnh, giai đoạn này “tiềm ẩn nguy cơ sai sót, vi phạm pháp luật nghiêm trọng”, do đó, kiểm sát điều tra là cơ chế hữu hiệu để đảm bảo mọi hoạt động tố tụng diễn ra khách quan, minh bạch, tuân thủ pháp luật.

1.2. Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là hai chức năng hiến định của VKSND, có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau. Thực hành quyền công tố là việc đưa ra các cáo buộc phạm tội, còn kiểm sát điều tra là đảm bảo quá trình thu thập chứng cứ để chứng minh cáo buộc đó là hợp pháp. Một hoạt động kiểm sát điều tra hiệu quả sẽ cung cấp nền tảng vững chắc cho việc thực hành quyền công tố, đảm bảo các quyết định truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội. Ngược lại, yêu cầu của việc thực hành quyền công tố đòi hỏi công tác kiểm sát phải sâu sát, chặt chẽ hơn. Như tác giả phân tích, “THQCT và KSĐT có mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại lẫn nhau”, mục tiêu chung là truy cứu trách nhiệm hình sự đúng pháp luật, không làm oan người vô tội.

II. Thách thức trong kiểm sát tuân thủ pháp luật tại Phú Thọ

Thực tiễn công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2019, theo phân tích trong luận văn, đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những hạn chế nổi bật là chất lượng kiểm sát một số vụ án chưa cao, dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tố tụng còn tồn tại. Số liệu tại Bảng 2.5 cho thấy vẫn có các vụ án bị trả hồ sơ, phản ánh quá trình thu thập chứng cứ ban đầu chưa thực sự toàn diện. Đôi khi, Kiểm sát viên chưa thực sự chủ động, sâu sát trong việc kiểm sát các hoạt động điều tra hình sự, chưa nắm chắc tiến độ hoặc chưa kịp thời phát hiện vi phạm của Điều tra viên. Luận văn chỉ rõ: “Ở một số nơi, Kiểm sát viên được phân công... chưa đầu tư nghiên cứu, chưa nắm vững các quy định của pháp luật, còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm”. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa Viện kiểm sátCơ quan điều tra đôi lúc chưa đồng bộ, thống nhất, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải quyết vụ án. Áp lực về số lượng vụ án ngày càng tăng với tính chất phức tạp, thủ đoạn tinh vi cũng là một thách thức lớn, đòi hỏi Kiểm sát viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh nghề nghiệp. Việc áp dụng các quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đặc biệt là về ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can, cũng gặp khó khăn do hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật. Những tồn tại này nếu không được khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu chống oan saichống bỏ lọt tội phạm.

2.1. Thực trạng vi phạm phổ biến trong hoạt động điều tra

Qua phân tích thực tiễn tại Phú Thọ, một số vi phạm phổ biến trong hoạt động điều tra đã được chỉ ra. Các vi phạm này bao gồm việc chậm gửi các quyết định tố tụng cho Viện kiểm sát, vi phạm về thủ tục trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, hoặc sai sót trong quá trình lập biên bản khám nghiệm, thu thập chứng cứ. Luận văn cũng đề cập đến tình trạng một số Điều tra viên chưa tuân thủ đầy đủ quy định về việc thông báo cho Kiểm sát viên khi tiến hành các hoạt động điều tra quan trọng. Những vi phạm này, dù nhỏ, đều có thể ảnh hưởng đến tính hợp pháp của chứng cứ và giá trị chứng minh của hồ sơ vụ án.

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại trong công tác kiểm sát

Nguyên nhân của các hạn chế trong công tác kiểm sát rất đa dạng. Về mặt chủ quan, một bộ phận Kiểm sát viên còn hạn chế về năng lực, kinh nghiệm thực tiễn, chưa phát huy hết nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên được pháp luật giao. Việc nghiên cứu hồ sơ đôi khi chưa kỹ lưỡng, dẫn đến không phát hiện hết các mâu thuẫn hoặc vi phạm. Về mặt khách quan, áp lực công việc lớn, số lượng án nhiều trong khi biên chế còn mỏng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhất là trong bối cảnh cải cách tư pháp. Ngoài ra, cơ chế phối hợp liên ngành đôi khi chưa thực sự hiệu quả, còn tồn tại quan điểm chưa thống nhất trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc điều tra

Để nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, cần triển khai đồng bộ nhiều phương pháp nghiệp vụ. Trước hết, cần tăng cường vai trò chủ động, tích cực của Kiểm sát viên ngay từ giai đoạn đầu của vụ án. Kiểm sát viên phải trực tiếp kiểm sát 100% các vụ án có khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các hoạt động điều tra quan trọng khác. Việc này giúp nắm bắt thông tin ban đầu một cách chính xác, định hướng điều tra hiệu quả, tránh bỏ sót dấu vết, vật chứng. Luận văn đề xuất giải pháp “Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ Kiểm sát viên”. Theo đó, cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ về hỏi cung bị can, kỹ năng phát hiện mâu thuẫn trong lời khai, kỹ năng đánh giá chứng cứ. Đặc biệt, cần chú trọng việc xây dựng các bản yêu cầu điều tra chi tiết, cụ thể, có căn cứ, buộc Cơ quan điều tra phải thực hiện đầy đủ, tránh tình trạng yêu cầu chung chung, hình thức. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi án cũng là một phương pháp hiệu quả, giúp Viện kiểm sát kiểm soát chặt chẽ thời hạn tố tụng, tiến độ điều tra, kịp thời phát hiện các vi phạm về thời hạn, đảm bảo việc giải quyết vụ án không bị kéo dài. Hơn nữa, cần phát huy hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự như một kênh thông tin quan trọng để phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra.

3.1. Tăng cường nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên tại hiện trường

Pháp luật cần quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi trực tiếp kiểm sát tại hiện trường. Kiểm sát viên không chỉ quan sát mà phải có quyền đưa ra yêu cầu, ý kiến đối với hoạt động của Điều tra viên và Hội đồng khám nghiệm. Mọi ý kiến này cần được ghi nhận trong biên bản. Việc này đảm bảo tính khách quan, toàn diện của hoạt động điều tra ban đầu, hạn chế việc bỏ sót hoặc làm sai lệch dấu vết, vật chứng, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chứng minh tội phạm về sau.

3.2. Tối ưu hóa quy trình kiểm sát việc thu thập và đánh giá chứng cứ

Quy trình kiểm sát việc thu thập chứng cứ cần được chuẩn hóa. Kiểm sát viên phải kiểm tra tính hợp pháp của mọi nguồn chứng cứ, từ lời khai, vật chứng đến kết luận giám định tư pháp. Khi phát hiện chứng cứ được thu thập không đúng trình tự, thủ tục, cần kiên quyết yêu cầu loại bỏ hoặc thực hiện lại. Đồng thời, cần nâng cao kỹ năng “số hóa” hồ sơ, phân tích, đánh giá chứng cứ trên nền tảng kỹ thuật số để phát hiện các mâu thuẫn một cách nhanh chóng và chính xác, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả kiểm sát.

IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát điều tra

Bên cạnh các giải pháp nghiệp vụ, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là yếu tố nền tảng để hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra đi vào chiều sâu và thực chất. Luận văn của Đỗ Trần Khánh đã đề xuất một số giải pháp quan trọng nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bản liên quan. Cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn nữa mối quan hệ chế ước - phối hợp giữa Viện kiểm sátCơ quan điều tra. Quy định pháp luật cần xác định rõ hơn trách nhiệm của Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát. Cụ thể, cần có chế tài mạnh mẽ hơn đối với các trường hợp Điều tra viên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu điều tra mà không có lý do chính đáng. Điều này sẽ nâng cao tính hiệu lực của các văn bản tố tụng do Viện kiểm sát ban hành. Ngoài ra, cần hoàn thiện các quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, và các quy định liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự để tạo cơ chế giám sát từ bên ngoài hiệu quả hơn. Việc xây dựng cơ chế giám sát của xã hội và các cơ quan dân cử đối với hoạt động điều tra hình sự cũng cần được quan tâm, góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện. Cuối cùng, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, thống nhất về việc thực hiện ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can để đảm bảo áp dụng đồng bộ trên cả nước.

4.1. Đề xuất sửa đổi bổ sung quy định Bộ luật Tố tụng hình sự

Luận văn đề xuất cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 theo hướng tăng cường thực chất vai trò của Viện kiểm sát. Cần quy định rõ VKS có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp cần thiết để kiểm tra, xác minh chứng cứ hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng từ phía CQĐT. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của Điều tra viên khi để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm do lỗi chủ quan, thiếu trách nhiệm trong quá trình điều tra.

4.2. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tố tụng

Cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành cấp tỉnh giữa Viện kiểm sát nhân dân, Công an, Tòa án một cách chi tiết và thực chất hơn. Quy chế này cần xác định rõ cơ chế họp bàn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các vụ án phức tạp, có quan điểm khác nhau. Việc phối hợp chặt chẽ sẽ giúp thống nhất nhận thức và đường lối xử lý ngay từ giai đoạn điều tra, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, đẩy nhanh tiến độ giải quyết án và đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.

V. Kết quả thực tiễn kiểm sát điều tra tại tỉnh Phú Thọ

Phân tích thực tiễn công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2019 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ các vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung có xu hướng giảm. Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ đã chủ động hơn trong việc ban hành các yêu cầu điều tra, kháng nghị, kiến nghị đối với Cơ quan điều tra. Theo số liệu trong luận văn, công tác kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn được thực hiện chặt chẽ. Cụ thể, qua Bảng 2.2 và 2.3, có thể thấy VKS đã kiểm soát tốt việc tạm giữ, tạm giam, không để xảy ra các trường hợp quá hạn. Công tác chống oan saichống bỏ lọt tội phạm được chú trọng, nhiều vụ án phức tạp đã được điều tra, truy tố, đưa ra xét xử đúng người, đúng tội, được dư luận đồng tình. VKS đã phát huy vai trò trong việc phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, đảm bảo các quyết định này đều có căn cứ và đúng pháp luật. Thông qua hoạt động kiểm sát, nhiều vi phạm của Điều tra viên đã được phát hiện và kiến nghị chấn chỉnh kịp thời. Những kết quả này khẳng định vai trò của Viện kiểm sát trong việc đảm bảo hoạt động điều tra hình sự tuân thủ pháp luật, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

5.1. Phân tích số liệu khởi tố tạm giữ và kết luận điều tra

Số liệu thống kê từ 2015-2019 (Bảng 2.1, 2.4) cho thấy tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn biến phức tạp, nhưng tỷ lệ giải quyết án của các cơ quan tiến hành tố tụng luôn đạt mức cao. Viện kiểm sát đã kiểm sát chặt chẽ 100% các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT. Số vụ án đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội ở mức rất thấp, cho thấy chất lượng công tác khởi tố, điều tra ban đầu được đảm bảo. Việc kiểm sát kết luận điều tra cũng được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo hồ sơ chuyển sang giai đoạn truy tố đầy đủ, chặt chẽ.

5.2. Đánh giá hiệu quả công tác chống oan sai bỏ lọt tội phạm

Hiệu quả rõ nét nhất là không để xảy ra trường hợp nào khởi tố, điều tra, truy tố oan người không có tội trong giai đoạn nghiên cứu. Viện kiểm sát đã kiên quyết hủy bỏ nhiều quyết định không khởi tố vụ án thiếu căn cứ của Cơ quan điều tra, yêu cầu khởi tố nhiều vụ án bị bỏ lọt, thể hiện rõ vai trò “gác cổng” của hoạt động tư pháp. Công tác kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác tội phạm được tăng cường, góp phần quan trọng vào việc chống bỏ lọt tội phạm ngay từ giai đoạn tiền tố tụng. Đây là minh chứng cho hiệu quả của việc gắn kết công tố với hoạt động điều tra.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh phú thọ luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Chương 2: Các quy định của pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2015 - 2019). Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điêu tra vụ án hình sự. Chuong 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE KIEM SAT VIEC TUAN THEO PHAP LUAT TRONG GIAI DOAN DIEU TRA VU AN HINH SU 1.

Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Giai đoạn điều tra và sự cần thiết của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Giai đoạn điều tra là một giai đoạn quan trọng trong tô tụng hình sự trong đó cơ quan có thâm quyền áp dụng mọi biện pháp để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi thực hiện để giải quyết vụ án. Kết quả điều tra là cơ sở để VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là giai đoạn tố tụng hình sự mà CQĐT và các cơ quan khác có thâm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ: Nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc chuyên toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can [3].

Như vậy, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng của quá trình tố tụng hình sự, nhằm thực hiện phần lớn các nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự, đó là: Phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không dé lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Có thể đưa ra khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: Điều fra vụ án hình sự là giai đoạn 10 tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyển điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật định đề xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án [25]. Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau: Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQDT chuyén toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQDT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Thứ hai, bản chất hoạt động điều tra là việc các cơ quan có thẩm quyền áp dung mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định đề xác định tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phục vụ việc truy tố và giải quyết vụ án hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội dé kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm.

Nếu chủ động, tích cực, chính xác ngay từ đầu sẽ góp phần bảo đảm cho hoạt động công tố, xét xử có căn cứ và ngược lại nêu hoạt động điều tra không làm tốt rất dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc dẫn đến sai lầm cho các quá trình tố tụng sau. Thứ ba, chủ thể có quyền và nghĩa vụ thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra để nhằm thu thập các nguồn chứng cứ, từ đó rút ra chứng cứ làm rõ đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự. Các tài liệu, đồ vật khác do người tham gia tố tụng cung cấp cũng có thể là nguồn chứng cứ nếu các thông tin rút ra từ nguồn này thỏa mãn các thuộc tính của chứng cứ. Tuy nhiên, trách nhiệm chứng minh, thẩm quyền điều tra chỉ thuộc về CQĐT và các cơ quan khác được giao tiễn hành một số hoạt động điều tra.

Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án. Cụ thể các biện pháp đó là: 1, các biện pháp để thu thập chứng cứ như: Khám nghiệm hiện trường, khám xét, trưng cầu giám định, định giá tài sản, đối chất, nhận dạng, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị hại; 2, các biện pháp cưỡng chế như các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp cưỡng chế khác như áp giải, dẫn giải được áp dụng để ngăn chặn tội phạm, người phạm tội gây khó khăn cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ. Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, chủ thể điều tra có thể thực hiện các biện pháp nghiệp vụ trinh sat bi mat dé thu thap ching cw, phat hién, ngan ngừa và xác định tội phạm, tuy nhiên, tài liệu trinh sát phải được chuyền hóa thành chứng cứ tố tụng.

Việc xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án đòi hỏi trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định có hay không có việc phạm tội, đối chiếu với Bộ luật Hình sự (BLHS) xem hành vi phạm tội thuộc vào điều khoản nào, phải xác định tất cả tội phạm đề không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người phạm tội. Điều tra vụ án hình sự có nhiệm vụ xác định người thực hiện hành vi phạm tội; người đó đã đủ tuôi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; lỗi của họ trong việc thực hiện tội phạm; có vai trò gì trong vụ án đồng phạm. Để có thé giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có nhiệm vụ chứng minh, làm rõ những vấn đề liên quan đến việc xử lý người phạm tội như xác định động cơ, mục đích phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các đặc điểm nhân thân của bị can; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng án treo, áp dụng các biện pháp tư pháp và các hình thức xử lý khác đối với người phạm tội. Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền điều tra còn phải xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội, trên cơ sở đó yêu cầu các cơ quan, tô chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Trong giai đoạn điều tra, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội là một nhiệm vụ quan trọng. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội là những nhân tố làm phát sinh hoặc thúc đây người phạm tội thực hiện tội phạm. Việc các cơ quan có thâm quyền tiễn hành tố tụng xác định làm 10 rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong mỗi vụ án cụ thé co ý nghĩa quan trọng để ban hành các văn bản yêu cầu, kiến nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tội phạm xảy ra. Để ra quyết định truy tố và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, VKS và Tòa án phải dựa vào hồ sơ vụ án.

Việc lập và củng cố hồ sơ điều tra là nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn điều tra. CQĐT phải lập hồ sơ ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án, khi có đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì cần lập kết luận điều tra, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những lí do và căn cứ đề nghị truy tố. Căn cứ bản kết luận điều tra, VKS ra bản cáo trạng truy tố, trong trường hợp không có căn cứ đề đề nghị truy tố thì ra các quyết định khác theo quy định pháp luật. Trong tố tụng hình sự nước ta, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trò rất quan trọng đối với cả tiến trình giải quyết vụ án hình sự.

Kết quả của giai đoạn điều tra vụ án hình sự đóng vai trò quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động buộc tội và là cơ sở, nền tảng để các chức năng tố tụng hình sự khác trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo được tiễn hành. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự với hoạt động tố tụng chủ đạo là hoạt động của CQĐT, được đánh giá là giai đoạn tố tụng tiềm ân nhiều nhất nguy cơ sai sót, vi phạm pháp luật, kế cả những sai sót, vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai. Đề kịp thời ngăn chặn người phạm tội tiếp tục gây án hoặc gây cản trở cho việc thu thập chứng cứ vụ án, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thường phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thẻ: tiến hành các hoạt động điều tra khác liên quan đến quyền cơ bản của công dân như triệu tập đề lấy lời khai những người có liên quan, hỏi cung bị can. Do đó, hoạt động điều tra thường tiềm ân nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền con người đối với người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ