Luận văn: Kiểm sát hoạt động tư pháp giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Khám phá vai trò của kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam trong luận văn thạc sĩ luật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Luật

2023

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh hoạt động kiểm sát tư pháp giai đoạn khởi tố vụ án

Giai đoạn khởi tố là giai đoạn đầu tiên, có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), nhằm đảm bảo mọi hoạt động tiếp nhận, xác minh nguồn tin tội phạm và ra quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra (CQĐT) tuân thủ đúng pháp luật. Theo Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lưu Trọng Nghĩa, việc thực hiện tốt chức năng này không chỉ giúp định hướng quá trình điều tra chính xác mà còn là “tấm khiên” vững chắc để tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội. Hoạt động này được quy định chi tiết trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, nhấn mạnh trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc giám sát quyền lực nhà nước ngay từ những bước đầu của hoạt động tư pháp. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của giai đoạn khởi tố vụ án

Theo các tài liệu nghiên cứu, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra. Bản chất pháp lý của giai đoạn này là xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm dựa trên các nguồn tin. Các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự như CQĐTVKSND phải tiến hành xác minh tố giác, tin báo về tội phạmkiến nghị khởi tố. Thời điểm bắt đầu là khi tiếp nhận nguồn tin và kết thúc khi có quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Đây là cơ sở pháp lý ban đầu, nếu thực hiện sai sẽ dẫn đến hệ lụy cho toàn bộ quá trình tố tụng về sau, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

1.2. Chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố

Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014 quy định rõ. Trong giai đoạn khởi tố, VKSND thực hiện hai chức năng chính: thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Cụ thể, VKSND kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin tội phạm; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT như lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố không có căn cứ. Vai trò của Kiểm sát viên là trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ để đảm bảo mọi hoạt động tuân thủ chặt chẽ cơ sở pháp lý, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp

Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là hai chức năng riêng biệt nhưng có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau. Thực hành quyền công tố là việc thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước, còn kiểm sát tư pháp là giám sát tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng. Trong giai đoạn khởi tố, khi VKSND kiểm sát và phát hiện quyết định của CQĐT là trái luật, VKSND sẽ thực hiện quyền công tố bằng cách ra quyết định hủy bỏ và yêu cầu khởi tố đúng pháp luật. Ngược lại, việc thực hành quyền công tố hiệu quả (như trực tiếp khởi tố vụ án) cũng là tiền đề cho hoạt động kiểm sát các giai đoạn tiếp theo. Sự kết hợp chặt chẽ này đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra khách quan, toàn diện và đúng luật.

II. Top thách thức trong kiểm sát tư pháp khi khởi tố vụ án hình sự

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Luận văn đã chỉ ra các tồn tại, hạn chế xuất phát từ cả quy định pháp luật lẫn thực tiễn thi hành. Một trong những vấn đề nổi cộm là tình trạng lạm dụng tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm, gây kéo dài thời gian xử lý và ảnh hưởng đến quyền lợi của người liên quan. Bên cạnh đó, việc phát hiện vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền khác đôi khi còn chưa kịp thời, dẫn đến các quyết định tố tụng sai lầm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm, đặc biệt với các loại tội phạm mới, tội phạm công nghệ cao, cũng là một thách thức lớn đối với năng lực của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Những hạn chế này đòi hỏi ngành Kiểm sát phải có những giải pháp đồng bộ để khắc phục.

2.1. Vướng mắc trong kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết nguồn tin tội phạm

Thực tiễn cho thấy, việc kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm còn nhiều hạn chế. Một số CQĐT chưa cập nhật đầy đủ, kịp thời các tin báo, tố giác vào sổ theo dõi, gây khó khăn cho VKSND trong việc kiểm sát. Thời hạn giải quyết đôi khi bị kéo dài nhưng chưa có quyết định tạm đình chỉ, vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đặc biệt, theo số liệu thống kê trong luận văn (Bảng 2.2), số tin báo tạm đình chỉ giải quyết chiếm tỷ lệ lớn, tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm nếu không được phục hồi giải quyết kịp thời khi có căn cứ.

2.2. Khó khăn trong mối quan hệ phối hợp VKS CQĐT

Mối quan hệ phối hợp VKS-CQĐT là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của giai đoạn khởi tố. Tuy nhiên, sự phối hợp này đôi khi chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ. Có trường hợp CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố mà không trao đổi, thống nhất trước với VKSND, dẫn đến việc VKSND phải ban hành quyết định hủy bỏ. Theo Bảng 2.3 của luận văn, vẫn còn các trường hợp VKSND phải hủy quyết định khởi tố hoặc không khởi tố của CQĐT. Điều này không chỉ làm tốn thời gian, nguồn lực mà còn cho thấy sự thiếu thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật giữa hai cơ quan.

2.3. Hạn chế về năng lực của một số Kiểm sát viên

Chất lượng công tác kiểm sát phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ. Luận văn chỉ ra rằng, một số Kiểm sát viên còn hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng phân tích, đánh giá chứng cứ. Điều này dẫn đến việc chậm phát hiện vi phạm, hoặc đôi khi còn nể nang, ngại va chạm, chưa kiên quyết yêu cầu CQĐT khắc phục sai sót. Vai trò của Kiểm sát viên trong việc đưa ra các yêu cầu, kiến nghị sắc bén để phòng ngừa vi phạm chưa được phát huy tối đa, ảnh hưởng đến chất lượng chung của hoạt động kiểm sát khởi tố.

III. Phương pháp kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết nguồn tin tội phạm

Để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố, việc kiểm soát chặt chẽ quá trình tiếp nhận và giải quyết nguồn tin tội phạm là nhiệm vụ hàng đầu. Đây là hoạt động mở đầu, quyết định việc một vụ việc có được đưa vào quy trình tố tụng hình sự hay không. VKSND phải chủ động nắm bắt thông tin ngay từ đầu, đảm bảo mọi tố giác, tin báo về tội phạmkiến nghị khởi tố đều được thụ lý, xử lý đúng thẩm quyền và thời hạn. Phương pháp kiểm sát không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hồ sơ do CQĐT chuyển sang mà còn bao gồm các hoạt động nghiệp vụ khác như trực tiếp kiểm sát tại CQĐT, yêu cầu cung cấp tài liệu và phối hợp đánh giá chứng cứ. Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp này sẽ giúp VKSND thực hiện tốt trách nhiệm của Viện kiểm sát, ngăn chặn sớm các vi phạm, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm.

3.1. Quy trình kiểm sát việc thụ lý phân loại tố giác tin báo

Ngay khi nhận được thông tin, VKSND phải kiểm sát việc CQĐT vào sổ thụ lý có đầy đủ và kịp thời hay không. Kiểm sát viên cần phối hợp với Điều tra viên để phân loại nguồn tin. Những tin báo rõ ràng, đơn giản cần được yêu cầu giải quyết nhanh chóng. Những vụ việc phức tạp cần xác định rõ các hoạt động xác minh cần thiết để giám sát tiến độ. Việc phân loại chính xác giúp VKSND kiểm soát được thời hạn giải quyết theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tránh tình trạng để quá hạn mà không có lý do chính đáng.

3.2. Giám sát hoạt động xác minh và thu thập chứng cứ ban đầu

Trong quá trình CQĐT tiến hành các hoạt động bổ trợ tư pháp như lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, Kiểm sát viên phải thực hiện kiểm sát điều tra một cách chặt chẽ. VKSND có quyền yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc trực tiếp tham gia một số hoạt động xác minh khi thấy cần thiết. Việc giám sát này nhằm đảm bảo các chứng cứ ban đầu được thu thập một cách khách quan, hợp pháp, làm cơ sở vững chắc cho việc ra quyết định khởi tố vụ án hay không khởi tố.

IV. Quy trình kiểm sát quyết định khởi tố và không khởi tố vụ án

Hoạt động trọng tâm của kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố là kiểm sát tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định tố tụng. Mỗi quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT đều phải được VKSND xem xét, kiểm tra một cách kỹ lưỡng trong thời hạn luật định. Theo quy định, trong 24 giờ kể từ khi CQĐT ra quyết định, hồ sơ phải được gửi đến VKSND. Đây là “chốt chặn” pháp lý quan trọng để VKSND thực hiện quyền năng của mình. Việc kiểm sát chặt chẽ giúp đảm bảo rằng quyết định khởi tố phải dựa trên các dấu hiệu tội phạm rõ ràng, còn quyết định không khởi tố phải tuân thủ đúng các căn cứ tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, từ đó thực hiện mục tiêu tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.

4.1. Kiểm tra căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố

Khi nhận được quyết định khởi tố vụ án, Kiểm sát viên phải kiểm tra hai yếu tố: tính có căn cứ và tính hợp pháp. Tính có căn cứ thể hiện ở việc phải có dấu hiệu tội phạm được xác định qua các tài liệu, chứng cứ ban đầu. Tính hợp pháp bao gồm việc kiểm tra thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, hình thức văn bản tố tụng và trình tự, thủ tục ra quyết định. Nếu phát hiện quyết định khởi tố không có căn cứ, VKSND phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố ngay lập tức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

4.2. Xem xét kỹ lưỡng quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Đối với quyết định không khởi tố vụ án, VKSND cần đặc biệt thận trọng vì quyết định này tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm. Kiểm sát viên phải đối chiếu kỹ lưỡng các căn cứ mà CQĐT đưa ra với các trường hợp được quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu thấy quyết định không khởi tố là thiếu căn cứ, VKSND sẽ ra quyết định hủy bỏ và đồng thời yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án. Theo thống kê tại Bảng 2.1, VKSND đã nhiều lần thực hiện quyền yêu cầu khởi tố, cho thấy vai trò chủ động và tích cực trong việc chống bỏ lọt tội phạm.

4.3. Thẩm quyền của VKSND trong việc hủy bỏ hoặc yêu cầu khởi tố

VKSND có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án trong các trường hợp đặc biệt như khi hủy bỏ quyết định không khởi tố của CQĐT hoặc khi trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm. Quyền năng này khẳng định vị thế trung tâm của VKSND trong việc thực hành quyền công tố. Việc chủ động ra các quyết định tố tụng khi cần thiết thể hiện trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được xử lý nghiêm minh, góp phần giữ vững kỷ cương phép nước.

V. Bí quyết nâng cao hiệu quả kiểm sát tư pháp giai đoạn khởi tố

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp, kiến nghị mang tính toàn diện và khả thi. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc hoàn thiện cơ sở pháp lý mà còn hướng đến việc nâng cao năng lực thực thi và tăng cường các điều kiện đảm bảo. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu là xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, nơi mọi quyết định tố tụng đều dựa trên sự thật khách quan và tuân thủ tuyệt đối pháp luật, đặc biệt là các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự

Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cần có hướng dẫn cụ thể hơn về việc xác định “dấu hiệu tội phạm”, các trường hợp tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm để tránh lạm dụng. Việc hoàn thiện pháp luật sẽ tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng, thống nhất, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có VKSNDCQĐT, áp dụng pháp luật một cách chính xác, hạn chế các quan điểm khác nhau dẫn đến tranh cãi không cần thiết.

5.2. Tăng cường năng lực và trách nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên

Con người là yếu tố quyết định. Ngành Kiểm sát cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng xử lý tình huống và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ Kiểm sát viên. Cần đề cao vai trò của Kiểm sát viên trong từng vụ việc, gắn liền trách nhiệm cá nhân với chất lượng công tác kiểm sát. Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, rút kinh nghiệm về các vụ án bị hủy, sửa để nâng cao trình độ, tránh lặp lại sai sót. Đồng thời, cần có cơ chế khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh để tạo động lực và tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ.

5.3. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tăng cường phối hợp

Trong thời đại công nghệ số, việc xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý tin báo, tội phạm là rất cần thiết. Hệ thống này giúp VKSND có thể theo dõi, giám sát hoạt động của CQĐT một cách liên tục, minh bạch. Bên cạnh đó, cần củng cố và thực chất hóa mối quan hệ phối hợp VKS-CQĐT thông qua các quy chế phối hợp cụ thể, tổ chức họp liên ngành định kỳ để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, thống nhất quan điểm xử lý các vụ việc phức tạp, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả giải quyết án ngay từ giai đoạn đầu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam luận văn thạc sỹ luật luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu có tính chất định hướng cho các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo đề giải quyết vụ án hình sự. 11 Khi co quan diéu tra hay cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự không chính xác, điều đó sẽ dẫn đến các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tiếp theo cũng không chính xác, bởi các giai đoạn tố tụng hình sự tuy độc lập nhưng có mỗi quan hệ biện chứng, gắn kết chặt chẽ với nhau nhằm chung một mục đích là tìm ra sự thật của vụ án. Cùng với đó nếu việc đưa ra quyết định không khởi tố vụ án không chính xác sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm, gây bắt bình trong dư luận. Về mặt chính trị - xã hội: Giai đoạn khởi tố là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt giai đoạn này sẽ góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.

Việc các cơ quan tiễn hành tổ tụng đưa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự chính xác, khách quan, công bằng sẽ tạo niềm tin cho nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật. Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự 12. Chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân Chức năng của cơ quan, tổ chức là phương diện hoạt động chính, chủ yếu, đặc thù, mang tính ôn định lâu dài của cơ quan, tổ chức đó. Các cơ quan có thầm quyên tiến hành tố tụng có những chức năng khác nhau.

Cơ quan điều tra có chức năng điều tra vụ án, vụ việc hình sự. Tòa án có chức năng xét xử, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố (chức năng buộc tội) và kiểm sát hoạt động tư pháp. Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện phương diện hoạt động chính, chủ yếu, đặc thù của cơ quan minh, mỗi cơ quan vẫn có thể thực hiện những nhiệm vụ khác được giao. Ví dụ, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện thêm cả nhiệm vụ thống kê tội phạm; Tòa án nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, có quyền khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

Những 12 hoạt động trên không phải là những hoạt động chính, chủ yếu của Viện kiểm sát và Tòa án, do vậy, không phải là hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 ghi nhận Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Khoản I Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyên công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Như vậy, có thê đưa ra khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân như sau: Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là phương diện hoạt động chính, chủ yếu, đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân, được quy định trong Hiến pháp, có nội dung là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Chức năng thực hành quyên công tô của Viện kiểm sát nhân dân Quyền công tổ là quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự coi là tội phạm. Cơ sở phát sinh quyền công tổ là khi tội phạm xảy ra. Từ khi có thông tin về tội phạm, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định tội phạm, tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định tội phạm, người phạm tội, tiễn hành truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội băng các biện pháp khởi tố, điều tra, truy tố và thực hiện việc buộc tội của Nhà nước tại phiên tòa là quá trình thực hiện quyền công tố. Việc thực hiện quyền công tố trên thực tế để giải quyết vụ án hình sự được gọi là thực hành quyên công tô. 13 Như vậy, thực hành quyền công tố là thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm. Quyền công tố là quyền của Nhà nước.

Tuy nhiên, Nhà nước giao cho cơ quan nào thực hành quyền công tố và phạm vi thực hành quyền công tố đến đâu thì ở pháp luật của các nước quy định không giống nhau. Điều này xuất phát từ truyền thống pháp luật và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia là khác nhau. Ở nước ta, Nhà nước giao cho (phân công) Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố. Thực hành quyền công tố là chức năng của Viện kiểm sát được ghi nhận trong Hiến pháp.

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, phạm vi thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân diễn ra trong suốt quá trình tìm kiếm, phát hiện tội phạm và quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Ở đâu mà Viện kiểm sát thực hiện việc xác minh để phát hiện tội phạm, tiến hành buộc tội (truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người thực hiện hành vi phạm tội, và bảo vệ quan điểm buộc tội, thì ở đó có việc thực hành quyền công tô của Viện kiểm sát. Thời điểm bắt đầu của việc thực hành quyền công tổ là từ khi thụ lý giải quyết thông tin về tội phạm (giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố) và diễn ra trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ an (giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình su) va kết thúc khi thuộc một trong các trường hợp sau: Tòa án đã xét xử xong mà không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án đã xét xử xong nhưng có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án đã xét xử vụ án theo thủ tục tô tụng khác và sau đó không còn kháng nghị; hoặc vụ án đã được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án (do bị can không phạm tội, hết thời hạn mà không chứng minh được bị can phạm tội, do người yêu cầu khởi tố đã rút yêu cầu khởi tố, do Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố, do có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, khi thực hành quyền công 14 tố, Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện các hoạt động sau đây: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu đề làm rõ tội phạm, người phạm tội; giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tổ và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tổ bị can; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tổ bị can; dé ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra thực hiện; điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tỘI.

Thông qua việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, viện kiểm sát nhân dân bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không đề lọt tội phạm và người phạm tội; không người nảo bị khởi tố, bị bắt, tạm g1ữ, tạm giam, bi 15 hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật. Như vậy, chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều phải được xử lý trước pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật hình sự bảo vệ. Như vậy, căn cứ vào Hiến pháp năm 2013, Luật tô chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, có thê đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tổ là một trong các hình thức thực hiện quyền lực của Nhà nước được giao cho Viện kiểm sát để thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, bắt đầu từ khi thụ lý giải quyết thông tin về tội phạm và diễn ra trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội đều phải được xử lý hình sự theo đúng quy định của pháp luật. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Bên cạnh chức năng thực hành quyền công tố.

Viện kiểm sát còn gánh trên vai một chức năng khác là chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ