chương 1 nhằm đánh giá ưu nhược điểm và tính phù hợp của mô hình này tại các thị trường chứng khoán trên thế giới. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại: tiền đề tạo nên mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1959 bởi nhà kinh tế học Harry Markowitz, lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại khuyến nghị các nhà đầu tư hãy đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình. Bằng cách này họ có thể giảm rủi ro thị trường tác động lên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục mà mình đang nắm giữ. Ngoài ra, Harry Markowitz còn phát triển nguyên lý trong việc xây dựng danh mục đầu tư.
Có một cụm từ đơn giản để hiểu về lý thuyết này đó là “Không để tất cả trứng vào cùng một giỏ”. Một danh mục đầu tư được xem là hiệu quả khi có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, để làm được điều này không phải là chuyện dễ, bởi vì đầu tư vào chứng khoán luôn kèm theo hai loại rủi ro cơ bản là rủi ro của chính chứng khoán và rủi ro thị trường. Nếu không biết tính toán, linh hoạt và cân bằng giữa các loại rủi ro thì chắc chắn danh mục đầu tư sẽ khó có lợi nhuận.
Vì vậy, trước khi có bất cứ quyết định đầu tư nào cần phải xem xét nhiều yếu tố: - Mục tiêu của nhà đầu tư là gì? - Mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư? - Hãy đầu tư vào những gì hiểu rõ - Xác định đúng đắn thời điểm mua bán Bằng cách cân bằng các cổ phiếu đang nắm giữ để phòng ngừa các biến động thị trường bất lợi, nhà đầu tư có thể nắm giữ một danh mục khá ổn định - ngay cả với những kênh đầu tư biến động mạnh. Trang 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Hà Minh Phước 1. Mô hình CAPM (Capital Asset Pricing Model): nền tảng cho quyết định đầu tư 1. Tổng quan về Mô hình CAPM Được ra đời vào những năm 1960 của thế kỷ trước bởi ba nhà kinh tế học William Sharpe, John Lintnet và Jack Treynor, CAPM là mô hình được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới cho tới thời điểm hiện tại.
Mô hình này được phát triển dựa trên mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và rủi ro thị trường. Mô hình này có dạng như sau: E(Ri)= Rf + βi.[E(Rm)– Rf] Trong đó: Ri: tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i Rf: Lãi suất chứng khoán phi rủi ro (Trái phiếu chính phủ, KBNN…) β: hê số đo lường rủi ro hệ thống của chứng khoán hay một danh mục đầu tư hay nói một cách đơn giản Beta là hệ số đo lường sự biến động giá chứng khoán trước những biến động của thị trường. Rm: lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường Rm – Rf : phần bù rủi ro thị trường CAPM chỉ ra rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán i bằng tỷ suất sinh lời của chứng khoán phi rủi ro cộng với phần bù rủi ro của chứng khoán đó. Trong đó, rủi ro của chứng khoán i bằng Hệ số Beta nhân với phần bù rủi ro thị trường.1: Quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu i và hệ số Beta Trang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Hà Minh Phước Qua hình 1.1 chúng ta có thể thấy khi hệ số beta càng cao thì suất sinh lời của chứng khoán càng cao và vì vậy, cũng mang nhiều rủi ro hơn.
Beta bằng 0: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 0 chính là lợi nhuận phi rủi ro, Rf. Beta bằng 1: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 1 chính là lợi nhuận thị trường, E(Rm). Quan hệ giữa lợi nhuận và hệ số rủi ro beta của chứng khoán là quan hệ tuyến tính được diễn tả bởi đường thị trường chứng khoán SML (Stock Marlet Line) có hệ số góc là E(Rm) – Rf. Giả định cho CAPM Có tiền đề dựa trên lý thuyết danh mục hiệu quả Markowitz, những giả định được sử dụng cho CAPM như sau: - Tất cả các nhà đầu tư đều là các nhà đầu tư hiệu quả Markowitz, họ mong muốn nắm giữ danh mục nằm trên đường biên hiệu quả.
Vì vậy vị trí chính xác trên đường biên hiệu quả và danh mục cụ thể được chọn sẽ phụ thuộc vào hàm hữu dụng rủi ro – tỷ suất sinh lợi của mỗi nhà đầu tư. - Các nhà đầu tư có thể đi vay và cho vay bất kỳ số tiền nào ở lãi suất phi rủi ro (Rf). - Tất cả các nhà đầu tư đều có kỳ vọng thuần nhất: có nghĩa là họ có ước lượng các phân phối xác suất tỷ suất sinh lợi trong tương lai giống hệt nhau. Vả lại, giả định này có thể bỏ qua, lúc đó các khác biệt trong các giá trị mong đợi sẽ không lớn nên các ảnh hưởng của chúng sẽ không đáng kể.
- Tất cả các nhà đầu tư có một phạm vi thời gian trong một kỳ như nhau chẳng hạn như một tháng, sáu tháng hay một năm. Mô hình này sẽ được xây dựng cho một khoảng thời gian giả định và kết quả của nó cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi việc giả định khác đi. Sự khác nhau trong phạm vi thời gian sẽ đòi hỏi các nhà đầu tư xác định ra các thước đo rủi ro và các tài sản phi rủi ro phù hợp với các phạm vi thời gian đầu tư của họ. - Tất cả các khoản đầu tư có thể phân chia tùy ý, có nghĩa là các nhà đầu tư có thể mua và bán các tỷ lệ phần trăm của bất kỳ tài sản hay danh mục nào.
Giả thuyết này cho phép chúng ta thảo luận các kết hợp đầu tư thành các đường cong liên tục. Thay đổi giả thuyết này sẽ có một chút ảnh hưởng đến lý thuyết. - Không có thuế và chi phí giao dịch liên quan tới việc mua và bán các tài sản. Trang 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Hà Minh Phước - Không có lạm phát hay bất kỳ thay đổi nào trong lãi suất, hoặc lạm phát được phản ánh một cách đầy đủ.
Đây là một giả định ban đầu hợp lý và có thể thay đổi được. - Các thị trường vốn ở trạng thái cân bằng. Điều này có nghĩa là chúng ta bắt đầu với tất cả các tài sản được định giá đúng với mức độ rủi ro của chúng. Ưu nhược điểm của mô hình CAPM Rất đơn giản và dễ dàng ứng dụng là những gì CAPM mang lại.
Tuy nhiên, với việc chỉ đề cập đến nhân tố thị trường trong mối quan hệ tác động qua lại giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro đã khiến CAPM dần thiếu chính xác. Một số học giả khi áp dụng mô hình CAPM đã phát hiện ra một số điểm bất thường khiến CAPM không còn đúng như trường hợp bình thường. - Tác động của quy mô công ty đến tỷ suất sinh lợi: những cổ phiếu của những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ (market capitalization = price per share x number of share) mang lại lợi nhuận cao hơn so với những cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn, nếu những yếu tố khác như nhau.2: Tác động của quy mô công ty đến tỷ suất sinh lợi CP - Tác động của tỷ số giá thị trường: P/E, M/B. Nhiều chuyên gia nhận định, những công ty có hệ số P/E (Price Earning Ratio) và M/B (market to book value ratio) thấp mang lại lợi nhuận cao hơn hẳn so với những công ty có hệ số P/E hay M/B cao.
Trang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Hà Minh Phước Hình 1.3: Tác động của yếu tố giá thị trường (ME/BE) đến tỷ suất sinh lợi CP - Hiệu ứng tháng Giêng là hiện tượng giá cổ phiếu - đặc biệt là các cổ phiếu vốn hóa nhỏ - thể hiện xu hướng tăng lên trong vài ngày giao dịch cuối cùng trong tháng 12 và sau đó tiếp tục tăng trong tuần đầu tiên của tháng 1. Dữ liệu lịch sử giai đoạn 1904 - 1974 chỉ ra rằng, lợi nhuận trung bình trong tháng Giêng lớn hơn gấp năm lần so với các tháng dương lịch khác trong năm, đặc biệt là tại các cổ phiếu có vốn hóa nhỏ. Tuy nhiên không phải năm nào cũng xảy ra hiệu ứng này. Trên đây chỉ là ba trong số khá nhiều nhân tố nữa tác động đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu bên cạnh nhân tố thị trường mà CAPM chưa chỉ ra được.
Mặt khác, tuy đơn giản và dễ dàng ứng dụng trên thực tế, tuy nhiên đó là tại các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển và minh bạch cao. Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đủ lớn và tính minh bạch cao, mặt khác hoạt động đầu tư của nhà đầu tư còn mang tính “bầy đàn” cao thiếu cơ sở tính toán và đo lường, vì thế CAPM vẫn chưa phát huy hết khả năng của nó. Nhà đầu tư tại Việt Nam hầu hết là nhà đầu tư cá nhân, không trang bị đầy đủ kiến thức, tâm lý hay thay đối và đầu tư chỉ mang tính lướt sóng, ngắn hạn vì thế vai trò của CAPM rất mờ nhạt. Thực tế cho thấy rất hiếm nhà đầu tư chịu nghiên cứu thu thập, phân tích dữ liệu để biết được tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu hay danh mục mà mình đang nắm giữ.
Tại Việt Nam vẫn chưa có một danh mục đầu tư nào có thể được xem là danh mục đầu tư thị trường (market portfolio) để làm cơ sở để xác định tỷ suất sinh lợi của danh mục thị trường Rm một cách đáng tin cậy. Thêm nữa, hệ số quan trọng nhất trong mô hình CAPM Trang 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Hà Minh Phước là Beta vẫn chưa được tính toán một cách chân thực hầu hết chỉ được công bố thông qua một số website của một số công ty chứng khoán hay trang web chuyên về chứng khoán, thiếu tính minh bạch và thống nhất cao. Mặt khác, với giả thuyết quan trọng để áp dụng mô hình CAPM vào trong tính toán tỷ suất sinh lời danh mục đầu tư là thị trường vốn phải là thị trường hoàn hảo. Đây hoàn toàn là điều không phù hợp cho thị trường vốn tại Việt Nam vốn thiếu minh bạch và “sức khỏe” kém.
Mô hình Fama-French: bước tiến tạo cơ sở khách quan cho quyết định đầu tư 1.