Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE KHONG TRUY CUU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ DO HÉT THỜI HIỆU 1. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của phạm trù không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu 1. Cơ sở lý luận của phạm trù không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất mà chủ thể phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự được các cơ quan tư pháp hình sự mà Nhà nước giao quyền đại diện thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự và các biện pháp khác áp dụng đối với chủ thể phạm tội trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục luật định.
Về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội do chủ thể thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật với phương châm “không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”. Chủ thê phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của BLHS, nếu không có các căn cứ để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt thì họ sẽ phải chịu hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự khác do BLHS quy định. Đó chính là nội dung của nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự của luật hình sự, theo đó nguyên tắc này không hoàn toàn đồng nhất với việc bắt buộc phải áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự khác đối với bất cứ chủ thể phạm tội nào. Trong trường hợp chủ thê phạm tội mặc dù thực hiện hành vi thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của tội phạm nhưng lại đáp ứng được những điều kiện, căn cứ mà pháp luật quy định dé không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.thì sẽ được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và được áp dụng các biện pháp tha miễn.
Điều này thể hiện tính nhân đạo trong nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự, cũng chính là thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự. Một trong những biện pháp tha miễn được quy định trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia và được các cơ quan tư pháp hình sự thường xuyên xem xét áp dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự đó là “không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu ”. Một chủ thê đáng lẽ ra phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì những lý do nào đó từ phía các cơ quan tư pháp hình sự mà tội phạm hoặc chủ thể đó đã không bị phát hiện, xử lý kịp thời nên khi đã qua một thời hạn luật định, đáp ứng các điều kiện trong BLHS thì chủ thể đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Thời hạn luật định đó được gọi là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự, co sé nao để BLHS quy định biện pháp tha miễn này cũng như cho phép các cơ quan tư pháp hình sự áp dụng vẫn là vấn đề còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khi đã hết thời hiệu là dựa trên nguyên tắc nhân đạo và mục đích của việc áp dụng trách nhiệm hình sự và mục đích áp dụng hình phạt đã không còn cần thiết. Cụ thé, theo PGS. Phạm Hồng Hải, việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khi hết thời hiệu xuất phát từ quan niệm cho rằng vì những nguyên nhân, mục đích, động cơ nào đó mà một người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng trong khoảng thời gian nhất định sau khi đã phạm tội, họ không phạm tội mới, đã ăn năn hối cải thậm chí trở thành người tốt, có uy tín trong xã hội.
Đối với những người này không cần bắt họ phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước bởi lẽ chính bản thân họ đã tự giáo dục và cải tạo tốt [16, tr. Lập luận cụ thể hơn, PGS.TS Trịnh Tiến Việt cho rằng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo và mục đích của việc áp dụng trách nhiệm hình sự là không cần thiết và hình phạt không đạt được mục đích, đồng thời có thể cải tạo, giáo dục người phạm tội dưới sự điều chỉnh của xã hội, qua đó tiết kiệm chỉ phí của việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội cho xã hội và Nhà nước [Š57, tr. Tiếp đó trong cuốn Trách nhiệm hình sự và hình phạt, PGS.TS Trịnh Tiến Việt cũng tiếp tục khăng định: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được đặt ra trong BLHS xuất phát từ ý nghĩa và cơ sở lý luận cho rằng: hiệu quả và giá trị của việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội (hiện nay, còn bao gồm của pháp nhân thương mại phạm tội) phụ thuộc rất nhiều vào khoảng thời gian giữa thời điểm phạm tội và thời điểm áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt. Do đó nếu khoảng thời gian đó càng thu nhỏ thì hiệu quả đạt được của việc truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm càng cao và ngược lại nếu khoảng thời gian đó càng dài thì các hiệu quả đã nêu khó đạt được [59, tr.
Một số quan điểm khác thì cho rằng khi đã qua một thời hạn nhất định, việc truy cứu trách nhiệm hình sự là không còn cần thiết vì hành vi nguy hiểm cũng như bản thân người phạm tội lúc đó đã không còn nguy hiểm cho xã hội. Trần Quang Tiệp: Việc người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án đã tuyên khi hết thời hạn và khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự, là do người phạm tội được coi là không còn nguy hiểm cho xã hội nữa [38, tr. Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì ghi nhận như sau: Thực tế vẫn có một số trường hợp vì lý do này hay lý do khác mà Cơ quan điều tra, truy tố xét xử đã bỏ quên một số hành vi phạm tội mà không truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với những trường hợp này, nếu trong thời gian nhất định người phạm tội đã tự hối cải, làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh sự trừng trị của pháp luật thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự là không cần thiết bởi vì hành vi nguy hiểm cũng như bản thân người phạm tội lúc đó đã không còn nguy hiểm cho xã hội.
Hơn nữa, việc truy cứu trách nhiệm hình sự lúc này sẽ không đạt được mục đích của hình phạt [42, tr. Mỗi quan điêm nói trên đêu dựa trên những cơ sở lý luận vững chăc ve tội 10 phạm và trách nhiệm hình sự. Để đưa ra những quy định nhân đạo trong BLHS có thể là dựa vào một trong hai căn cứ: mới là do thiếu đi một trong các dấu hiệu của tội pham, hai la do muc dich của luật hình sự đã đạt được. Chúng ta sẽ đi phân tích xem việc “không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu” đối với chủ thê phạm tội là dựa vào căn cứ nào.
Thứ nhất, do thiếu đi một trong các dấu hiệu của tội phạm. Theo khoa học luật hình sự, một hành vi được coi là tội phạm khi nó thỏa mãn 5 dấu hiệu sau: Mộ¿ là tính nguy hiểm cho xã hội, đó là hành vi gây nên (hoặc có khả năng gây nên) các thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ; Hai là tính trái pháp luật hình sự tức là tội phạm phải là hành vi bị pháp luật hình sự cắm hay do pháp luật hình sự quy định; Ba là tính có lỗi hay cụ thể là tội phạm là hành vi được thực hiện một cách có lỗi cố ÿ hay vô ý; Bốn, tội phạm là hành vì do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; Năm, tội phạm là hành vi do người du tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện. Một hành vi nếu thiếu đi một trong các dấu hiệu nói trên thì sẽ không phải là tội phạm và chủ thê thực hiện hành vi đó đương nhiên sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Đây cũng chính là căn cứ để xây dựng chế định về những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi trong BLHS.
Xem xét quan điểm cho rằng việc không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu là đo hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa là không phù hợp bởi tính nguy hiểm cho xã hội là một đặc điểm khách quan của tội phạm, phản ánh nội dung xã hội (vật chất) của tội phạm nên cho dù đã qua một khoảng thời gian nhất định thì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó không thê mất đi được. Rõ ràng tại thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi thì hành vi đó vẫn hoàn toàn thỏa mãn dấu hiệu gây nguy hiểm cho xã hội nên vẫn bị coi là tội phạm, người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự. Chỉ khi qua một thời gian do sự thay đổi của chính sách pháp luật, hành vi đó có thể không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc do chuyền biến tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định về miễn trách nhiệm hình 11 sự trong BLHS còn nếu chỉ qua một thời gian mà không có yếu tô nào tác động thì hành vi đó vẫn không thể mất đi tính nguy hiểm cho xã hội được. Do đó đây không thể là cơ sở để chúng ta không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội do hết thời hiệu.
Thứ hai, do mục đích của luật hình sự đã đạt được nên không còn cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.