Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình là hoạt động tố tụng có ý nghĩa pháp lý quan trọng, tạo tiền đề để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi phát sinh tranh chấp. Qua các thời kỳ lịch sử, quan hệ tố tụng này từng bước được điều chỉnh bởi nhiều văn bản như Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950, Công văn số 1111/NCLP ngày 13/07/1963 và Thông tư số 39/NCLP ngày 21/01/1972 của Tòa án nhân dân tối cao. Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, quá trình triển khai thi hành trong thực tiễn cho thấy một số quy định về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình còn bộc lộ khiếm khuyết, mâu thuẫn, thiếu rõ ràng hoặc chưa bảo đảm đầy đủ quyền tiếp cận công lý của đương sự.
Địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là khu vực có nền kinh tế - xã hội phát triển với quy mô dân số trung bình năm 2022 là 259.722 người và mật độ dân số 1.261 người/km². Sự gia tăng dân số kéo theo sự gia tăng về số lượng cũng như tính chất phức tạp của các tranh chấp hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài nhằm nhận diện các vướng mắc, bất cập trong áp dụng pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đối với việc khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, phân tích một số vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình thông qua việc làm rõ khái niệm, khái quát đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của hoạt động khởi kiện.
- Thứ hai, phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình; từ đó chỉ ra những kết quả đạt được cùng những điểm bất cập, thiếu thống nhất qua thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Thứ ba, trên cơ sở phân tích những hạn chế, tồn tại, đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật và các giải pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình; thực tiễn thực hiện các quy định này tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi thời gian và không gian: Thực tiễn tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa từ năm 2020 đến năm 2023.
- Phạm vi nội dung: Khóa luận giới hạn nghiên cứu quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong 4 nhóm tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Điều 28:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và chia tài sản sau khi ly hôn.
- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết:
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan tiến hành tố tụng:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 107 về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân).
- Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 20, 28, 35, 39, 51, 69, 155, 156, 186, 187, 189, 191, 192, 193, 195, 217).
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các Điều 3, 51, 84, 102, 119).
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
- Luật Luật sư năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
- Các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP.
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Hướng dẫn nghiệp vụ: Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 và Báo cáo số 03/BC-TA ngày 01/03/2018 của Tòa án nhân dân tối cao.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Thu thập sách, giáo trình, báo cáo, tạp chí và các công trình nghiên cứu liên quan, sau đó chọn lọc, phân loại phục vụ đề tài.
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích hệ thống và bình luận: Đánh giá đa chiều các điều luật hiện hành của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Phương pháp thống kê: Khai thác số liệu thực tế về tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện và số lượng vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu kết quả áp dụng pháp luật giữa các giai đoạn và so sánh quy định pháp luật với thực tế thực hiện.
Nguồn dữ liệu:
Báo cáo tổng kết công tác xét xử, hồ sơ tiếp nhận đơn khởi kiện, các quyết định và bản án sơ thẩm thực tế được ban hành tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2020 - 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình
Chương 1 tập trung giải quyết các cơ sở lý luận và phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự hiện hành:
-
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình:
- Khái niệm: Tác giả định nghĩa khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình là hành vi của chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã, đang bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
- Đặc điểm: Quan hệ pháp luật chủ yếu gắn liền với quyền nhân thân (không thể chuyển giao, không mang tính đền bù ngang giá) và quyền tài sản gắn liền nhân thân; chủ thể khởi kiện mang tính đặc thù (thường là thành viên gia đình hoặc người đại diện, cơ quan theo luật định); trình tự, thủ tục thực hiện chặt chẽ theo luật định nhằm làm phát sinh quá trình tố tụng.
- Ý nghĩa: Là phương tiện pháp lý tối ưu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, tạo cơ sở cho Tòa án thực thi quyền tư pháp, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục mối quan hệ xã hội lành mạnh.
- Yếu tố bảo đảm: Gồm bảo đảm về mặt pháp luật, bảo đảm thông qua hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát), bảo đảm nhận thức quyền khởi kiện của đương sự và cơ chế hỗ trợ (luật sư, trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý 2017).
-
Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình:
- Chủ thể khởi kiện: Bao gồm cá nhân tự khởi kiện bảo vệ quyền lợi của mình (không được ủy quyền khởi kiện thay đối với yêu cầu ly hôn); cá nhân là cha, mẹ, người thân thích khởi kiện yêu cầu ly hôn khi một bên vợ/chồng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không nhận thức, làm chủ được hành vi và là nạn nhân bạo lực gia đình (khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khoản 5 Điều 187 BLTTDS 2015); và các cơ quan, tổ chức (Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) theo khoản 1 Điều 187 BLTTDS 2015 đối với các việc thay đổi người nuôi con, xác định cha mẹ con, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Điều kiện khởi kiện: Phân tích 3 điều kiện cơ bản gồm: (1) Chủ thể có quyền và năng lực hành vi tố tụng dân sự; (2) Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án (thẩm quyền theo cấp sơ thẩm của TAND cấp huyện theo điểm a khoản 1 Điều 35, thẩm quyền theo lãnh thổ theo Điều 39 BLTTDS 2015); (3) Sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp xin ly hôn bị bác sau 01 năm, hoặc yêu cầu xin thay đổi nuôi con, cấp dưỡng). Tác giả chỉ ra hạn chế khi Điều 192 BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP chỉ đề cập việc trả lại đơn do "chưa có đủ điều kiện khởi kiện" nhưng luật không quy định cụ thể các điều kiện đó là gì.
- Hình thức, nội dung đơn và tài liệu kèm theo: Đơn khởi kiện phải làm bằng văn bản chữ tiếng Việt theo mẫu số 23-DS (Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP), đáp ứng các nội dung bắt buộc tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015. Kèm theo đơn phải có các tài liệu chứng cứ chứng minh (giấy kết hôn, căn cước công dân, giấy khai sinh con, giấy tờ chứng minh tài sản...).
- Phương thức gửi đơn: Ba hình thức gồm nộp trực tiếp, gửi qua bưu chính, và gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP). Vụ án hôn nhân gia đình không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với các yêu cầu về quyền nhân thân.
- Tạm ứng án phí: Thẩm phán ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí (mẫu 04-HCTM theo Nghị quyết 02/2017/NQ-HĐTP); thời hạn nộp là 07 ngày kể từ ngày nhận thông báo. Miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí áp dụng theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14.
- Thủ tục nhận, sửa đổi, bổ sung đơn: Quy định phân công Thẩm phán trong 03 ngày làm việc; thời hạn Thẩm phán xử lý đơn trong 05 ngày làm việc. Thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn theo thông báo (mẫu 26-DS) không quá 30 ngày (gia hạn không quá 15 ngày) theo Điều 193 BLTTDS 2015.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình và một số kiến nghị
Chương 2 phản ánh số liệu, phân tích thực tế các vụ án cụ thể tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa và đưa ra nhóm giải pháp:
- Kết quả đạt được và phân tích các vụ án cụ thể:
Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa duy trì công tác tiếp nhận, phân loại và thụ lý đơn đúng trình tự. Tỷ lệ các vụ án về ly hôn, nuôi con, chia tài sản chiếm khoảng 80% tổng số các vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý hàng năm từ năm 2020 đến năm 2023. Tính đến ngày 30/9/2023, có 56 trường hợp người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện sau khi được Thẩm phán giải thích, phân tích (được đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015).
| Nhóm tranh chấp nghiên cứu |
Bản án / Quyết định minh họa |
Tóm tắt nội dung và phán quyết sơ thẩm |
| Ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
Bản án số 61/2023/HNGĐ-ST ngày 31/8/2023 |
Nguyên đơn La Văn Th khởi kiện bị đơn Nguyễn Thị H. Tòa án xử cho ly hôn, giao 01 con chung chưa đủ 18 tuổi cho bà H nuôi dưỡng, ông Th cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng; chia tài sản chung quyền sử dụng đất diện tích 701,9 m² (mỗi người hưởng phần diện tích tương đương). |
| Chia tài sản chung của vợ chồng thời kỳ hôn nhân |
Bản án số 18/2023/HNGĐ-ST ngày 15/3/2023 |
Nguyên đơn Nguyễn Thị Ng (sinh năm 1934) khởi kiện ông Mai Thế B (sinh năm 1938). Chấp nhận yêu cầu chia thửa đất và nhà 02 tầng diện tích 76,2 m²: bà Ng được hưởng 2/3, ông B được hưởng 1/3 giá trị do bà Ng có công tạo dựng chủ yếu. |
| Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn |
Bản án số 52/2022/HNGĐ-ST ngày 28/7/2022 |
Nguyên đơn Nguyễn Thị L khởi kiện bị đơn Nguyễn Tiến D. Chấp nhận yêu cầu thay đổi người nuôi con, chuyển giao con chung Nguyễn Quỳnh Tr cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng do chị L có thu nhập ổn định và điều kiện chăm sóc tốt hơn. |
| Xác định mẹ cho con |
Bản án số 44/2022/HNGĐ-ST ngày 12/7/2022 |
Nguyên đơn Hà Văn C khởi kiện bà Nguyễn Thị Đ. Kết quả xét nghiệm ADN xác định bà Nguyễn Thị Th có quan hệ huyết thống mẹ - con với anh C (độ tin cậy > 99,999996%). Tòa án tuyên anh C không phải con đẻ bà Đ, công nhận bà Th là mẹ đẻ. |
| Rút đơn khởi kiện qua hòa giải |
Quyết định số 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2023 |
Vụ án thụ lý số 207/2023/TLST-HNGĐ giữa chị Nguyễn Thị L và anh Đỗ Văn H. Sau quá trình giải thích của Thẩm phán, chị L tự nguyện nộp đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện ly hôn. |
-
Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn:
- Về hình thức, nội dung đơn: Bất cập khi quy định bắt buộc khởi kiện phải bằng văn bản mà chưa có cơ chế cho đương sự không biết chữ/trình độ thấp đến trình bày trực tiếp để cán bộ lập biên bản (như vụ việc ngày 23/10/2023 của anh Nguyễn Văn H tại xã TT có trình độ 0/12).
- Về tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn: Khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 và Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 chưa giải thích cụ thể thế nào là tài liệu "hiện có" và lý do "chính đáng" dẫn đến việc Tòa án trả đơn khi đương sự không tự thu thập được giấy tờ do bên kia cất giấu hoặc cơ quan hộ tịch làm thất lạc sổ đăng ký.
- Về khoảng trống pháp lý điều kiện khởi kiện: Luật không có điều khoản riêng quy định cụ thể các điều kiện khởi kiện dẫn đến tình trạng người không có quyền khởi kiện vẫn nộp đơn (như vụ việc ngày 02/10/2023 của chị Nguyễn Thị Thu H nộp đơn xin ly hôn thay cho bạn thân là chị P).
- Về nộp đơn trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử: Theo báo cáo tổng kết đến năm 2023, TAND huyện Hiệp Hòa chưa nhận được đơn khởi kiện nào qua Cổng thông tin điện tử do hạ tầng kỹ thuật và thói quen nộp trực tiếp của người dân.
- Về thủ tục cấp biên nhận đơn: 100% người khởi kiện tại TAND huyện Hiệp Hòa chỉ nhận được Biên bản giao nhận tài liệu chứ không được cấp Giấy nhận đơn khởi kiện theo đúng quy định tại Điều 191 BLTTDS 2015 (phù hợp với phản ánh tại Báo cáo số 03/BC-TA ngày 01/03/2018 của TANDTC).
-
Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế:
- Khách quan: Hệ thống pháp luật tố tụng còn kẽ hở; nhận thức và hiểu biết pháp luật của một bộ phận người dân chưa đầy đủ.
- Chủ quan: Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tố tụng của cán bộ Tòa án còn hạn chế; một số cán bộ chưa thực hiện nghiêm quy định cấp Giấy nhận đơn khởi kiện hoặc yêu cầu thêm giấy tờ xác nhận nơi cư trú ngoài quy định.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu thực tế:
Khóa luận đã tổng kết các số liệu thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2020 - 2023:
- Tỷ lệ các vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi và sau ly hôn chiếm khoảng 80% tổng số vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý.
- Ghi nhận 56 vụ án người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện tính đến ngày 30/9/2023 nhờ công tác hòa giải, giải thích của Thẩm phán.
- Ghi nhận 0 trường hợp gửi đơn khởi kiện trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án tính đến năm 2023.
- Thực trạng 100% đương sự nộp đơn không được cấp Giấy nhận đơn mà chỉ lập Biên bản giao nhận tài liệu.
Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện của tác giả:
- Bổ sung điều luật về điều kiện khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình vào BLTTDS: Cần quy định rõ 3 điều kiện: cá nhân có tư cách pháp lý và quyền khởi kiện; đúng thẩm quyền Tòa án theo loại việc, cấp và lãnh thổ; sự việc chưa được giải quyết bằng bản án/quyết định đã có hiệu lực.
- Sửa đổi, bổ sung Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của TANDTC: Làm rõ khái niệm tài liệu "hiện có" là tài liệu đương sự đang thực tế nắm giữ. Hướng dẫn các trường hợp có "lý do chính đáng" gồm: tài liệu do cơ quan nhà nước lưu trữ bị thất lạc, hoặc tài liệu cần nhiều thủ tục hành chính phức tạp chưa thể thu thập ngay. Khi có văn bản giải trình lý do chính đáng, Tòa án phải thụ lý và tiến hành thu thập theo khoản 3 Điều 97 BLTTDS 2015.
- Bổ sung quy định cho phép người khuyết tật, người không biết chữ đến Tòa án trình bày miệng: Cán bộ Tòa án có trách nhiệm lập biên bản tiếp nhận nội dung khởi kiện đối với các vụ việc đơn giản nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý.
- Các giải pháp tổ chức thực hiện:
- Xây dựng hệ thống thống kê riêng về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện và kết quả giải quyết khiếu nại việc trả đơn.
- Quán triệt cán bộ Tòa án cấp Giấy nhận đơn khởi kiện theo Điều 191 BLTTDS 2015; chấm dứt yêu cầu nguyên đơn phải tự nộp giấy xác nhận nơi cư trú của bị đơn khi đã ghi đúng địa chỉ.
- Tăng cường kiểm tra, thanh tra nghiệp vụ đối với đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án.
- Đầu tư hạ tầng công nghệ và đẩy mạnh tuyên truyền quy trình gửi đơn qua Cổng thông tin điện tử.
Đóng góp khoa học và thực tiễn tự nêu:
- Là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của hoạt động khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình.
- Là công trình đầu tiên khảo sát chuyên sâu thực tiễn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang – một địa bàn đông dân cư, có số lượng án thụ lý lớn nhưng chưa từng được công bố trong các nghiên cứu trước đó.
- Xây dựng các đề xuất lập pháp cụ thể kèm điều văn dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và tập trung vào 4 nhóm quan hệ tranh chấp phổ biến theo Điều 28 BLTTDS năm 2015 trong khung thời gian từ 2020 đến 2023. Do báo cáo công tác xét xử hàng năm của TAND huyện Hiệp Hòa chưa có mục thống kê chi tiết về số lượng trả lại đơn khởi kiện và kết quả giải quyết khiếu nại trả đơn, nghiên cứu chưa thể lượng hóa đầy đủ tỷ lệ trả đơn khởi kiện trên địa bàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên quy mô toàn bộ Tòa án nhân dân các huyện thuộc tỉnh Bắc Giang hoặc liên tỉnh; khảo sát bổ sung toàn diện các nhóm tranh chấp hôn nhân gia đình khác như tranh chấp mang thai hộ, cấp dưỡng giữa các thành viên gia đình, hoặc tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Giảng viên, học viên cao học, sinh viên ngành Luật học (chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự); Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp huyện; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý.
- Nội dung giá trị: Khung lý luận về quyền khởi kiện VAHN&GĐ tại Chương 1; các phân tích án lệ thực tế (Bản án 61/2023/HNGĐ-ST, 18/2023/HNGĐ-ST, 52/2022/HNGĐ-ST, 44/2022/HNGĐ-ST) và các kiến nghị sửa đổi văn bản hướng dẫn nghiệp vụ (Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC) tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
Khái niệm khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình được tác giả xác định như thế nào?
Theo tác giả, khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình là hành vi của chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh khi chủ thể đó cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã và đang bị xâm phạm hoặc đang xảy ra tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.
Chủ thể nào ngoài vợ, chồng được quyền khởi kiện yêu cầu ly hôn theo pháp luật hiện hành?
Căn cứ khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 5 Điều 187 BLTTDS năm 2015, cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Bất cập lớn nhất liên quan đến nghĩa vụ nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện được khóa luận chỉ ra là gì?
Khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 và Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 chưa định nghĩa rõ thế nào là tài liệu "hiện có" và lý do "chính đáng" khi không thể nộp đủ tài liệu. Dẫn đến thực tế tại TAND huyện Hiệp Hòa, khi người khởi kiện bị đối phương cất giấu đăng ký kết hôn, giấy khai sinh hoặc do cơ quan hộ tịch làm mất sổ lưu trữ thì Tòa án vẫn ra thông báo sửa đổi, bổ sung và tiến hành trả đơn nếu không nộp được.
Thực trạng áp dụng hình thức gửi đơn trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử tại TAND huyện Hiệp Hòa ra sao?
Theo số liệu Báo cáo tổng kết đến năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, đơn vị này chưa tiếp nhận bất kỳ đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình nào thông qua Cổng thông tin điện tử. Nguyên nhân do thói quen muốn nộp trực tiếp của người dân và hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ năng công nghệ thông tin.
Tác giả đề xuất xây dựng điều luật mới nào để khắc phục khoảng trống về điều kiện khởi kiện?
Tác giả đề xuất bổ sung một điều luật riêng về "Điều kiện khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình" vào BLTTDS, quy định rõ: (1) Cá nhân phải được pháp luật trao quyền và có tư cách pháp lý; (2) Vụ án phải được khởi kiện đúng thẩm quyền loại việc, cấp và lãnh thổ của Tòa án; (3) Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Dịu đã phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận và quy định pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình. Thông qua số liệu và các vụ án cụ thể tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2020 - 2023, công trình đã chỉ rõ các vướng mắc về hình thức đơn, điều kiện khởi kiện, tài liệu chứng cứ kèm theo và việc cấp giấy xác nhận nhận đơn. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể và giải pháp nghiệp vụ có giá trị thực tiễn nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.