Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động bảo lãnh ngân hàng (BLNH) là một nghiệp vụ cấp tín dụng và biện pháp bảo đảm quan trọng trong nền kinh tế thị trường, góp phần thúc đẩy các giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và đầu tư xây dựng. Tại Việt Nam, hoạt động này bắt đầu được thiết lập khuôn khổ pháp lý từ những năm 90 của thế kỷ XX thông qua Quyết định số 196/QĐ-NH14 ngày 16/04/1994 về quy chế bảo lãnh ngân hàng của các NHTM và Quyết định số 23/QĐ-NH14 ngày 21/02/1994 về quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn nước ngoài. Hệ thống pháp luật sau đó tiếp tục được điều chỉnh qua Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010, Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD, và gần đây nhất là Luật Các TCTD năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2024), cùng các văn bản hướng dẫn thi hành như Thông tư số 11/2022/TT-NHNN.
Mặc dù mang lại nguồn thu dịch vụ đáng kể cho các ngân hàng và củng cố niềm tin giữa các đối tác thương mại, hoạt động bảo lãnh ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý. Thực tiễn thi hành cho thấy các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực này có xu hướng gia tăng, phản ánh những bất cập, khoảng trống và sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của pháp luật chuyên ngành ngân hàng, pháp luật dân sự và thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả Hoàng Duy Tùng thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tài chính - Ngân hàng tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài: "Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng, thực trạng và giải pháp".
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động BLNH và pháp luật về BLNH, phân tích thực trạng quy định pháp luật thực định cùng tình hình áp dụng thực tế tại Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
- Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng: khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của BLNH và cấu trúc của pháp luật điều chỉnh quan hệ BLNH.
- Phân tích chi tiết các nội dung quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động BLNH tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng pháp luật thực định, chỉ rõ các ưu điểm cũng như những mâu thuẫn, bất cập còn tồn tại.
- Phân tích thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật BLNH tại các TCTD ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
- Xác định phương hướng và kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý về BLNH.
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động BLNH, cùng các quy định pháp luật nước ngoài, điều ước và tập quán quốc tế có liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam (tập trung vào Luật Các TCTD năm 2010, Luật Các TCTD năm 2024, Thông tư 11/2022/TT-NHNN, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Kinh doanh bất động sản) và số liệu thực tiễn áp dụng tại các TCTD Việt Nam trong giai đoạn 2020–2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên lý luận khoa học pháp lý về quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và quan hệ cấp tín dụng ngân hàng. Về mặt pháp luật thực định, cơ sở đối chiếu bao gồm:
- Bộ luật Dân sự năm 2015: Quy định tại Điều 335 về biện pháp bảo đảm đối nhân và các nguyên tắc giao kết, vô hiệu của hợp đồng (Điều 117).
- Luật Các TCTD năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Các TCTD năm 2024: Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng và điều kiện hoạt động của các TCTD.
- Thông tư số 11/2022/TT-NHNN (ngày 30/09/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam): Quy định chi tiết về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, phát hành bảo lãnh điện tử và bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai.
- Luật Kinh doanh bất động sản: Quy định tại Điều 56 và Điều 57 về bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư trong kinh doanh nhà ở hình thành trong tương lai.
- Thông lệ quốc tế: Quy tắc thực hành tín dụng dự phòng quốc tế (ISP98) về tính chất độc lập và không thể đơn phương hủy ngang của cam kết bảo lãnh.
Khóa luận kế thừa và tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây như luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Nam (2020); luận văn thạc sĩ của Trần Thị Việt Hà (2013), Đặng Thùy Linh (2017), Đặng Thị Ngọc Ánh (2017); cùng các bài viết nghiên cứu của Hoàng Việt Trung (2020), Đinh Xuân Trình và Đặng Thị Nhàn (2022).
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu luật học:
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các quy phạm pháp luật từ văn bản luật, nghị định, thông tư và báo cáo thống kê chuyên ngành.
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ bản chất pháp lý, quyền, nghĩa vụ của các bên và cơ chế thực thi cam kết bảo lãnh.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với thông lệ quốc tế để xác định khoảng trống pháp lý.
- Phương pháp đánh giá: Phân tích mặt tích cực, hạn chế của quy định thực định dựa trên dữ liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước và số liệu thực tế tại các ngân hàng thương mại (như Vietcombank giai đoạn 2020–2022).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát về bảo lãnh ngân hàng và pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận nền tảng về hoạt động BLNH và pháp luật điều chỉnh quan hệ này:
-
Bản chất pháp lý và đặc điểm của BLNH:
- BLNH là một biện pháp bảo đảm mang tính chất đối nhân, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu đối với TCTD bảo lãnh chứ không có quyền ưu tiên thu hồi nợ trên một tài sản cụ thể của bên có nghĩa vụ.
- BLNH là hành vi thương mại đặc thù do chủ thể đặc thù là các TCTD chuyên nghiệp thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận. TCTD có tư cách kép: vừa là người bảo lãnh, vừa là nhà kinh doanh dịch vụ ngân hàng.
- Cấu trúc giao dịch "kép": Quan hệ bảo lãnh xác lập hai hợp đồng có quan hệ nhân quả nhưng độc lập về mặt pháp lý: (i) Hợp đồng dịch vụ bảo lãnh (giữa TCTD và bên được bảo lãnh); (ii) Hợp đồng/Cam kết bảo lãnh (giữa TCTD và bên nhận bảo lãnh). Việc hợp đồng này vô hiệu không đương nhiên làm hợp đồng kia vô hiệu.
- Theo thông lệ quốc tế (như ISP98), cam kết bảo lãnh là giao dịch không thể đơn phương hủy ngang và việc xác lập, thực hiện hoàn toàn dựa trên cơ sở chứng từ hợp lệ.
-
Vai trò của BLNH:
- Đối với nền kinh tế: Giảm thiểu rủi ro tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ mở rộng ngoại thương (bảo lãnh thuế quan, bảo lãnh chứng từ).
- Đối với các bên tham gia: Tạo lập uy tín cho bên được bảo lãnh; bảo đảm quyền lợi bồi hoàn cho bên nhận bảo lãnh; tạo nguồn thu phí dịch vụ cho bên bảo lãnh bên cạnh các rủi ro cần quản trị (rủi ro không nhận nợ, rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng).
-
Phân loại bảo lãnh ngân hàng:
Căn cứ vào nội dung và mục đích của giao dịch, khóa luận phân loại các hình thức bảo lãnh chính:
| Loại hình bảo lãnh |
Đối tượng của nghĩa vụ bảo lãnh |
Cơ sở xác lập nghĩa vụ |
| Bảo lãnh vay vốn |
Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay, tiền phạt và bồi thường thiệt hại của bên vay đối với bên cho vay |
Hợp đồng tín dụng |
| Bảo lãnh thực hiện hợp đồng |
Nghĩa vụ tài sản phát sinh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết |
Hợp đồng kinh tế/thương mại đã có hiệu lực |
| Bảo lãnh thanh toán |
Nghĩa vụ thanh toán tiền của người mắc nợ đối với chủ nợ theo thời hạn cam kết |
Quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ |
| Bảo lãnh dự thầu |
Nghĩa vụ tài sản của nhà thầu khi tham gia đấu thầu (ký hợp đồng sau trúng thầu) |
Hồ sơ mời thầu và quy chế đấu thầu |
| Bảo lãnh chất lượng sản phẩm |
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc chi phí phát sinh nếu sản phẩm không đạt tiêu chuẩn |
Hợp đồng mua bán, xây dựng hoặc cung ứng dịch vụ |
| Bảo lãnh đối ứng |
Nghĩa vụ tài sản của khách hàng được bảo lãnh đối với TCTD bảo lãnh |
Cam kết giữa TCTD bảo lãnh đối ứng và TCTD bảo lãnh |
| Xác nhận bảo lãnh |
Nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh khi bên bảo lãnh vi phạm cam kết |
Thỏa thuận giữa bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên xác nhận |
- Nội dung pháp luật và quy trình thực hiện:
Quy trình thực hiện nghiệp vụ BLNH chuẩn hóa qua 4 bước: (1) Lập và gửi hồ sơ đề nghị bảo lãnh; (2) Thẩm định hồ sơ và thông báo kết quả bằng văn bản; (3) Ký hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và phát hành thư bảo lãnh/hợp đồng bảo lãnh; (4) Thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi nhận được yêu cầu hợp lệ bằng chứng từ. Về mặt giải quyết tranh chấp, các cơ quan tài phán phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên, áp dụng luật nơi TCTD bảo lãnh có trụ sở nếu không có thỏa thuận, và bảo đảm tính độc lập của cam kết bảo lãnh.
Chương II: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam
Chương II đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và đối chiếu với thực tiễn áp dụng:
-
Thực trạng quy định pháp luật:
- Khái niệm BLNH: Tồn tại sự thiếu đồng bộ về thuật ngữ giữa Thông tư 11/2022/TT-NHNN, Luật Các TCTD năm 2010 (xem BLNH là hình thức cấp tín dụng) với Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 (xem bảo lãnh là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự).
- Quy định về chủ thể: Pháp luật cho phép ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, nhưng chưa có quy định cụ thể về điều kiện cấp phép tương ứng với từng loại hình và phương thức bảo lãnh của từng loại hình TCTD.
- Phạm vi và giới hạn bảo lãnh: TCTD tự quyết định phạm vi bảo lãnh, nhưng phải tuân thủ giới hạn an toàn: tổng dư bảo lãnh cho một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của TCTD. Nếu vượt quá giới hạn này, phải thực hiện đồng bảo lãnh (nghĩa vụ của các bên đồng bảo lãnh là độc lập nếu có thỏa thuận phân chia bằng văn bản, hoặc mang tính liên đới nếu không có thỏa thuận).
- Nội dung, hình thức và bảo lãnh điện tử: Điều 9 và Điều 15 Thông tư 11/2022/TT-NHNN đã quy định nội dung hợp đồng cấp bảo lãnh và cam kết bảo lãnh. Quy định về bảo lãnh qua phương tiện điện tử đã được ghi nhận nhưng mới dừng lại ở các nguyên tắc khung kỹ thuật tối thiểu, trao toàn quyền cho TCTD tự quy định quy trình, gây ra rủi ro pháp lý trong việc xác thực dữ liệu.
- Trình tự, thủ tục và quyền nghĩa vụ: Điều 26 Thông tư 11/2022/TT-NHNN quy định TCTD ban hành quy chế nội bộ và phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và xét duyệt cấp bảo lãnh. Tuy nhiên, thực tế còn thiếu minh bạch trong cơ chế tính phí bảo lãnh, cách tính lãi suất phạt và quy chuẩn xác định giá trị tài sản bảo đảm.
- Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai: Căn cứ Điều 13 Thông tư 11/2022/TT-NHNN và Luật Kinh doanh bất động sản, thư bảo lãnh phát hành cho bên mua có hiệu lực kéo dài ít nhất 30 ngày kể từ thời hạn giao nhận nhà cam kết; số tiền bảo lãnh tối đa bằng số tiền ứng trước theo Điều 57 Luật Kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, mức phí bảo lãnh (khoảng 2% tổng giá trị dự án) bị chủ đầu tư tính vào giá thành khiến người mua nhà phải gánh chịu, trong khi ngân hàng bảo lãnh thường chính là đơn vị tài trợ tín dụng và nhận thế chấp chính dự án đó.
-
Thực tiễn thực hiện và những kết quả đạt được:
- Thị trường BLNH tại Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu hàng năm từ 10–15% theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.
- Các TCTD đã chủ động ban hành đồng bộ hệ thống quy chế nội bộ, hợp đồng mẫu, mở rộng mạng lưới chi nhánh và đa dạng hóa sản phẩm bảo lãnh (thực hiện hợp đồng, thanh toán, dự thầu, tạm ứng, vay vốn).
- Doanh thu từ phí bảo lãnh tại các ngân hàng thương mại tiêu biểu (như Vietcombank) duy trì đà tăng trưởng liên tục qua các năm (giai đoạn 2020–2022), chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu thu nhập dịch vụ phi tín dụng.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam
Khóa luận xác lập các định hướng và nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý:
-
Phương hướng hoàn thiện:
- Phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển hệ thống tài chính - ngân hàng an toàn, minh bạch.
- Đảm bảo các tiêu chuẩn lập pháp: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật, tính phù hợp với thực tiễn và tính khả thi khi áp dụng.
- Khắc phục triệt để các khoảng trống, điểm nghẽn và mâu thuẫn giữa pháp luật ngân hàng với pháp luật dân sự, đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản.
-
Hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật:
- Về chủ thể thực hiện: Xây dựng quy định phân định rõ ràng về điều kiện cấp phép và phạm vi cung ứng nghiệp vụ bảo lãnh đối với từng loại hình TCTD cụ thể (ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài).
- Về trình tự, thủ tục thực hiện: Ban hành các quy chuẩn pháp lý chi tiết điều chỉnh hoạt động bảo lãnh điện tử, quy định rõ giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử và cơ chế xuất trình chứng từ điện tử khi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Hoàn thiện quy định nội bộ của TCTD: Bắt buộc các TCTD minh bạch hóa biểu phí bảo lãnh, công khai phương pháp tính lãi suất trong trường hợp phải nhận nợ bắt buộc, đồng thời xây dựng quy chuẩn thống nhất trong định giá và quản lý tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh.
- Nhóm giải pháp khác: Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi người mua nhà trong bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai, kiểm soát xung đột lợi ích giữa vai trò ngân hàng tài trợ dự án và vai trò ngân hàng bảo lãnh chủ đầu tư.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện 7 đặc điểm pháp lý cơ bản của BLNH, đặc biệt là tính chất đối nhân, giao dịch "kép" tạo lập 2 hợp đồng độc lập và nguyên tắc xử lý theo chứng từ.
- Phân tích chi tiết quy định giới hạn tổng dư bảo lãnh 15% vốn tự có của TCTD đối với một khách hàng và cơ chế phân chia nghĩa vụ độc lập hoặc liên đới trong đồng bảo lãnh.
- Làm rõ cơ chế vận hành của bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai theo Điều 13 Thông tư 11/2022/TT-NHNN, chỉ ra bất cập về chi phí bảo lãnh 2% và tình trạng thiếu số liệu thống kê về quyền lợi người mua nhà được bảo vệ trên thực tế.
- Phản ánh thực tiễn thị trường bảo lãnh tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng doanh thu phí đạt 10–15%/năm theo dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước.
- Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất hoàn thiện quy chế cấp phép theo loại hình TCTD, chuẩn hóa quy trình bảo lãnh điện tử, minh bạch hóa biểu phí/lãi suất và hoàn thiện cơ chế bảo lãnh dự án nhà ở.
- Đóng góp học thuật tự nêu: Cập nhật toàn diện các văn bản pháp luật mới nhất tại thời điểm nghiên cứu (Luật Các TCTD năm 2024 và Thông tư 11/2022/TT-NHNN), khắc phục độ trễ về mặt dữ liệu pháp lý của các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ dựa trên Luật Các TCTD 2010 chưa sửa đổi hoặc Thông tư 07/2015/TT-NHNN cũ.
Hạn chế và hướng nghiên