Khóa Luận Tốt Nghiệp Nông Nghiệp Bình Dương Trong Thời Kỳ Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa 1997-2010

Khóa luận tốt nghiệp nông nghiệp tại Bình Dương giai đoạn 1997-2010, phân tích tác động công nghiệp hóa, hiện đại hóa lên ngành nông nghiệp địa phương.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2014

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về khóa luận tốt nghiệp nông nghiệp Bình Dương thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa 1997 2010

Khóa luận tốt nghiệp này tập trung nghiên cứu sự phát triển của nông nghiệp Bình Dương trong giai đoạn 1997-2010, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóahiện đại hóa. Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của các chính sách nông nghiệp đối với sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệpkinh tế nông thôn tại Bình Dương. Khóa luận sử dụng các nguồn tài liệu từ văn kiện Đảng và Nhà nước, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Nông nghiệp Bình Dương, cùng các số liệu thống kê từ Cục Thống kê tỉnh.

1.1. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích chính của khóa luận là tìm hiểu tác động của chính sách kinh tế đối với cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Bình Dương từ năm 1997 đến 2010. Nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực như trồng cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia đìnhchăn nuôi quy mô lớn. Phạm vi nghiên cứu bao gồm giai đoạn từ năm 1997, khi Bình Dương tái thành lập tỉnh, đến năm 2010, thời điểm đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong công nghiệp hóa nông nghiệphiện đại hóa nông nghiệp.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với logic để phân tích sự phát triển của nông nghiệp Bình Dương. Phương pháp thống kê, so sánh, và phân tích tổng hợp được áp dụng để đánh giá tác động của các chính sách phát triển nông nghiệp đối với kinh tế nông thônchuyển đổi cơ cấu nông nghiệp. Nghiên cứu cũng dựa trên các tài liệu từ Niên giám thống kê và các báo cáo tổng kết của tỉnh Bình Dương.

II. Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương trước năm 1997

Trước năm 1997, Bình Dương là một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào trồng trọtchăn nuôi. Điều kiện tự nhiên thuận lợi với đất đai màu mỡ và khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các loại cây trồng như lúa, cây công nghiệp, và cây ăn trái. Tuy nhiên, kinh tế nông thôn còn nhiều hạn chế, chưa có sự đầu tư mạnh mẽ vào công nghiệp hóa nông nghiệphiện đại hóa nông nghiệp.

2.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên

Bình Dương có địa hình đa dạng, từ vùng núi thấp đến đồng bằng, với hệ thống sông ngòi phong phú như sông Bé, sông Sài Gòn, và sông Đồng Nai. Đất đai chủ yếu là đất xámđất đỏ vàng, phù hợp cho trồng cây công nghiệpcây ăn trái. Tài nguyên rừng và khoáng sản cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh.

2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

Trước năm 1997, kinh tế nông nghiệp của Bình Dương chủ yếu dựa vào trồng lúacây công nghiệp như cao su, cà phê, và hồ tiêu. Chăn nuôi gia đình cũng là một phần quan trọng trong kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, sản xuất còn manh mún, chưa có sự đầu tư lớn vào công nghiệp hóa nông nghiệphiện đại hóa nông nghiệp, dẫn đến năng suất thấp và đời sống nông dân còn nhiều khó khăn.

III. Nông nghiệp Bình Dương trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa 1997 2010

Giai đoạn 1997-2010 đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp Bình Dương với sự áp dụng các chính sách phát triển nông nghiệpcông nghiệp hóa nông nghiệp. Các chính sách kinh tế đã thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, từ sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô lớn, tập trung vào các loại cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Hiện đại hóa nông nghiệp cũng được đẩy mạnh với việc áp dụng công nghệ mới và cơ giới hóa sản xuất.

3.1. Chính sách phát triển nông nghiệp

Các chính sách phát triển nông nghiệp của Bình Dương trong giai đoạn này tập trung vào việc khuyến khích đầu tư vào công nghiệp hóa nông nghiệphiện đại hóa nông nghiệp. Các chính sách như hỗ trợ vốn, đào tạo kỹ thuật, và xây dựng cơ sở hạ tầng đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Chính sách kinh tế nông nghiệp cũng thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệpkhu chế biến nông sản, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho nông dân.

3.2. Kết quả phát triển nông nghiệp

Nhờ các chính sách phát triển nông nghiệp, nông nghiệp Bình Dương đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Diện tích trồng lúacây công nghiệp được mở rộng, năng suấtsản lượng tăng đáng kể. Chăn nuôi quy mô lớn cũng phát triển mạnh, đặc biệt là các trang trại chăn nuôi heogia cầm. Hiện đại hóa nông nghiệp đã giúp giảm thiểu lao động thủ công và tăng hiệu quả sản xuất, góp phần cải thiện kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ đa dạng hóa và thay đổi cơ cấu trồng trọt của nƣớc Việt Nam nói chung và cơ cấu trồng trọt truyền thống ở Bình Dƣơng nói riêng. Đặc điểm xã hội 1. Dân cƣ, dân số Bình Dƣơng vốn là một vùng đất hoang vu, rừng rậm, ít đƣợc khai phá, cƣ dân sở tại là ngƣời dân tộc thiểu số Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, MNông sinh sống. 10 Từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, vùng đất Bình Dƣơng bắt đầu xuất hiện lớp cƣ dân mới, họ là những cƣ dân xiêu tán của vùng Ngũ Quảng, do không chịu nổi cảnh áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến hà khắc (cƣớp đoạt ruộng đất, sƣu cao, thuế nặng, bắt phu, bắt lính…), thiên tai, lũ lụt liên miên, đã đẩy họ đến chỗ khốn cùng, đói chết.

Ban đầu, số lƣợng ngƣời Việt di cƣ vào rất ít, lẻ tẻ, rời rạc và tự phát nhƣng càng về sau quá trình di cƣ trở nên quy mô hơn, lớn hơn, đặc biệt là sau sự kiện năm 1618, khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Preachey Chettha II. Và tiếp đó, đến năm 1658, khi vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân xin làm phiên thần của chúa Nguyễn và “triều nạp” đã tạo điều kiện thuận lợi cho làn sóng di cƣ của lƣu dân ngƣời Việt vào phƣơng Nam trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sau nhiều đợt di dân tự phát tiến vào phƣơng Nam, năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào phƣơng Nam kinh lƣợc, thiết lập cơ cấu hành chính, lập phủ Gia Định “lấy đất lập Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên. lập sổ bộ đinh điền”[23; tr.

12], chuẩn định thuế má, quản lý dân cƣ, thu thuế và xác lập cƣơng vực đất nƣớc. Chúa Nguyễn thấy nơi đây đất đai còn quá rộng, phần lớn chƣa đƣợc khai phá nên đã tiến hành ngay việc “chiêu mộ lƣu dân vô Nam”. Chính những chính sách khẩn hoang này đã mang đến vùng đất Bình Dƣơng xƣa nhiều cƣ dân mới với tổ chức quy mô rất. Bên cạnh làn sóng di cƣ của cƣ dân Việt, còn có nhiều cƣ dân khác, trong số đó không thể không kể đến lớp cƣ dân ngƣời Hoa.

Năm 1679, do việc tranh chấp quyền lực giữa các dòng họ - tập đoàn phong kiến Mãn - Minh, có khoảng 3.000 ngƣời Trung Quốc có cầm đầu đã chạy sang Đại Việt xin tỵ nạn. Đƣợc chúa Nguyễn chấp thuận, một bộ phận ngƣời Hoa đã sáp nhập, định cƣ tại vùng đất Bình Dƣơng. Hơn nữa, sau Hòa ƣớc Thiên Tân (1885) giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh đƣợc ký kết, một bộ phận ngƣời Hoa đã đến Bình Dƣơng sinh sống và trở thành cƣ dân nơi đây. Nhƣ vậy, do quá trình Nam tiến diễn ra liên tục, nên số cƣ dân sinh sống ở Bình Dƣơng xƣa đã lên tới 230.000 ngƣời [37; tr.

Ngoài lớp cƣ dân nông nghiệp, 11 thợ thủ công, tiểu thƣơng, quan lại địa chủ, ở Bình Dƣơng còn có thêm một lực lƣợng mới - đó là lực lƣợng công nhân, xuất hiện dƣới ách cai trị và chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Sau ngày miền Nam đƣợc giải phóng, năm 1975, tình hình dân cƣ ở Bình Dƣơng (lúc đó là Sông Bé) có sự biến động lớn, tình trạng này xuất phát do nhiều nguyên nhân. Một phần là do những ngƣời đã chạy loạn chiến tranh, trốn tránh lao dịch ở vùng Ngũ Quảng nay lại quay trở về quê cũ, một phần do đồng bào ở một số tỉnh miền Bắc, miền Trung di dân đến Bình Dƣơng lập nghiệp theo chính sách kinh tế mới của Nhà nƣớc. Trong giai đoạn đầu, do đất đai nông nghiệp hầu nhƣ bị hoang hóa vì bom đạn, vì chất độc hóa học, làm cho hàng chục ngàn gia đình nông dân không có ruộng đất, bên cạnh đó là hàng chục ngàn ngƣời làm việc cho bộ máy chế độ Sài Gòn tan rã tại chỗ, tất cả tạo ra một lực thất nghiệp khổng lồ, làm cho cuộc sống của cƣ dân nơi đây gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, sau đó, nhờ các chính sách, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, các chƣơng trình, các dự án định canh, định cƣ của Nhà nƣớc và tỉnh nhà đã chấm dứt hẳn tình trạng du canh du cƣ của các đồng bào thiểu số, tạo điều kiện để họ thích nghi hơn với điều kiện sinh hoạt và canh tác mới. Những gia đình khắc phục đƣợc khó khăn thử thách gay gắt thì cuộc sống dần dần đƣợc cải thiện, trong số đó đã trở thành những chủ trang trại lớn. Từ sau khi tách tỉnh năm 1997, Bình Dƣơng là một trong những tỉnh có sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, do đó nguồn lao động nhập cƣ đổ về Bình Dƣơng ngày một lớn, dân số của Bình Dƣơng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là đội ngũ công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, tập trung nhiều nhất ở các huyện Thuận An, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một, Tân Uyên, Bến Cát. Trên cơ sở đó, bức tranh dân cƣ Bình Dƣơng ngày càng đông đúc, có trình độ tay nghề và trình độ khoa học kỹ thuật, theo thống kê, đến năm 2005, toàn tỉnh có khoảng 300.000 lao động nhập cƣ theo chính sách “trải thảm đỏ” của tỉnh [2; tr.

Đây là lực lƣợng lao động, là nguồn nhân lực hết sức quan trọng góp phần mang tính quyết tạo nên sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dƣơng trong những năm qua. Đồng thời đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Bình Dƣơng trong tƣơng lai. 12 Năm 1997, dân số toàn tỉnh chỉ có 685.284 ngƣời, mật độ dân số là 252 ngƣời/km2. Tính đến năm 2010, dân số toàn tỉnh Bình Dƣơng là 1.930 ngƣời, mật độ dân số 601 ngƣời/km².

Trong đó dân số nam đạt 878.051, dân số nữ đạt 841.879 ngƣời, dân số sống tại thành thị đạt gần 512.908 ngƣời, dân số sống tại nông thôn đạt 1.022 ngƣời [9, tr. Điều này chứng tỏ, dân cƣ Bình Dƣơng tăng lên một cách nhanh chóng do nhiều nguyên nhân: do tỷ lệ tăng tự nhiên, số dân nhập cƣ tìm nơi có điều kiện khá hơn để sinh sống và do chính sách thu hút nhân tài của tỉnh nhà - đây chính bộ phận dân cƣ có trình độ cao, dễ dàng tiếp thu những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong tƣơng lai. Trên địa bàn Bình Dƣơng có khoảng 15 dân tộc, nhƣng đông nhất là ngƣời Kinh và sau đó là ngƣời Hoa, ngƣời Khơ Me. Nhƣ vậy, sự đa dạng về nguồn gốc và thành phần cƣ dân đã làm cho bức tranh cƣ dân Bình Dƣơng thêm đa sắc.

Xuất thân là dân “tứ chiếng”, vốn kế thừa truyền thống lao động cần cù, chịu thƣơng chịu khó của ngƣời nông dân lao động nghèo khổ của ngƣời nông dân lúa nƣớc Việt Nam. Hơn nữa, đƣợc kế thừa đức tính dám nghĩ, dám làm, trèo non lội suối, lấp biển vá trời của các thế hệ cha anh để khai phá vùng đất phƣơng Nam. Tất cả tính cách đó, dƣới sự tác động của các điều kiện tự nhiên - xã hội của vùng đất “mở” đã mang đến cho con ngƣời Bình Dƣơng thêm sự chân thành, lòng mến khách và không thiếu lòng nghĩa hiệp. Theo dòng thời gian, trải qua các quá trình khai hoang, lập ấp, đấu tranh chống áp bức, bất công và chống lại bọn thực dân xâm lƣợc, ngƣời Bình Dƣơng ngày một trƣởng thành hơn, bản lĩnh hơn, trong mọi công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nƣớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đời sống vật chất Có thể nói rằng, Bình Dƣơng là một vùng đất đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, đất rộng, màu mỡ, điều kiện tự nhiên thích hợp, nền kinh tế nông nghiệp phát triển sớm đã tạo ra một khối lƣợng sản phẩm dƣ thừa, làm cho cuộc sống của cƣ dân nơi đây no đủ, sung túc. Bên cạnh việc phát triển nông nghiệp, cƣ dân Bình Dƣơng còn phát triển thêm một số nghề thủ công nhƣ làm gốm, vẽ tranh, điêu khắc gỗ, góp phần tạo thêm nguồn thu nhập. Để đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các địa phƣơng, 13 khắp nơi chợ búa mọc lên. Và khi kinh tế phát triển, nhu cầu tâm linh cũng xuất hiện trong dân gian với các đình, chùa… lần lƣợt đƣợc xây dựng với quy mô ngày một lớn hơn.

Tuy nhiên, không lâu sau, kể từ khi thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, áp đặt ách thống trị và tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa đã đẩy con ngƣời Việt Nam nói chung và cƣ dân Bình Dƣơng nói riêng trở về với khó khăn, khổ cực bởi sƣu cao, thuế nặng… trong một thời gian dài. Đời sống văn hóa tinh thần Cũng nhƣ phần đông các tỉnh Nam Bộ, đời sống văn hóa tinh thần của cƣ dân Bình Dƣơng đƣợc xem là phong phú và đa dạng. Đó là việc thực hành các lễ tục trong đời sống thƣờng nhật nhƣ: ma chay, cƣới hỏi, sinh nhật, mừng thọ, hay cơ cấu tổ chức của một gia đình… Dù trải qua biết bao biến cố, thăng trầm lịch sử nhƣng những tập tục có nguồn gốc lâu đời vẫn tồn tại và gắn bó sâu sắc với con ngƣời nơi đây. Chính cuộc sống cởi mởi của những ngƣời dân ở một vùng đất mới đã làm cho nề nếp, gia phong của gia đình phần nào giản đơn đi, thay đổi theo chiều hƣớng phù hợp, thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh xã hội mới.

Bình Dƣơng là một tỉnh đa dạng về tôn giáo. Đạo Phật, đạo Thiên chúa là một trong những tôn giáo có số lƣợng tín đồ khá lớn và phát triển nhanh, đƣợc du nhập vào Bình Dƣơng vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ngoài ra, ở Bình Dƣơng còn có một số tín đồ Cao Đài với các hệ phái khác nhau, nhƣ: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Chơn Lý… Một số ít cƣ dân theo đạo Tin Lành. Cùng với sự có mặt của các tôn giáo là các tín ngƣỡng dân gian, các lễ hội văn hóa truyền thống không thể thiếu ở mảnh đất trù phú, thiên nhiên ƣu đãi này.

Đó là các lễ hội đình (đình Phú Long, đình Tân An…), lễ hội miếu, lễ hội tổ nghề, lễ hội chùa Phật, lễ của những tín đồ theo đạo Thiên Chúa… Đặc biệt ở Bình Dƣơng có một lễ hội rất lớn của ngƣời Hoa nhƣng đƣợc cƣ dân ngƣời Việt hƣởng ứng rầm rộ đƣợc diễn ra vào rằm tháng giêng hàng năm - đó là lễ hội chùa Bà.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ