Khóa Luận Tốt Nghiệp: Tính Chất Quá Độ Trong Thơ Tản Đà

Luận văn tốt nghiệp văn học nghiên cứu tốt nghiệp ngữ văn tính chất quá độ trong thơ tản đà, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải tiến thực tế.

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2005

129
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA TẢN ĐÀ

1.1. Quê hương

1.2. Gia đình

2. CHƯƠNG 2: TÍNH CHẤT QUÁ ĐỘ TRONG THƠ TẢN ĐÀ

2.1. Về khái niệm tính chất quá độ

2.2. Biểu hiện của tính chất quá độ trong thơ Tản Đà

2.3. Thơ Tản Đà tiếp nối những thành tựu nghệ thuật của thơ ca truyền thống

2.4. Tản Đà - người khơi nguồn cho một số chủ đề tư tưởng của Thơ mới

2.5. Tản Đà - những cách tân nghệ thuật

3. CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA TÍNH CHẤT QUÁ ĐỘ TRONG THƠ TẢN ĐÀ

3.1. Vị trí của Tản Đà trong văn học

3.2. Ảnh hưởng đối với thế hệ sau

PHẦN KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về khóa luận tốt nghiệp ngữ văn Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà

Khóa luận tốt nghiệp ngữ văn với chủ đề "Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà" không chỉ là một nghiên cứu về tác giả mà còn là một hành trình khám phá những biến chuyển trong văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20. Tản Đà, một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ này, đã thể hiện rõ nét tính chất giao thời giữa văn học cổ điển và hiện đại. Khóa luận sẽ phân tích sâu sắc những yếu tố tạo nên tính chất quá độ trong thơ của ông, từ đó làm nổi bật vai trò của Tản Đà trong việc mở đường cho thơ mới.

1.1. Khái niệm về tính chất quá độ trong thơ Tản Đà

Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà được hiểu là sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn văn học khác nhau. Điều này thể hiện qua nội dung và hình thức thơ ca của ông, nơi mà những ảnh hưởng của văn học cổ điển vẫn còn hiện hữu nhưng đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới mẻ, hiện đại. Tản Đà đã khéo léo kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, tạo nên một phong cách thơ độc đáo.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu tính chất quá độ

Nghiên cứu tính chất quá độ trong thơ Tản Đà không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác giả mà còn mở ra cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của văn học Việt Nam. Việc phân tích này sẽ giúp người đọc nhận diện được những giá trị nghệ thuật và tư tưởng mà Tản Đà đã để lại, từ đó khẳng định vị trí của ông trong lịch sử văn học.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nghiên cứu thơ Tản Đà

Việc nghiên cứu thơ Tản Đà gặp phải nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định tính chất quá độ. Nhiều nhà phê bình vẫn chưa khai thác đầy đủ các khía cạnh của thơ ông, dẫn đến những hiểu lầm về giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong tác phẩm. Điều này đòi hỏi một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thơ Tản Đà.

2.1. Những khó khăn trong việc phân tích thơ Tản Đà

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc phân biệt giữa các yếu tố cổ điển và hiện đại trong thơ Tản Đà. Nhiều tác phẩm của ông vẫn mang đậm ảnh hưởng của văn học cổ điển, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những yếu tố mới mẻ, hiện đại. Điều này khiến cho việc phân tích trở nên phức tạp.

2.2. Sự thiếu hụt tài liệu nghiên cứu

Mặc dù Tản Đà là một trong những nhà thơ nổi tiếng, nhưng tài liệu nghiên cứu về ông vẫn còn hạn chế. Nhiều tác phẩm của ông chưa được phân tích một cách đầy đủ, dẫn đến việc người đọc khó có thể hiểu rõ về tính chất quá độ trong thơ của ông.

III. Phương pháp nghiên cứu tính chất quá độ trong thơ Tản Đà

Để nghiên cứu tính chất quá độ trong thơ Tản Đà, nhiều phương pháp sẽ được áp dụng. Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu sẽ giúp làm rõ những nét đặc trưng trong thơ của ông, từ đó khẳng định vai trò của Tản Đà trong việc kết nối giữa hai thế hệ văn học.

3.1. Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này sẽ giúp phân tích các yếu tố nội dung và nghệ thuật trong thơ Tản Đà. Bằng cách tổng hợp các luận điểm chính, người nghiên cứu sẽ có cái nhìn tổng quát về tính chất quá độ trong tác phẩm của ông.

3.2. Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp so sánh sẽ được sử dụng để đối chiếu thơ Tản Đà với các nhà thơ trước và sau ông. Điều này sẽ giúp làm nổi bật những nét mới mẻ trong thơ của Tản Đà, đồng thời khẳng định vai trò của ông trong việc mở đường cho thơ mới.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thơ Tản Đà

Kết quả nghiên cứu về tính chất quá độ trong thơ Tản Đà không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Những phát hiện từ khóa luận sẽ giúp sinh viên và người nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn về thơ ca Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20.

4.1. Giá trị ứng dụng trong giảng dạy văn học

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào chương trình giảng dạy văn học, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về sự phát triển của thơ ca Việt Nam. Việc này sẽ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn học của Tản Đà.

4.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu về thơ Tản Đà cần được mở rộng hơn nữa, đặc biệt là trong việc khai thác các khía cạnh chưa được chú ý. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam và khẳng định vị trí của Tản Đà trong lịch sử văn học.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về thơ Tản Đà

Khóa luận về tính chất quá độ trong thơ Tản Đà không chỉ là một nghiên cứu đơn thuần mà còn là một bước tiến trong việc hiểu rõ hơn về văn học Việt Nam. Tương lai của nghiên cứu này sẽ mở ra nhiều hướng đi mới, giúp làm sáng tỏ hơn nữa những giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong thơ Tản Đà.

5.1. Tóm tắt những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính chất quá độ trong thơ Tản Đà thể hiện rõ nét qua sự kết hợp giữa các yếu tố cổ điển và hiện đại. Điều này không chỉ khẳng định vai trò của ông trong văn học mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo.

5.2. Định hướng cho các nghiên cứu tương lai

Tương lai của nghiên cứu về thơ Tản Đà cần tập trung vào việc khai thác sâu hơn các tác phẩm của ông, từ đó làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và tư tưởng mà ông đã để lại cho văn học Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngữ văn tính chất quá độ trong thơ tản đà

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1:CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA TẢN ĐÀ 1.Quê hương: Tản Đà (1889- 1939) sinh ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây- nay là thôn Khê Thượng, xã sơn Đà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Sở dĩ có tên là Khê Thượng là vì từ xưa làng có một con ngòi lớn chạy ngang qua, đưa nước từ Dam Long chảy ra sông Đà. Phía trên ngòi là xóm Khê Thượng- tức xóm ngoài, phía dưới là xóm Khê Hạ- tức xóm trong, cả hai xóm đều thuộc làng Khê Thượng. Khê Thượng là làng quê nằm sát ngay trên hữu ngạn sông Đà.

Đây là vùng cảnh trí hữu tình, một bên là đòng sông Đà với ghénh Bg và những gò đổi của vùng Thanh Thủy, một bên là cánh đồng bát ngát chạy đến chân núi Ba Vì. Khê Thượng nổi tiếng là có vải ngon, vải tiến. Ngày trước, dọc hai bên bờ đê, ngòi, những rặng vải mọc xanh um, đến mùa tháng ba quả chín đỏ rực, tu hú gọi nhau về. Khê Thượng thường được cả vùng gọi là “làng Khê văn vật” vì có nhiều người đi học và đỗ đạt hơn các làng khác, người làng gọi họ là “họ nhà quan”.

Dòng họ Nguyễn của Tản Đà mà ông tổ là Nguyễn Huy Túc đỗ hương cống vào thời Chiêu Thống, làm tới binh bộ thị lang. Họ này còn có một văn thân theo Ngô Quang Bích chống Pháp được phong tấn tương quân vụ mà Nguyễn Công Bích vẫn gọi là Nguyễn Công Khê Thượng. Họ Nguyễn ở Khê Thượng còn có đầu xứ Nguyễn Hổ Trừu- anh họ của Tản Đà, mà dân làng vẫn cho là “người cuồng chữ” nổi tiếng về vũn thơ trào phúng. Khê Thượng cũng như rất nhiều xã ở vùng Ba Vì, thờ Tản Viên sơn thúnh làm thành hoàng.

Hàng năm từ đêm 30 tết đến mồng 5 tết, ở đây tổ chức lễ Thánh tan. tái hiện lại hoạt cảnh Sơn Tinh Thủy Tinh ngày xưa. SVIH: Lê Thị Thúy Hằng § Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà : GVHD: Ths, Phạm Văn Nhu Ngoài ra Khê Thượng còn là một mảnh đất của tỉnh Đoài, vùng đất xa xưa thuộc Phong Châu, với kho truyền thuyết và dã sử, với nhiều danh lam thấng cảnh và di tích lịch sử. Những truyền thuyết về Sơn Tinh- Thủy Tinh, về Hai Bà Trưng,.

được truyền tụng nhiều. Những ngày lễ hội ở chùa Thầy, dén Và, đến Thượng, dén Hạ, chùa Mía, đình Tây Đằng. đem lại cho vùng đất hữu tình này một vẻ thiêng liêng đầm ấm. Xứ Đoài còn là một kho tàng giàu có ca dao, tục ngữ về các ngành nghề, các đặc sản địa phương, các chợ, các phong tục và nhất là về tình yêu, vé nhân tình thế thái.

Trong tác phẩm của Tản Đà có khá nhiều phong dao hay, phải chăng cũng bắt nguồn từ di sản của mảnh đất này? Chính Khê Thượng nói riêng và xứ Đoài nói chung đã tác động nhiều đến con người Tản Đà. Làng Khê Thượng vốn gắn bó với cuộc đời Tản Đà. Đó không những là cái nôi nuôi Tản Đà từ tấm bé đến thời niên thiếu mà còn là nơi mà, nhiều năm sau và suốt cả cuộc đời ông, Tản Đà vẫn thường đi về, vào những ngày tết và nghỉ chân sau những chuyến đi mệt mỏi, lúc thất bai trên đường đời. Khê Thượng là mạch ngầm khơi gợi bao cảm xúc và suy ngẫm trong thơ văn của Tản Đà.

Trong thơ ông, ta thường bắt gặp bóng dáng núi Tản và sông Đà: “Nước đợn sông Đà con cá nhảy Mây tràm non Tản cái điều bay” (Quê nhà chơi mát cdm tác) Hình ảnh núi Tản sông Đà như máu thịt đối với ông: “Mach nước sông Đà tim róc rách Ngàn mây non Tản mắt la mo” (Ngày xuân thơ rượu) 1.Gia đình: Tản Đà xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, khoa hoan lâu đời. Cha là cử nhân Nguyễn Danh Kế, án sát tỉnh Ninh Bình rồi làm ngự sử; mẹ là Nhữ Thị Nghiêm, vợ ba ông Kế, là đào hát ở phố hàng Thao thành phố Nam Định, là người hát hay và có tài làm thơ Nôm. Anh cả là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng, làm đốc học, sau tham gia ban Tu thư, làm hiệu trưởng trường Quy thức là những tổ chức do Pháp lập ra để SVTH: Là Thị Thủy Hằng Tính chất quá độ trong thơ Tản Da GVHD; Ths. Phẹm Văn Như đối phó với phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Trường Quy thức là trường cải cách lối học cũ, vừa học Hán văn, vừa học quốc ngữ và các môn học mới( toán, dia,.) Lúc nhỏ Tản Đà theo Nho học, có mộng nối gót cha anh trên đường khoa hoạn. Ông anh cả Nguyễn Tái Tích đặt rất nhiều hi vọng vào người em út, vì cậu đã tỏ ra là một học sinh xuất sắc, có nhiều triển vọng. Nguyễn Khắc Hiếu đã theo cha rồi anh, sống nơi họ làm quan ở Nam Định, Sơn Tây, Vĩnh Yén,.Dén năm 19 tuổi Tản Đà mới theo Nguyễn Tái Tích về học trường Quy thức, phố Gia Ngư, Hà nội. Ông là người học trò đầu tiên của trường Quy thức.

Lớn lên Tản Đà có học chữ Pháp, đọc Tân thư. Nói Tân thư, Tân văn- sách mới, báo mới- là để phân biệt với sách cũ, sách các nhà Nho vẫn đọc xưa nay: kinh, truyện sử, tiểu thuyết,.Đó là loại sách cũng bằng chữ Hán, ra đời trong phong trào đòi cải cách ở Trung Quốc. Tân thư bao gồm những sách dịch tác phẩm của các nhà tư tưởng châu Au như Voltaire, Rousseau, Darwin,., sách giới thiệu lịch sử, địa lý, truyện danh nhân các nước Âu- Mỹ, giới thiệu phong trào duy tân ở Nhật Bản, sách truyền bá tri thức khoa học. Tân thư cũng bao gồm cả tác phẩm của các nhà cải cách ở Trung Quốc từ Ngụy Nguyên đến Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu,.Tỉnh thần chung của Tân thư là phê phán sự hủ bại của xã hội phong kiến Trung Quốc và chế độ chính trị thối nát của thời Mãn Thanh, ca tụng văn minh Au Mỹ, hô hào học theo Au Mỹ, vận động cai cách đất nước vé mọi mat kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.

Chính việc tiếp xúc với Tân thư đã làm thay đổi phần nào tư tưởng của ting lớp nho sĩ đầu thế kỉ, trong đó có Tản Đà.Thời đại: Tan Đà sinh ra và lớn lên trong hòan cảnh bi thương nhất của lịch sử dân tộc: - Về tình hình chính trị: Lúc này đất nước Việt Nam bước vào thời kì lịch sử mới, chuyển từ xã hội phong kiến Nho giáo sang chế độ thực dân phong kiến với sự chia cắt thành ba xứ: Bắc Kì- Trung Ki- Nam Kì theo các chính sách đô hộ SVTH: Là Thị Thúy Hằng k Tính chất quá độ trong thư Tản Đà GVHD: Ths. Phạm Văn Nhu khác nhau: thuộc địa- tự tri- bảo hộ nhưng về thực chất đều chịu sự thống trị của Pháp. Xã hội Việt Nam lúc này hết sức phức tạp. Giai cấp phong kiến vẫn giữ vai trò nhất định trong xã hội.

Tư sản thực dân và tư sản dân tộc cùng tham gia vào quá trình bóc lột giai cấp cần lao. Trong xã hội xuất hiện những tang lớp ban cùng mới như công nhân, dân nghèo thành thị, một bộ phận trí thức tiểu tư sản. Và sau khi phong trào Cần Vương thất bại, Pháp đã chấm dứt thời kì bình định Việt Nam bằng quân sự. Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta dau thế ki XX đã chuyển sang một giai đoạn mới, với phương hướng, nội dung, hình thức mới, mang tính dân tộc dân chủ rõ rệt.

Giặc Pháp điên cuồng khủng bố bằng mọi cách, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống. Nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt từ năm 1922 trở đi, cách mạng Việt Nam lại chuyển biến mạnh. Xu thế cách mạng ngày càng phát triển, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chuyển sang đường lối cách mạng vô sản. -Tinh hình kinh tế: Xã hội Việt Nam thay đổi theo chiểu hướng một xã hội thuộc địa, bắt đầu có dấu hiệu mở mang kinh tế, phát triển buôn bán, thông thương với nước ngoài, mở cửa với phương tây và thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập với đời sống thế giới.

Các thành thị mọc lên nhanh chóng, kinh tế thị trường có điểu kiện phát triển. -Tình hình văn hóa tư tưởng: Thực dân Pháp quyết tam kéo Việt Nam đi nhanh vào quỹ đạo của văn hóa thực dân bằng mọi cách. Chúng thực hiện chính sách văn hóa thâm độc. thi hành nhiêu biện pháp để tranh thủ tầng lớp trí thức phong kiến thấm nhudn Nho học như lấy quyển lợi vật chất ra mua chuộc họ, đưa họ ra làm quan,.

Ngoài ra, chúng còn thực hiện các biện pháp khác như cắt đứt quan hệ của nhân dân ta với văn hóa truyén thống Trung Quốc( bãi bỏ thi cử chữ Hán), giới thiệu phổ biến văn hóa phương tây- đặc biệt là văn hóa Pháp( qua trường học, báo chí, sách vở). Bên cạnh đó thực dân Pháp rất coi trọng những tên tay sai văn hóa như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Chúng thực hiện những tờ báo Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí để mê hoäc mọi người về chính trị. Đây là loại SVTH: Lê Thị Thúy Hằng H Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà GVHD: Ths.

Phạm Văn Nhu sách Âu Tây tư tưởng vừa tuyên truyền cho văn hóa Pháp, vừa dé xướng tư tưởng yêu nước duy tân giả hiệu, đánh lạc hướng quần chúng. Nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ tập hợp lại quanh các tờ báo ấy làm thơ, viết tuéng chèo, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch. Sự có mặt của hai tờ tạp chí ấy đã đáp ứng cho nhu cầu thị hiếu, sự tìm tòi, mở rộng kiến thức của thị din. Nó được viết bằng ba thứ tiếng: Quốc ngữ, Pháp, Hán.

Với chính sách của thực dân Pháp, văn hóa Việt Nam chuyển từ ảnh hưởng văn hóa Nho giáo sang ảnh hưởng văn hóa tư sản phương tây. Các tư tưởng triết học. tôn giáo truyền thống như Nho- Phật Đạo vẫn tiếp tục tổn tại trong những phạm vi nhất định và có những biến thái mới. Các tư tưởng triết hoc, tôn giáo ảnh hưởng phương tây bắt đầu xuát hiện và lớn mạnh.

-Vé giáo đục: Nền giáo dục cũ được thay thế bằng nền giáo dục mới. Việc học và thi bang chữ Hán chấm dứt vào năm 1919. Giáo dục thi cử theo quy chế phong kiến thay thế bằng giáo dục thi cử ảnh hưởng của Pháp. Nhà trường chuyển sang học chữ Pháp, chữ quốc ngữ.

Nội dung giáo dục thay đổi, chú trọng cả tới khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Nhìn chung, toàn bộ xã hội Việt Nam từ 1900 trở đi đã thay đổi rất căn bản, đưa dân tộc ta bước vào một thời đại mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ