Chương 1:CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA TẢN ĐÀ 1.Quê hương: Tản Đà (1889- 1939) sinh ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây- nay là thôn Khê Thượng, xã sơn Đà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Sở dĩ có tên là Khê Thượng là vì từ xưa làng có một con ngòi lớn chạy ngang qua, đưa nước từ Dam Long chảy ra sông Đà. Phía trên ngòi là xóm Khê Thượng- tức xóm ngoài, phía dưới là xóm Khê Hạ- tức xóm trong, cả hai xóm đều thuộc làng Khê Thượng. Khê Thượng là làng quê nằm sát ngay trên hữu ngạn sông Đà.
Đây là vùng cảnh trí hữu tình, một bên là đòng sông Đà với ghénh Bg và những gò đổi của vùng Thanh Thủy, một bên là cánh đồng bát ngát chạy đến chân núi Ba Vì. Khê Thượng nổi tiếng là có vải ngon, vải tiến. Ngày trước, dọc hai bên bờ đê, ngòi, những rặng vải mọc xanh um, đến mùa tháng ba quả chín đỏ rực, tu hú gọi nhau về. Khê Thượng thường được cả vùng gọi là “làng Khê văn vật” vì có nhiều người đi học và đỗ đạt hơn các làng khác, người làng gọi họ là “họ nhà quan”.
Dòng họ Nguyễn của Tản Đà mà ông tổ là Nguyễn Huy Túc đỗ hương cống vào thời Chiêu Thống, làm tới binh bộ thị lang. Họ này còn có một văn thân theo Ngô Quang Bích chống Pháp được phong tấn tương quân vụ mà Nguyễn Công Bích vẫn gọi là Nguyễn Công Khê Thượng. Họ Nguyễn ở Khê Thượng còn có đầu xứ Nguyễn Hổ Trừu- anh họ của Tản Đà, mà dân làng vẫn cho là “người cuồng chữ” nổi tiếng về vũn thơ trào phúng. Khê Thượng cũng như rất nhiều xã ở vùng Ba Vì, thờ Tản Viên sơn thúnh làm thành hoàng.
Hàng năm từ đêm 30 tết đến mồng 5 tết, ở đây tổ chức lễ Thánh tan. tái hiện lại hoạt cảnh Sơn Tinh Thủy Tinh ngày xưa. SVIH: Lê Thị Thúy Hằng § Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà : GVHD: Ths, Phạm Văn Nhu Ngoài ra Khê Thượng còn là một mảnh đất của tỉnh Đoài, vùng đất xa xưa thuộc Phong Châu, với kho truyền thuyết và dã sử, với nhiều danh lam thấng cảnh và di tích lịch sử. Những truyền thuyết về Sơn Tinh- Thủy Tinh, về Hai Bà Trưng,.
được truyền tụng nhiều. Những ngày lễ hội ở chùa Thầy, dén Và, đến Thượng, dén Hạ, chùa Mía, đình Tây Đằng. đem lại cho vùng đất hữu tình này một vẻ thiêng liêng đầm ấm. Xứ Đoài còn là một kho tàng giàu có ca dao, tục ngữ về các ngành nghề, các đặc sản địa phương, các chợ, các phong tục và nhất là về tình yêu, vé nhân tình thế thái.
Trong tác phẩm của Tản Đà có khá nhiều phong dao hay, phải chăng cũng bắt nguồn từ di sản của mảnh đất này? Chính Khê Thượng nói riêng và xứ Đoài nói chung đã tác động nhiều đến con người Tản Đà. Làng Khê Thượng vốn gắn bó với cuộc đời Tản Đà. Đó không những là cái nôi nuôi Tản Đà từ tấm bé đến thời niên thiếu mà còn là nơi mà, nhiều năm sau và suốt cả cuộc đời ông, Tản Đà vẫn thường đi về, vào những ngày tết và nghỉ chân sau những chuyến đi mệt mỏi, lúc thất bai trên đường đời. Khê Thượng là mạch ngầm khơi gợi bao cảm xúc và suy ngẫm trong thơ văn của Tản Đà.
Trong thơ ông, ta thường bắt gặp bóng dáng núi Tản và sông Đà: “Nước đợn sông Đà con cá nhảy Mây tràm non Tản cái điều bay” (Quê nhà chơi mát cdm tác) Hình ảnh núi Tản sông Đà như máu thịt đối với ông: “Mach nước sông Đà tim róc rách Ngàn mây non Tản mắt la mo” (Ngày xuân thơ rượu) 1.Gia đình: Tản Đà xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, khoa hoan lâu đời. Cha là cử nhân Nguyễn Danh Kế, án sát tỉnh Ninh Bình rồi làm ngự sử; mẹ là Nhữ Thị Nghiêm, vợ ba ông Kế, là đào hát ở phố hàng Thao thành phố Nam Định, là người hát hay và có tài làm thơ Nôm. Anh cả là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng, làm đốc học, sau tham gia ban Tu thư, làm hiệu trưởng trường Quy thức là những tổ chức do Pháp lập ra để SVTH: Là Thị Thủy Hằng Tính chất quá độ trong thơ Tản Da GVHD; Ths. Phẹm Văn Như đối phó với phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
Trường Quy thức là trường cải cách lối học cũ, vừa học Hán văn, vừa học quốc ngữ và các môn học mới( toán, dia,.) Lúc nhỏ Tản Đà theo Nho học, có mộng nối gót cha anh trên đường khoa hoạn. Ông anh cả Nguyễn Tái Tích đặt rất nhiều hi vọng vào người em út, vì cậu đã tỏ ra là một học sinh xuất sắc, có nhiều triển vọng. Nguyễn Khắc Hiếu đã theo cha rồi anh, sống nơi họ làm quan ở Nam Định, Sơn Tây, Vĩnh Yén,.Dén năm 19 tuổi Tản Đà mới theo Nguyễn Tái Tích về học trường Quy thức, phố Gia Ngư, Hà nội. Ông là người học trò đầu tiên của trường Quy thức.
Lớn lên Tản Đà có học chữ Pháp, đọc Tân thư. Nói Tân thư, Tân văn- sách mới, báo mới- là để phân biệt với sách cũ, sách các nhà Nho vẫn đọc xưa nay: kinh, truyện sử, tiểu thuyết,.Đó là loại sách cũng bằng chữ Hán, ra đời trong phong trào đòi cải cách ở Trung Quốc. Tân thư bao gồm những sách dịch tác phẩm của các nhà tư tưởng châu Au như Voltaire, Rousseau, Darwin,., sách giới thiệu lịch sử, địa lý, truyện danh nhân các nước Âu- Mỹ, giới thiệu phong trào duy tân ở Nhật Bản, sách truyền bá tri thức khoa học. Tân thư cũng bao gồm cả tác phẩm của các nhà cải cách ở Trung Quốc từ Ngụy Nguyên đến Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu,.Tỉnh thần chung của Tân thư là phê phán sự hủ bại của xã hội phong kiến Trung Quốc và chế độ chính trị thối nát của thời Mãn Thanh, ca tụng văn minh Au Mỹ, hô hào học theo Au Mỹ, vận động cai cách đất nước vé mọi mat kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.
Chính việc tiếp xúc với Tân thư đã làm thay đổi phần nào tư tưởng của ting lớp nho sĩ đầu thế kỉ, trong đó có Tản Đà.Thời đại: Tan Đà sinh ra và lớn lên trong hòan cảnh bi thương nhất của lịch sử dân tộc: - Về tình hình chính trị: Lúc này đất nước Việt Nam bước vào thời kì lịch sử mới, chuyển từ xã hội phong kiến Nho giáo sang chế độ thực dân phong kiến với sự chia cắt thành ba xứ: Bắc Kì- Trung Ki- Nam Kì theo các chính sách đô hộ SVTH: Là Thị Thúy Hằng k Tính chất quá độ trong thư Tản Đà GVHD: Ths. Phạm Văn Nhu khác nhau: thuộc địa- tự tri- bảo hộ nhưng về thực chất đều chịu sự thống trị của Pháp. Xã hội Việt Nam lúc này hết sức phức tạp. Giai cấp phong kiến vẫn giữ vai trò nhất định trong xã hội.
Tư sản thực dân và tư sản dân tộc cùng tham gia vào quá trình bóc lột giai cấp cần lao. Trong xã hội xuất hiện những tang lớp ban cùng mới như công nhân, dân nghèo thành thị, một bộ phận trí thức tiểu tư sản. Và sau khi phong trào Cần Vương thất bại, Pháp đã chấm dứt thời kì bình định Việt Nam bằng quân sự. Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta dau thế ki XX đã chuyển sang một giai đoạn mới, với phương hướng, nội dung, hình thức mới, mang tính dân tộc dân chủ rõ rệt.
Giặc Pháp điên cuồng khủng bố bằng mọi cách, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống. Nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt từ năm 1922 trở đi, cách mạng Việt Nam lại chuyển biến mạnh. Xu thế cách mạng ngày càng phát triển, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chuyển sang đường lối cách mạng vô sản. -Tinh hình kinh tế: Xã hội Việt Nam thay đổi theo chiểu hướng một xã hội thuộc địa, bắt đầu có dấu hiệu mở mang kinh tế, phát triển buôn bán, thông thương với nước ngoài, mở cửa với phương tây và thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập với đời sống thế giới.
Các thành thị mọc lên nhanh chóng, kinh tế thị trường có điểu kiện phát triển. -Tình hình văn hóa tư tưởng: Thực dân Pháp quyết tam kéo Việt Nam đi nhanh vào quỹ đạo của văn hóa thực dân bằng mọi cách. Chúng thực hiện chính sách văn hóa thâm độc. thi hành nhiêu biện pháp để tranh thủ tầng lớp trí thức phong kiến thấm nhudn Nho học như lấy quyển lợi vật chất ra mua chuộc họ, đưa họ ra làm quan,.
Ngoài ra, chúng còn thực hiện các biện pháp khác như cắt đứt quan hệ của nhân dân ta với văn hóa truyén thống Trung Quốc( bãi bỏ thi cử chữ Hán), giới thiệu phổ biến văn hóa phương tây- đặc biệt là văn hóa Pháp( qua trường học, báo chí, sách vở). Bên cạnh đó thực dân Pháp rất coi trọng những tên tay sai văn hóa như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Chúng thực hiện những tờ báo Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí để mê hoäc mọi người về chính trị. Đây là loại SVTH: Lê Thị Thúy Hằng H Tính chất quá độ trong thơ Tản Đà GVHD: Ths.
Phạm Văn Nhu sách Âu Tây tư tưởng vừa tuyên truyền cho văn hóa Pháp, vừa dé xướng tư tưởng yêu nước duy tân giả hiệu, đánh lạc hướng quần chúng. Nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ tập hợp lại quanh các tờ báo ấy làm thơ, viết tuéng chèo, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch. Sự có mặt của hai tờ tạp chí ấy đã đáp ứng cho nhu cầu thị hiếu, sự tìm tòi, mở rộng kiến thức của thị din. Nó được viết bằng ba thứ tiếng: Quốc ngữ, Pháp, Hán.
Với chính sách của thực dân Pháp, văn hóa Việt Nam chuyển từ ảnh hưởng văn hóa Nho giáo sang ảnh hưởng văn hóa tư sản phương tây. Các tư tưởng triết học. tôn giáo truyền thống như Nho- Phật Đạo vẫn tiếp tục tổn tại trong những phạm vi nhất định và có những biến thái mới. Các tư tưởng triết hoc, tôn giáo ảnh hưởng phương tây bắt đầu xuát hiện và lớn mạnh.
-Vé giáo đục: Nền giáo dục cũ được thay thế bằng nền giáo dục mới. Việc học và thi bang chữ Hán chấm dứt vào năm 1919. Giáo dục thi cử theo quy chế phong kiến thay thế bằng giáo dục thi cử ảnh hưởng của Pháp. Nhà trường chuyển sang học chữ Pháp, chữ quốc ngữ.
Nội dung giáo dục thay đổi, chú trọng cả tới khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Nhìn chung, toàn bộ xã hội Việt Nam từ 1900 trở đi đã thay đổi rất căn bản, đưa dân tộc ta bước vào một thời đại mới.