Đặt vấn đề: Đưa ra những luận điểm nhằm nêu bật ý nghĩa và sự cần thiết của đề tài. Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của đề tài. Giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung nghiên cứu, không gian và thời gian nghiên cứu. Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn.
Tổng quan: Chương này giới thiệu tổng quan về tình hình thị trường rau và RAT ở TP.HCM hiện nay, chính sách của chính quyền thành phố về rau an toàn, vấn đề kiểm soát trong lưu thông cũng như những nghiên cứu có liên quan. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý luận nhằm trình bày những khái niệm, thuật ngữ, những nội dung có tính lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu nhằm trình bày các phương pháp khoa học được sử dụng để nghiên cứu và cách thức tiến hành các phương pháp đó như: phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp xử lý số liệu, các phương pháp phân tích… Chương 4. Kết quả nghiên cứu: Trình bày nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn về vấn đề nghiên cứu.
Nội dung của chương này nói lên các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện luận văn và phân tích các kết quả đạt được đó thông qua những hiểu biết khi thâm nhập thực tế và việc phân tích các số liệu đã thu thập, tính toán phân tích tổng hợp, đánh giá nhận định các vấn đề nghiên cứu. Đề xuất giải pháp cần thiết để phát triển thị trường RAT tại TP. Kết luận và kiến nghị: Kết luận về vấn đề nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị đối với người sản xuất, người tiêu dùng và nhà phân phối. Ở chương này cũng nêu ra những hạn chế của luận văn.
3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Đặc trưng của TP. HCM Hồ Chí Minh là thành phố lớn với dân số gần 7 triệu người, và có hàng triệu sinh viên, du khách, tổ chức quốc tế. Nhu cầu về lương thực, rau quả và những hàng hóa khác là rất lớn.
Bởi vì đây là thành phố trung tâm, nên trong trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra thì hậu quả là rất lớn. Là một thành phố công nghiệp và dịch vụ, TP.HCM không thể đáp ứng được nhu cầu của người dân về thực phẩm vì nhiều lý do. Lý do đầu tiên là tốc độ đô thị hóa nhanh, những khu vực canh tác giảm diện tích từng ngày. Lý do thứ hai, lao động trong ngành nông nghiệp giảm vì thu nhập trong ngành nông nghiệp thấp hơn so với những ngành dịch vụ khác.
Hiện nay, nhu cầu rau xanh của thành phố rất lớn khoảng 1.600 tấn/ngày rau quả các loại. Khả năng sản xuất rau tại chỗ của thành phố chỉ chiếm khoảng 30% nhu cầu, phần còn lại phải nhập từ các tỉnh lân cận như Đà Lạt, Đồng Nai, Tiền Giang, Long An…Do đó việc kiểm tra chất lượng là rất khó thực hiện. Với mức thu nhập cao nhất so với các thành phố và các tỉnh khác, người tiêu dùng ở TP.HCM đòi hỏi hàng hóa với chất lượng cao và an toàn cho sức khỏe của họ. Với những đặc trưng trên, TP.HCM phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, trong đó là vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau an toàn.
Giới thiệu tổng quan về tình hình thị trường rau và rau an toàn hiện nay ở TP.HCM Theo báo cáo công tác thực hiện chương trình RAT trên địa bàn TP.HCM của Sở NN & PTNN TP.HCM năm 2007 thì hiện nay diện tích gieo trồng rau hàng năm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trên 8.000 ha với sản lượng khoảng 180.000 tấn/ năm tập trung ở các huyện ngoại thành như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, quận 12. 4 Nhu cầu rau xanh của thành phố rất lớn khoảng 1.600 tấn/ngày rau quả các loại. Khả năng sản xuất rau tại chỗ của thành phố chỉ chiếm khoảng 30% nhu cầu, phần còn lại phải nhập từ các tỉnh lân cận như Đà Lạt, Tiền Giang, Long An… Theo thống kê của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TP.HCM, nhu cầu tiêu thụ rau xanh của người dân thành phố ước khoảng 200 - 250 tấn mỗi ngày. Toàn thành phố mới chỉ có 6 hợp tác xã và 14 tổ hợp tác sản xuất rau an toàn với sản lượng khoảng 3,5 - 4,5 tấn/ngày.
Do vậy, những nơi chuyên kinh doanh rau an toàn đã phải tìm nguồn từ Đà Lạt, Tây Ninh, Long An. Ngay cả khi cộng thêm nguồn từ nơi khác, tổng lượng rau an toàn cung cấp cho thành phố vẫn chỉ khoảng 10% nhu cầu. 90% người tiêu dùng còn lại vẫn đang phải ăn các loại rau “chưa sạch”. (Báo cáo Sở NN và PTNT TP.
Biểu Đồ Phát Triển Diện Tích Gieo Trồng Rau Qua Các Năm 10,000 9,561 9,500 9,340 9,423 9,170 8,931 9,000 Diện tích 8,564 (ha) 8,500 8,000 2000 2002 2004 2005 2006 2007 Nguồn tin: Sở NN & PTNNT TP. Biểu Đồ Sản Lượng Thu Hoạch các Nhóm Rau Năm 2007 Đơn vị tính: tấn Bông cải, 4,587 Rau củ quả NN, Rau ăn lá, 65,054 64,918 Rau củ quả DN, Rau muống 21,775 nước, 74,963 Nguồn tin: Sở NN & PTNNT TP.HCM, 2007b Rau, hoa quả rất dễ bị nhiễm các độc chất về thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, nitrate và vi sinh vật. Theo tài liệu của Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm (Bộ Y tế), từ năm 2000 đến nay, bình quân mỗi năm cả nước xảy ra hơn 200 vụ ngộ độc thực phẩm, để lại hậu quả nặng nề cho gần 4.600 nạn nhân, trong đó có 54 người tử vong. Bên cạnh nguyên nhân do độc tố và vi sinh vật, 16% nguyên nhân là do thực phẩm bị nhiễm hoá chất, kể cả hóa chất bảo vệ thực vật mà rau xanh có nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm cao hơn cả.
Để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng trước tình hình trên, từ năm 1996 thành phố đã có chủ trương sản xuất rau an toàn. Tổng diện tích canh tác rau an toàn trên địa bàn thành phố hiện nay là 3.186,97 ha thuộc 97 xã, phường, trong đó diện tích sản xuất rau cũ là 2.781,36 ha, diện tích chuyển đổi từ cây trồng khác sang rau là 405,61 ha. Trong đó, tổng diện tích đã được Sở Nông nghiệp và PTNT thẩm định vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn năm 2007 là 95,5 ha nâng tổng diện tích đủ điều kiện sản xuất rau an toàn đến nay là 2.712 ha diện tích đã được chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn. Sở Nông nghiệp và PTNT ra quyết định công nhận vùng đủ điều kiện từ năm 2002-2007: 2.031,35 ha, tập trung tại các huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn và huyện Bình Chánh.
Tổng diện tích không đủ điều kiện sản xuất RAT: 179,6 ha chủ yếu tại các phường Thạnh Xuân, Phường Tân Hiệp, phường Tân Chánh Hiệp (quận 12), 6 phường Tam Phú, phường Bình Chiểu, phường Linh Đông (quận Thủ Đức)…. Tổng diện tích chưa kiểm tra điều kiện sản xuất RAT: 541,17 ha. Biểu Đồ Diện Tích Canh Tác Được Kiểm Tra Công Nhận Điều Kiện Sản Xuất Đơn vị tính: Hecta DT không đủ Đkiện SX RAT, DT chưa kiểm 179.17 DT đủ đkiện SX RAT, 2030.84 Nguồn tin: Sở NN & PTNNT TP.HCM, 2007c Diện tích gieo trồng rau năm 2007 là 8.513 ha, đạt 70,9 % so với kế hoạch. trong đó diện tích gieo trồng rau an toàn là 8.
Năng suất rau trung bình đạt 22 tấn/ha, sản lượng rau đạt 187,386 tấn. Thành phố có 526 nhà lưới với diện tích là 85,8 ha tập trung ở xã Tân Phú Trung huyện Củ Chi, xã Xuân Thới Thượng, Tân Thới Nhì,…huyện Hóc Môn đã cho hiệu quả sản xuất cao, sản phẩm an toàn. Hiện nay Chi cục Bảo vệ thực vật đang tổ chức tập huấn cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn cho nông dân đang sản xuất rau muống nước tại các phường Long Thạnh Mỹ, Tam Phú, Bình Chiểu và tái thẩm định nguồn nước theo đề nghị của phường Thạnh Xuân trong thời gian tới.(Báo cáo Sở NN và PTNT TP. Bảng Thống Kê về Rau ở TP.HCM Từ Năm 2002-2007 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng DT canh tác 2114.6 2025 lượng rau DT gieo trồng 10006 9626 9242 9200 9235 8513 ( Bao gồm Sản lượng 194471 184269 181200 177360 176146 187386 rau thường và Năng suất 19.1 22 rau AT) DT canh tác 592.84 DT gieo trồng 505 1636 4390 8382 8773 8173 Rau AT Sản lượng 9161 29693 83410 183565 166615 172624.12 Tỷ lệ % 28% 41% 34% 87% 85% 96% Nguồn tin: Sở NN & PTNNT TP.HCM, 2007d Ghi chú: Tỷ lệ % bằng tỷ lệ giữa diện tích canh tác rau AT trên tổng diện tích canh tác rau thường và rau AT Từ bảng trên cho thấy tỷ lệ % giữa diện tích canh tác RAT và diện tích canh tác rau là 96%.
Có nghĩa là hầu hết nông dân ở TP.HCM sản xuất RAT. Năng suất RAT đạt được là ngang bằng với năng suất trung bình của rau trên địa bàn thành phố. Hiện nay trên địa bàn thành phố đã thành lập được 7 hợp tác xã sản xuất rau an toàn, tập trung chủ yếu ở các huyện Củ Chi: 4 hợp tác xã, Bình Chánh: 2 hợp tác xã và Hóc Môn: 1 hợp tác xã. Các hợp tác xã sản xuất rau an toàn hiện đang thực hiện các hợp đồng cung cấp sản phẩm cho các siêu thị, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố như Siêu thị Metro, Coopmart, Xí nghiệp xuất khẩu rau quả Vissan và các xí nghiệp, trường học, nhà trẻ…Riêng hợp tác xã Nhuận Đức chưa đăng ký thuế và làm con dấu, hiện tại hợp tác xã vẫn hoạt động trên cơ sở các đầu mối giao dịch cũ thông qua thương lái cung cấp cho chợ đầu mối Tân Xuân và chợ Bàu Môn.
Chính sách của TP.HCM về RAT Theo quyết định số QD 98.UBND (Chuong trinh RAT) của UBND TP.HCM về Chương trình mục tiêu, phát triển rau an toàn trên địa bàn thành phố giai đoạn 2006-2010: Để hạn chế đến mức thấp nhất việc gây ra các hiện tượng ngộ độc cấp tính đối với rau lưu thông trên địa bàn thành phố và sản xuất rau an toàn với năng suất cao theo hướng 3 giảm (giống, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật), công nghệ quản lý GIS, tiêu chuẩn GAP và công nghệ truy nguyên nguồn gốc xuất xứ hàng hóa bằng mã vạch, phục vụ xuất khẩu từ năm 2008 góp phần tác động đến sản xuất rau tại thành phố đủ đáp ứng cho 60 - 70% nhu cầu sản lượng rau tiêu thụ của năm 2010. Tổ chức khảo sát, đánh giá và công nhận vùng rau an toàn chuyển đổi khoảng 3.500 ha đất trồng lúa để nâng tổng diện tích canh tác là 5.700 ha, tương ứng diện tích gieo trồng khoảng 20.