Giới thiệu dự án
Giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong lịch sử kinh tế Việt Nam với sự bùng nổ của mạng lưới kinh tế hàng hóa và ngoại thương tại Đàng Trong dưới sự quản lý của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Đặt trong bối cảnh cuộc đại thương mại toàn cầu (Age of Commerce) — với dòng chảy bạc Potosí (Peru) từ năm 1545, sự thành lập của các đại công ty Đông Ấn như Công ty Đông Ấn Anh (EIC - 1600) và Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC - 1602), cùng hệ thống cấp phép Châu Ấn thuyền (Shuinsen - 1592-1635) của Mạc phủ Tokugawa — vùng duyên hải Thuận Quảng và châu thổ Nam Bộ đã vươn lên thành trạm trung chuyển mậu dịch quốc tế trọng điểm trên hải trình Đông - Tây qua Biển Đông.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hiện nay thường tiếp cận các đô thị thương cảng theo hướng phân mảnh địa lý hoặc thuần túy mô tả lịch sử văn hóa, thiếu đi một hệ thống dữ liệu kinh tế lượng và mô hình phân tích không gian - thời gian tổng hợp để đánh giá toàn diện chuỗi vận hành thương mại của hệ thống cảng thị từ Thuận Quảng đến Nam Bộ.
BỐI CẢNH NGOẠI THƯƠNG ĐÀNG TRONG (XVII - XIX)
[Châu Á & Tây Dương] [Chính sách Chúa Nguyễn] [Nguồn lực Đàng Trong]
- Châu Ấn thuyền (Shuinsen) - Khuyến thương mở cửa - Nông / Lâm sản (Hồ tiêu, Trầm hương)
- Công ty VOC, EIC, Macau - Ưu đãi cư trú & ngụ cư - Hải sản & Bát trân (Yến sào, Hải sâm)
- Dòng bạc quốc tế & khoáng sản - Thiết lập trạm tuần ty, thuế quan - Thủ công nghiệp (Đường mía, Tơ lụa)
Đồ án khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu một số cảng thị vùng Thuận Quảng và Nam Bộ trong các thế kỷ XVII - XIX" giải quyết bài toán cốt lõi: Phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế lượng, giải mã cơ chế hình thành, hưng thịnh, chuyển dịch và suy tàn của chuỗi thương cảng Đàng Trong thông qua việc chuẩn hóa và đối chiếu liên ngành các nguồn sử liệu địa chí và biên niên quốc nội kết hợp tư liệu khảo chứng phương Tây.
Mục tiêu dự án
- Chuẩn hóa hệ thống khái niệm và tiêu chí phân định cảng thị: Phân định rõ cấu trúc bản chất giữa Cảng (Hải cảng, Giang cảng, Quân cảng), Thị (Chợ, Bến chợ, Phố) và Thị tứ trong hệ sinh thái kinh tế phong kiến Đàng Trong.
- Khảo cứu và định lượng hóa luồng hàng hóa: Trích xuất, phân loại và lập chỉ mục giá cả, thuế khóa của hơn 30 nhóm hàng xuất nhập khẩu tiêu biểu (tơ sống, lụa hoa, đường cát, đường phèn, kỳ nam, yến sào, đồng, kẽm, vũ khí).
- Phân tích cơ chế thể chế và quan hệ ngoại giao thương mại: Đánh giá các quyết sách của chính quyền chúa Nguyễn đối với thương nhân nước ngoài (Hoa thương, Nhật thương, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp) qua hệ thống cấp phép, mở thương điểm, hôn nhân chính trị và điều tiết tiền tệ.
- Mô hình hóa sự chuyển dịch không gian kinh tế: Xác định quy luật chuyển dịch mạng lưới thương cảng trung gian sang các cảng nước sâu hiện đại (Hội An chuyển dịch sang Đà Nẵng; Cù Lao Phố chuyển dịch về Sài Gòn - Bến Nghé; Nước Mặn chuyển giao vai trò cho Vạn Gò Bồi và Quy Nhơn).
Phạm vi và giới hạn
- Không gian nghiên cứu: Dải bờ biển và đồng bằng ven sông kéo dài từ dinh Quảng Nam, phủ Quy Nhơn (Thuận Quảng) đến phủ Gia Định, Biên Hòa, vịnh Xiêm La (Nam Bộ). Trọng tâm khảo sát đặt tại 5 trung tâm: Hội An, Nước Mặn, Đà Nẵng, Cù Lao Phố và Sài Gòn.
- Thời gian nghiên cứu: Thế kỷ XVII (thời điểm thiết lập cơ chế kiểm soát ngoại thương của chúa Nguyễn) đến cuối thế kỷ XIX (giai đoạn chuyển giao quyền quản lý thương cảng sang chính quyền thuộc địa Pháp theo Hiệp ước Giáp Thân 1884).
Phân tích và thiết kế giải pháp
Phân tích hiện trạng
Nghiên cứu kinh tế lịch sử Đàng Trong giai đoạn XVII - XIX sở hữu nguồn sử liệu phong phú nhưng tồn tại nhiều điểm nghẽn về tính đồng bộ và phương pháp xử lý dữ liệu.
| Hướng tiếp cận / Tác phẩm |
Ưu điểm |
Hạn chế |
Khoảng trống nghiên cứu |
| Sử liệu cổ phương Đông (Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục) |
Độ chuẩn xác cao về niên biểu, chỉ dụ, tên làng xã, sắc thuế và sản vật địa phương. |
Ghi chép định tính, tản mạn, đơn vị đo lường cổ (hốt, tạ, quan, tiền) không đồng nhất. |
Thiếu phân tích tương quan thị trường và cơ chế vận hành dòng vốn quốc tế. |
| Ghi chép du khảo phương Tây (Christoforo Borri (1621), Alexandre de Rhodes, Pierre Poivre (1744)) |
Quan sát sinh động, cung cấp số liệu thực nghiệm về tàu bè, giá chợ đen, thói quen tiêu dùng. |
Nhận thức mang tính chủ quan, góc nhìn cá nhân, thiếu tính hệ thống toàn cục. |
Chưa được đối chiếu chéo (cross-reference) với hệ thống công văn của triều đình. |
| Nghiên cứu hiện đại (Phan Khoang (2000), Li Tana (1999), Đỗ Bang (2002)) |
Khung lý thuyết hiện đại, mở rộng bối cảnh khu vực Đông Nam Á. |
Tập trung nghiên cứu đơn điểm (từng đô thị riêng biệt), ít so sánh chuỗi liên kết vùng. |
Thiếu mô hình cơ sở dữ liệu hóa để truy vấn mối liên kết chuỗi cung ứng hàng hải. |
Yêu cầu nghiên cứu theo mô hình MoSCoW
- Must have (Bắt buộc): Lập bảng phân loại xuất nhập khẩu; đối chiếu số lượng Châu Ấn thuyền (356 giấy phép toàn khu vực, 71 thuyền cập bến Hội An); chuẩn hóa biểu thuế và đơn vị chuyển đổi giá cả thế kỷ XVIII.
- Should have (Nên có): Xây dựng biểu đồ chu kỳ mùa mậu dịch theo chế độ gió mùa; lập sơ đồ quan hệ đối tác thương nhân ngoại quốc.
- Could have (Có thể có): Mô hình hóa cấu trúc cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS) phục vụ số hóa các ghi chép mậu dịch cổ.
- Won't have (Không ưu tiên): Đào sâu chi tiết kỹ thuật quân sự hoặc xung đột chiến sự Trịnh - Nguyễn ngoài phạm vi kinh tế thương mại cảng thị.
Thiết kế hệ thống thông tin nghiên cứu
Hệ thống phân tích dữ liệu lịch sử được cấu trúc theo mô hình đa tầng:
Thiết kế lược đồ cơ sở dữ liệu mậu dịch (Database Schema)
CREATE TABLE historical_ports (
port_id VARCHAR(20) PRIMARY KEY,
port_name VARCHAR(100) NOT NULL,
region VARCHAR(50) CHECK (region IN ('Thuận Quảng', 'Nam Bộ')),
port_type VARCHAR(50) NOT NULL, -- Giang cảng / Hải cảng
active_century VARCHAR(50) NOT NULL,
latitude DECIMAL(9, 6),
longitude DECIMAL(9, 6)
);
CREATE TABLE commodity_trade_records (
record_id SERIAL PRIMARY KEY,
port_id VARCHAR(20) REFERENCES historical_ports(port_id),
commodity_name VARCHAR(100) NOT NULL,
category VARCHAR(50), -- Nông sản, Lâm sản, Khoáng sản, Thủ công nghiệp, Xa xỉ phẩm
trade_type VARCHAR(10) CHECK (trade_type IN ('EXPORT', 'IMPORT')),
standard_price_quan DECIMAL(10, 2), -- Giá chuẩn tính bằng Quan tiền
unit_measurement VARCHAR(50), -- Tạ, Cân, Tấm, Hốt
primary_source VARCHAR(150), -- Phủ biên tạp lục, Hải ngoại ký sự...
recorded_year INT
);
Phương pháp luận (Methodology)
Nghiên cứu áp dụng quy trình kiểm định 4 giai đoạn kết hợp liên ngành:
- Phương pháp lịch sử & logic: Tái hiện tiến trình vận động khách quan của các cảng thị theo trục thời gian, đảm bảo tính liên tục của dữ liệu.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Khảo sát từng cảng thị như một nút mạng (node) trong hệ sinh thái kinh tế - chính trị khép kín của xứ Đàng Trong.
- Phương pháp kinh tế lượng & thống kê lịch sử: Định lượng hóa danh mục giá cả, xác định tỷ giá tương quan giữa tiền đồng bản xứ, tiền kẽm Thiên Minh, tiền Khang Hy và bạc nén ngoại nhập.
- Phương pháp liên ngành: Khảo cổ học đô thị kết hợp phân tích địa kinh tế và địa lý tự nhiên ven biển.
Implementation và kết quả
Quy trình xử lý và mô hình hóa dữ liệu
Quy trình thu thập và xử lý tài liệu lịch sử được thực hiện qua các giai đoạn nghiêm ngặt:
(Sino-Nôm / Du ký) (Entity Extraction) (Data Normalization) (Economic Modeling)
Thuật toán mô phỏng chu kỳ gió mùa Đông Bắc - Tây Nam tương ứng với mùa hội chợ mậu dịch quốc tế được mô hình hóa bằng mã nguồn Python:
"""
Maritime Trade Season & Price Normalization Pipeline (Đàng Trong XVII-XVIII)
Compatible with Python 3.11+ | Pandas 2.2.0 | SQLite 3.45
"""
import pandas as pd
from typing import Dict, List
# Định nghĩa hệ số chuẩn hóa đo lường cổ xứ Quảng Nam
MEASUREMENT_STANDARDS: Dict[str, float] = {
"ta_to_kg": 60.45, # 1 Tạ = 100 Cân ~ 60.45 kg
"can_to_kg": 0.6045, # 1 Cân ~ 604.5 g
"hot_gold_to_luong": 10.0, # 1 Hốt vàng = 10 Lượng (Thỏi)
}
# Dữ liệu xuất cảng Hội An trích lục từ 'Phủ biên tạp lục' (Lê Quý Đôn)
RAW_TRADE_DATA: List[Dict] = [
{"item": "Cau", "category": "Nông sản", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 3.0},
{"item": "Hồ tiêu", "category": "Nông sản", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 12.0},
{"item": "Đậu khấu", "category": "Nông sản", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 5.0},
{"item": "Tô mộc", "category": "Lâm sản", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 6.0},
{"item": "Tê giác (Sừng)", "category": "Đặc sản quý", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 500.0},
{"item": "Yến sào", "category": "Hải sản / Bát trân", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 50.0},
{"item": "Đồi mồi", "category": "Hải sản", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 180.0},
{"item": "Đường phèn", "category": "Thủ công nghiệp", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 4.0},
{"item": "Đường trắng", "category": "Thủ công nghiệp", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 2.0},
{"item": "Kỳ nam hương", "category": "Lâm sản", "unit": "tạ", "raw_price_quan": 120.0},
{"item": "Tơ lụa", "category": "Thủ công nghiệp", "unit": "tấm", "raw_price_quan": 5.5},
]
def analyze_trade_metrics(data: List[Dict]) -> pd.DataFrame:
df = pd.DataFrame(data)
# Tính toán chỉ số giá trị tương đối dựa trên đường trắng (sản phẩm cơ sở)
base_price = df.loc[df['item'] == 'Đường trắng', 'raw_price_quan'].values[0]
df['relative_value_index'] = df['raw_price_quan'] / base_price
# Chuẩn hóa đơn vị kg cho các mặt hàng tính theo tạ
df['price_per_kg_quan'] = df.apply(
lambda row: row['raw_price_quan'] / MEASUREMENT_STANDARDS['ta_to_kg']
if row['unit'] == 'tạ' else None, axis=1
)
return df
if __name__ == "__main__":
trade_df = analyze_trade_metrics(RAW_TRADE_DATA)
print("--- PHÂN TÍCH CHỈ SỐ KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG HỘI AN (THẾ KỶ XVIII) ---")
print(trade_df[['item', 'category', 'raw_price_quan', 'relative_value_index', 'price_per_kg_quan']])
Kết quả định lượng và kiểm chứng lịch sử
Quá trình phân tích dữ liệu lịch sử đã xác lập các kết quả định lượng cụ thể:
CƠ CẤU TRAO ĐỔI HÀNG HÓA TẠI HỘI AN
[XUẤT KHẨU CHỦ LỰC] [NHẬP KHẨU TRỌNG YẾU]
- Quy mô tàu thuyền Châu Ấn: Từ năm 1604 đến năm 1635, trong tổng số 356 giấy phép xuất dương của Mạc phủ Tokugawa cấp cho thương nhân Nhật Bản, có 84 chuyến tàu hướng về Đàng Trong, trong đó riêng Hội An chiếm 71 chuyến (tỷ lệ áp đảo 84.5% toàn khu vực Đông Nam Á).
- Khối lượng xuất khẩu đường mía: Theo tư liệu của Pierre Poivre (1744), mỗi mùa hội chợ cảng thị Hội An xuất khẩu từ 20 đến 60 tấn đường các loại, cần tới hơn 80 thuyền buôn cỡ lớn để vận chuyển hết số lượng hàng tồn tích lũy dọc sông Thu Bồn và Vu Gia.
- Biểu thuế và doanh thu khai thác yến sào: Dưới thời chúa Nguyễn, đội ngũ khai thác yến tại xã Thanh Châu (Cù Lao Chàm, Hòn Nội, Hòn Ngoại) nộp thuế đinh định mức (hạng tráng: 2 cân; hạng dân: 1 cân 8 lạng; hạng lão: 1 cân). Đến năm Mậu Tý (1768), mức thuế yến quy đổi thành tiền mặt nộp về ngân khố đạt 773 quan 1 tiền 30 đồng.
- Biến động tỷ giá tiền tệ và vàng bạc: Giá 1 thỏi vàng (10 lượng) trong mùa mậu dịch (tháng 2 đến tháng 7) tăng vọt lên 130 - 150 quan, nhưng đến mùa chết (tháng 8 đến tháng 1 năm sau) sụt giảm chỉ còn 100 - 110 quan (mức chênh lệch biên độ giao dịch đạt tới 27.3% - 36.4%).
Đổi mới và đóng góp
Nghiên cứu mang lại 4 đóng góp phương pháp luận và dữ liệu lịch sử cốt lõi:
- Xác lập mô hình chuyển dịch cấu trúc cảng thị kép: Chứng minh luận điểm các cảng thị Đàng Trong không biến mất đột ngột mà chuyển đổi chức năng theo tiến trình bồi lắng tự nhiên và hiện đại hóa giao thông:
$$\text{Mô hình chuyển dịch:} \quad \begin{cases} \text{Hội An (Cảng sông cạn)} & \longrightarrow \text{Đà Nẵng (Vịnh nước sâu)} \ \text{Cù Lao Phố (Giang cảng nội địa)} & \longrightarrow \text{Sài Gòn - Bến Nghé (Thủy lộ chiến lược)} \ \text{Nước Mặn (Đầm Thị Nại)} & \longrightarrow \text{Vạn Gò Bồi} \longrightarrow \text{Quy Nhơn} \end{cases}$$
- Hệ thống hóa chỉ số kinh tế lượng lịch sử: Chuyển đổi định lượng toàn bộ đơn vị đo lường cổ và biểu giá trong Phủ biên tạp lục thành bộ dữ liệu đối sánh trực quan, loại bỏ các diễn giải mơ hồ về "sự phồn hoa vô căn cứ".
- Làm rõ tính linh hoạt của thể chế ngoại thương chúa Nguyễn: Phân tích chính sách kết hợp đa dạng giữa chính trị - gia tộc (nhận thương gia Nhật Hunamoto Yabeije làm con nuôi; gả công nữ Ngọc Hoa cho Araki Shutaro) và sự khoan dung tôn giáo, tạo môi trường mậu dịch tự do vượt trội so với chính sách ức thương cùng thời kỳ ở một số khu vực khác.
- Chứng minh vai trò độc lập của thị trường tiêu dùng nội địa: Đàng Trong không chỉ là trạm trung chuyển thụ động mà đã phát triển thành thị trường tiêu thụ mạnh mẽ hàng hóa tinh xảo, định hình lối sống đô thị phồn thịnh trước thế kỷ XIX.
Ứng dụng thực tế và triển khai
KHUNG ỨNG DỤNG THỰC TẾ
[Giáo dục & Nghiên cứu] [Bảo tồn & Du lịch] [Kinh tế & Quy hoạch]
Kịch bản khai thác dữ liệu
- Bảo tồn di sản và phát triển du lịch văn hóa:
- Cung cấp cơ sở cứ liệu khoa học để phục dựng không gian thương cảng Nước Mặn (Bình Định) và Cù Lao Phố (Biên Hòa - Đồng Nai), nâng tầm giá trị di sản bên cạnh Di sản Thế giới Đô thị cổ Hội An.
- Xây dựng kịch bản trải nghiệm thực tế ảo (VR/AR) về "Một ngày mậu dịch tại Hội An thế kỷ XVII" phục vụ du lịch di sản.
- Quy hoạch kinh tế biển và dịch vụ logistics:
- Kế thừa bài học lịch sử về việc kết hợp giao thông thủy nội địa (mạng lưới kênh rạch, sông ngòi Nam Bộ) với cảng biển nước sâu quốc tế trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện đại.
- Ứng dụng giáo dục và nghiên cứu số:
- Chuyển hóa dữ liệu đề tài thành kho học liệu số phục vụ giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Kinh tế Việt Nam tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội.
Lộ trình triển khai (Roadmap)
- Tháng 1 - 2: Hoàn thiện số hóa toàn bộ văn bản và phân loại bảng biểu các mặt hàng xuất nhập khẩu.
- Tháng 3 - 4: Xây dựng bản đồ GIS trực tuyến về tọa độ và luồng tuyến mậu dịch của 5 thương cảng trọng điểm.
- Tháng 5 - 6: Tích hợp bộ dữ liệu vào hệ thống thư viện mở phục vụ sinh viên và giới nghiên cứu.
Hạn chế và hướng phát triển
Hạn chế kỹ thuật và tư liệu
- Nguồn sử liệu sơ cấp không đồng đều: Các ghi chép về cảng thị vệ tinh như Nước Mặn, Ba Thắc, Bãi Xàu, Hà Tiên và Mỹ Tho Đại Phố còn tản mạn, chưa đầy đủ chuỗi thời gian như Hội An và Sài Gòn.
- Sai số đo lường lịch sử: Hệ thống quy chuẩn cân, đo, đong, đếm thời phong kiến có sự chênh lệch nhỏ giữa từng địa phương và từng thời kỳ chấp chính của các chúa Nguyễn.
Hướng phát triển đề tài
- Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và OCR nhận diện chữ Hán - Nôm cổ để trích xuất tự động dữ liệu từ các văn bản châu bản, địa bạ triều Nguyễn chưa được dịch nghĩa.
- Mở rộng phạm vi đối sánh với các mô hình cảng thị đồng đại trong khu vực như Ayutthaya (Xiêm), Malacca (Malaysia), Batavia (Indonesia) và Nagasaki (Nhật Bản).
Đối tượng hưởng lợi
Câu hỏi thường gặp
1. Sự khác biệt bản chất giữa "Cảng thị" và "Phố cảng" trong nghiên cứu là gì?
Cảng thị (Port-city) là thực thể đô thị hoàn chỉnh bao gồm hạ tầng tiếp nhận bốc dỡ hàng hóa (Cảng) và không gian trao đổi, dân cư định cư có tổ chức hành chính (Thị/Phố), đạt quy mô kết nối mậu dịch quốc tế và chịu sự quản lý trực tiếp của thiết chế nhà nước. Phố cảng thường ở nấc thang phát triển thấp hơn, có thể chỉ là một cụm dân cư - thương nghiệp tập trung bên bến nước trước khi tích tụ đủ điều kiện kinh tế - xã hội để trở thành đô thị cảng thị hoàn chỉnh.
2. Nguyên nhân cốt lõi khiến Hội An và Cù Lao Phố suy thoái vào cuối thế kỷ XVIII?
Sự suy thoái bắt nguồn từ sự cộng hưởng của ba yếu tố:
- Tự nhiên: Sự bồi lắng phù sa của sông Thu Bồn (Hội An) và luồng lạch sông Đồng Nai khiến tàu thuyền trọng tải lớn không thể tiếp cận sâu vào nội địa.
- Chiến tranh & Xã hội: Các biến động chiến sự thời Tây Sơn tàn phá hạ tầng cơ sở và gây gián đoạn các mạng lưới buôn bán của thương nhân Hoa kiều.
- Kỹ thuật hàng hải toàn cầu: Sự xuất hiện của tàu buôn phương Tây vỏ sắt chạy bằng hơi nước đòi hỏi các hải cảng vịnh sâu, kín gió như Đà Nẵng và Sài Gòn thay thế các giang cảng truyền thống.
3. Tiền tệ nào đóng vai trò thanh toán chủ đạo trong các giao dịch quốc tế tại Hội An?
Bạc nén và bạc thoi (đặc biệt là bạc từ Nhật Bản và bạc đồng Mỹ Latinh/Mexique) đóng vai trò là vật ngang giá trung gian quốc tế chủ lực. Trong giao dịch nội địa và dân sinh, tiền đồng (tiền Khang Hy, tiền thời Tống, Đường) và tiền kẽm Thiên Minh được lưu hành song song nhưng thường xuyên có sự biến động tỷ giá và hiện tượng đầu cơ.
4. Chúa Nguyễn đã thực hiện những chính sách ưu đãi cụ thể nào để thu hút Hoa thương và Nhật thương?
Chúa Nguyễn cho phép thương nhân nước ngoài mua đất lập phố riêng (Phố Nhật, Phố Khách tại Hội An), tự quản lý cộng đồng theo luật lệ tập quán riêng, được tự do kết hôn với người bản xứ và cấp quy chế ngụ cư lâu dài để thu gom hàng hóa cho các mùa mậu dịch kế tiếp mà không bị quan chế ngặt nghèo.
5. Dữ liệu giá cả trong "Phủ biên tạp lục" có phản ánh chính xác giá thị trường thực tế?
Các số liệu trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cung cấp khung giá quy chuẩn định ngạch vào điều kiện bình thường tại dinh Quảng Nam. Tuy nhiên, giá thực tế tại cảng thị luôn vận động linh hoạt theo mùa mậu dịch (tăng cao vào mùa hội chợ và hạ nhiệt vào mùa gió ngược) cùng các biến động giá chợ đen và độ co giãn cung cầu của từng mặt hàng đặc sản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu một số cảng thị vùng Thuận Quảng và Nam Bộ trong các thế kỷ XVII - XIX" đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tái hiện diện mạo kinh tế mậu dịch đối ngoại của xứ Đàng Trong qua một lăng kính khoa học, logic và định lượng. Nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ quy luật hưng suy mang tính tất yếu của chuỗi cảng thị Hội An, Nước Mặn, Cù Lao Phố, Đà Nẵng và Sài Gòn, mà còn khẳng định tầm nhìn kinh tế mở cửa, năng động và hội nhập quốc tế sâu sắc của các chúa Nguyễn trong lịch sử dân tộc.
Công trình đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho công tác đào tạo, nghiên cứu lịch sử kinh tế, đồng thời gợi mở những bài học kinh nghiệm quý báu cho chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế biển, logistics và bảo tồn di sản đô thị thương cảng của Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.