Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội mang tính cấp bách tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nhằm phân định tín dụng chính sách với tín dụng thương mại, ngày 04/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đồng thời Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo. Tại thị xã Nghi Sơn (tỉnh Thanh Hóa) – địa bàn được thành lập trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên 455,61 km² và quy mô dân số 307.304 người của huyện Tĩnh Gia trước đây theo Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 ngày 22/04/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội – Phòng giao dịch NHCSXH thị xã Nghi Sơn được thành lập theo Quyết định số 765/QĐ-HĐQT ngày 07/07/2016 nhằm triển khai các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước.

Mặc dù chi nhánh đã nhanh chóng tiếp nhận bàn giao dư nợ cho vay hộ nghèo từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước, thực tiễn xóa đói giảm nghèo tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc trong khâu rà soát, giải ngân đúng đối tượng và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các hộ có nhu cầu thực tế. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Lê Thảo Nhi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Nghi Sơn tỉnh Thanh Hoá" dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp tại Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2023).

Khóa luận xác định rõ mục tiêu nghiên cứu là phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH thị xã Nghi Sơn; chỉ ra những nguyên nhân và hạn chế còn tồn tại; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho vay hộ nghèo của đơn vị. Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay hộ nghèo của NHCSXH.
  2. Phân tích thực trạng và tìm hiểu những điểm hạn chế trong hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH thị xã Nghi Sơn.
  3. Xác định định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho vay của NHCSXH thị xã Nghi Sơn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH thị xã Nghi Sơn.
  • Phạm vi không gian: Phòng giao dịch NHCSXH thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập và phân tích trong giai đoạn 3 năm từ năm 2019 đến năm 2021.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng triển khai nghiệp vụ cho vay hộ nghèo và các đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên khung lý luận về đói nghèo và tín dụng chính sách xã hội. Tác giả trích dẫn định nghĩa đói nghèo được Việt Nam thừa nhận tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (tháng 9/1993), kết hợp với quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để phân biệt khái niệm "đói" (mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất duy trì cuộc sống) và "nghèo" (chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản, ngang bằng mức tối thiểu của cộng đồng), cũng như sự khác biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Tác giả tổng hợp hai nhóm nguyên nhân dẫn đến nghèo đói:

  • Nhóm nguyên nhân chủ quan: Thiếu vốn sản xuất, thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn, thiếu năng động trong tìm kiếm việc làm, và thiếu sức khỏe do bệnh tật.
  • Nhóm nguyên nhân khách quan: Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (thiên tai, dịch bệnh, địa hình hiểm trở), điều kiện xã hội (trình độ học vấn thấp, hủ tục, tệ nạn) và các bất cập trong chính sách hỗ trợ, phân bổ vốn đầu tư của Nhà nước.

Về cơ sở pháp lý và bản chất định chế, nghiên cứu trích dẫn Khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP và Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg. NHCSXH được xác định là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước hoạt động phi lợi nhuận, được đảm bảo khả năng thanh toán với tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%. Nghiệp vụ cho vay hộ nghèo có các đặc thù: lãi suất cho vay thấp, quy mô khoản vay nhỏ, thời hạn cho vay tương đối dài (từ 12 đến 60 tháng), áp dụng phương thức tín chấp và giải ngân gián tiếp chủ yếu thông qua mạng lưới ủy thác của các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở.

Để đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động cho vay, khóa luận xây dựng hai nhóm chỉ tiêu:

  • Góc độ hộ nghèo thụ hưởng: Số hộ thoát nghèo, số lượt hộ nghèo được vay vốn, tỷ lệ hộ thoát nghèo, và số tiền vay bình quân mỗi hộ.
  • Góc độ quản trị ngân hàng: Tỷ lệ nợ quá hạn (tỷ lệ giữa dư nợ quá hạn và tổng dư nợ hộ nghèo), tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo trên tổng dư nợ tín dụng, và hệ số vòng quay vốn tín dụng.

Phương pháp nghiên cứu trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp nội bộ từ các phòng ban chức năng của PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn (bảng cân đối kế toán, báo cáo tổng kết nguồn vốn, báo cáo doanh số cho vay - thu nợ, báo cáo phân loại dư nợ ủy thác giai đoạn 2019-2021) và dữ liệu thứ cấp bên ngoài từ sách báo, tạp chí khoa học, số liệu thống kê của Tỉnh ủy Thanh Hóa và Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã Nghi Sơn.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm hệ thống hóa dữ liệu dưới dạng bảng biểu và biểu đồ; phương pháp so sánh (tuyệt đối và tương đối) giữa các năm nhằm xác định tốc độ tăng trưởng và xu hướng biến động của các chỉ tiêu; kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp logic để đánh giá ưu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân cốt lõi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về hoạt động cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội

Chương 1 tiến hành điểm luận 9 công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến tín dụng chính sách tại Việt Nam: nghiên cứu của Vũ Thị Hương (2022) về hiệu quả vốn tín dụng chính sách tại Thanh Hóa; Trần Thị Quyên (2012) tại huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh; Lê Thị Cầm (2011) tại huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế; Lê Văn Hoàn (2010) tại huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa; Nguyễn Thành Tài (2019) tại huyện Nam Giang, Quảng Nam; Nguyễn Thị Kim Nhung (2017) tại tỉnh Sơn La; Trần Mốt (2016) tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Thanh Hóa; Trần Thị Huỳnh Thảo (2018) tại huyện Hiệp Đức, Quảng Nam; Trần Quang Điệp (2018) tại Đắk Nông; và bài viết của Lê Thị Anh Vân (2019) về chính sách hỗ trợ giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số.

Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính hoặc dữ liệu chỉ mới cập nhật đến năm 2019, chưa đánh giá sâu các biến động thực tế tại một đơn vị hành chính mới chuyển đổi mô hình từ huyện lên thị xã như Nghi Sơn trong bối cảnh chịu tác động kép từ dịch bệnh COVID-19, đồng thời thiếu định hướng phát triển tín dụng đến năm 2025.

Ngoài ra, chương 1 hệ thống hóa các nguyên tắc cho vay bắt buộc (đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích cam kết, hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn, tuân thủ tư cách pháp lý có xác nhận cư trú hợp pháp của UBND cấp xã); phân tích hai phương thức cấp tín dụng (cho vay trực tiếp và cho vay ủy thác có trả phí dịch vụ qua 4 tổ chức chính trị - xã hội); đồng thời phân tích các nhóm nhân tố chi phối hoạt động cho vay từ phía khách hàng (năng lực quản lý, mục đích sử dụng vốn), từ phía ngân hàng (chính sách tín dụng, quy trình thủ tục, bộ máy tổ chức, trình độ cán bộ, công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ) và từ môi trường kinh tế, tự nhiên, chính sách vĩ mô.

Chương 2: Thực trạng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh thị xã Nghi Sơn

Chương 2 mô tả khái quát cơ cấu tổ chức và phân tích toàn diện hoạt động cho vay của PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn:

  • Cơ cấu tổ chức bộ máy: Đơn vị hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp thị xã (gồm 10 thành viên). Ban điều hành gồm Giám đốc phụ trách chung, bên dưới là Tổ Kế toán - Ngân quỹ (03 người, bao gồm 01 thủ quỹ) và Tổ Kế hoạch - Nghiệp vụ tín dụng (05 người phụ trách trực tiếp các địa bàn xã, phường).
  • Quy trình cho vay hộ nghèo: Thực hiện theo mô hình khép kín qua 8 bước: (1) Khách hàng lập Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; (2) Tổ Tiết kiệm và Vay vốn (TK&VV) họp bình xét công khai và lập danh sách trình UBND cấp xã xác nhận; (3) Gửi hồ sơ đến NHCSXH; (4) Ngân hàng phê duyệt và thông báo kết quả cho UBND xã; (5) UBND xã thông báo cho tổ chức hội cấp xã; (6) Tổ chức hội thông báo cho Tổ TK&VV; (7) Tổ TK&VV thông báo lịch và địa điểm giải ngân cho hộ vay; (8) Ngân hàng giải ngân trực tiếp cho hộ nghèo tại Điểm giao dịch xã hoặc trụ sở ngân hàng.

Về thực trạng nghèo đói trên địa bàn, tỷ lệ hộ nghèo tại thị xã Nghi Sơn có xu hướng giảm nhanh nhưng số hộ cận nghèo lại gia tăng:

Bảng: Tình hình hộ nghèo và cận nghèo tại thị xã Nghi Sơn giai đoạn 2019–2021

Chỉ tiêu Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
Số hộ nghèo (Hộ) 773 649 427
Tỷ lệ hộ nghèo so với toàn tỉnh Thanh Hóa (%) 3,10 2,62 2,18
Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn thị xã (%) 8,70 7,64 5,02
Số hộ thoát nghèo trong năm (Hộ) 124 98 222
Số hộ cận nghèo (Hộ) 2.111 2.332 2.878
Tỷ lệ hộ cận nghèo so với toàn tỉnh Thanh Hóa (%) 3,12 - 4,99
Số hộ tái nghèo (Hộ) 22 - -

(Nguồn: Số liệu trích từ Bảng 2.1 và Bảng 2.7 trong khóa luận)

Về cơ cấu nguồn vốn, tổng nguồn vốn hoạt động của PGD tăng trưởng đều qua các năm:

Bảng: Cơ cấu nguồn vốn tại NHCSXH thị xã Nghi Sơn giai đoạn 2019–2021

Chỉ tiêu Năm 2019 (Trđ) Tỷ trọng (%) Năm 2020 (Trđ) Tỷ trọng (%) Năm 2021 (Trđ) Tỷ trọng (%)
Nguồn vốn TW cấp 66.403 59,70 71.387 - 87.403 59,70
Nguồn vốn ngân sách tỉnh 22 20,40 28 20,46 33 22,54
Huy động từ Tổ TK&VV 19 17,61 37 27,04 26 17,75
Tổng nguồn vốn 107.839 100 136.823 100 146.403 100

(Nguồn: Báo cáo kết quả nguồn vốn PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn)

Về kết quả kinh doanh nghiệp vụ cho vay và thu nợ:

  • Doanh số cho vay (DSCV) hộ nghèo giảm dần từ 28.161 triệu đồng (năm 2019) xuống 24.699 triệu đồng (năm 2020, giảm 12%) và đạt 21.855 triệu đồng (năm 2021, giảm tiếp 11,5%). Nguyên nhân do nguồn vốn tín dụng được điều tiết sang các chương trình chính sách mới và quy trình rà soát hộ nghèo chặt chẽ hơn.
  • Số lượt hộ nghèo vay vốn giảm tương ứng từ 1.388 lượt hộ (2019) xuống 1.290 hộ (2020) và 1.221 hộ (2021). Vốn vay bình quân mỗi hộ đạt 17,22 triệu đồng (2019), giảm xuống 15,98 triệu đồng (2020) do người dân chỉ vay vốn duy trì đời sống giữa dịch bệnh, sau đó tăng lên 16,21 triệu đồng (2021). Gần 100% doanh số cho vay là các khoản vay trung và dài hạn (kỳ hạn từ 12 đến 60 tháng).
  • Doanh số thu nợ (DSTN) đạt 18.993 triệu đồng (2019), giảm 9,4% xuống 17.314 triệu đồng (2020) do ảnh hưởng của giãn cách xã hội vì dịch COVID-19 làm đình trệ sản xuất, sau đó tăng trở lại 8,1% đạt 18.715 triệu đồng (2021).

Về hoạt động cho vay ủy thác qua 4 tổ chức chính trị - xã hội tính đến tháng 12/2021, tổng dư nợ ủy thác đạt 79.395 triệu đồng:

Bảng: Tình hình cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội tính đến tháng 12/2021

Tên tổ chức nhận ủy thác Số tổ TK&VV Số hộ còn dư nợ Tổng dư nợ (Trđ) Tỷ trọng (%) Nợ quá hạn (Trđ)
Hội Liên hiệp Phụ nữ 85 2.173 30.947 38,97 173
Hội Nông dân 90 1.199 25.199 31,73 255
Hội Cựu chiến binh - - 13.173 16,59 -
Đoàn Thanh niên 31 765 10.076 12,69 848
Tổng cộng - - 79.395 100 -

(Nguồn: Báo cáo phân loại cho vay theo đơn vị nhận ủy thác, tháng 12/2021)

Tính đến ngày 31/12/2021, tổng dư nợ các chương trình tín dụng tại chi nhánh đạt 227.620 triệu đồng (tăng 27.255 triệu đồng so với đầu năm). Trong đó: cho vay hộ nghèo đạt 65.822 triệu đồng (chiếm tỷ trọng cao nhất 28,91%); cho vay hộ cận nghèo đạt 42.943 triệu đồng (18,86%); cho vay hộ nghèo về nhà ở đạt 39.390 triệu đồng (17,31%); cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đạt 37.892 triệu đồng (16,64%); cho vay giải quyết việc làm đạt 24.637 triệu đồng (10,82%); cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt 17.326 triệu đồng (7,61%).

Về chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn luôn được kiểm soát dưới 1%: năm 2019 là 0,48% (755 triệu đồng), năm 2020 tăng lên 0,65% (1.352 triệu đồng, tăng 24,2% do đứt gãy thị trường tiêu thụ và giá vật tư nông nghiệp tăng trong dịch bệnh), đến năm 2021 giảm về mức 0,3%. Trong năm 2021, đơn vị đã xử lý rủi ro cho 9 khách hàng với tổng số tiền 33,5 triệu đồng (xóa nợ 8 hộ với 24,5 triệu đồng, khoanh nợ 1 hộ với 9 triệu đồng) và tiếp tục đề nghị xử lý rủi ro đợt tháng 10/2021 cho 33 khách hàng theo Quyết định số 62/QĐ-HĐQT.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay hộ nghèo tại PGD Ngân hàng Chính sách xã hội thị xã Nghi Sơn

Chương 3 trình bày các định hướng phát triển tín dụng chính sách đối với hộ nghèo trên địa bàn thị xã Nghi Sơn đến năm 2025, đặt trong tổng thể chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm khắc phục các hạn chế đã chỉ ra ở Chương 2:

  • Tăng cường công tác huy động vốn tại chỗ thông qua việc đa dạng hóa hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của cộng đồng và đẩy mạnh huy động tiền gửi từ thành viên Tổ TK&VV.
  • Chuẩn hóa và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ vay vốn, phối hợp chặt chẽ với chính quyền cấp xã trong công tác điều tra, rà soát danh sách hộ nghèo định kỳ để đảm bảo tính khách quan, tránh bỏ sót đối tượng đủ điều kiện hoặc phê duyệt sai lệch.
  • Củng cố chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và mạng lưới Tổ TK&VV; gắn tiêu chí quản lý dư nợ, đôn đốc thu nợ và tỷ lệ nợ quá hạn vào chỉ tiêu thi đua khen thưởng hàng năm của từng đoàn thể.
  • Nâng cao hiệu quả phối hợp lồng ghép giữa việc cung ứng vốn tín dụng ưu đãi với các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật và định hướng mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi tại vùng ven biển, trung du Nghi Sơn.
  • Tăng cường kiểm tra, giám sát trước, trong và sau giải ngân; chủ động nhận diện nợ có nguy cơ chuyển quá hạn để có phương án khoanh nợ, giãn nợ hoặc xử lý rủi ro kịp thời theo đúng quy định.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống dữ liệu thực tế về hoạt động tín dụng chính sách: Khóa luận đã lượng hóa chi tiết toàn bộ bức tranh hoạt động cho vay hộ nghèo tại PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn qua 3 năm (2019–2021): tổng nguồn vốn đạt 146.403 triệu đồng (2021); tổng dư nợ đạt 227.620 triệu đồng; tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống 0,3%; nguồn vốn tín dụng đã hỗ trợ trực tiếp cho 444 hộ thoát nghèo (124 hộ năm 2019, 98 hộ năm 2020 và 222 hộ năm 2021). Khóa luận ghi nhận các mô hình điển hình sử dụng vốn hiệu quả như hộ anh Hà Văn Điệp (xã Tân Trường) vay 50 triệu đồng phát triển ao nuôi cá kết hợp cây ăn quả; hộ chị Vi Thị Thuận (xã Thanh Sơn) vay 50 triệu đồng nuôi trâu và trồng 2ha rừng luồng mang lại lãi 100 triệu đồng/năm và thoát nghèo vào năm 2021.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ: Đưa ra các khuyến nghị bám sát đặc thù địa bàn thị xã Nghi Sơn, bao gồm giải pháp tạo lập vốn, nâng cao năng lực thẩm định của cán bộ, củng cố quy trình ủy thác qua 4 tổ chức chính trị - xã hội và tăng cường giám sát sử dụng vốn vay.
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng việc cung cấp các luận cứ thực nghiệm mới nhất trong giai đoạn chuyển tiếp hành chính từ huyện Tĩnh Gia sang thị xã Nghi Sơn (năm 2020) và thời kỳ ứng phó dịch bệnh COVID-19, bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng kế hoạch tín dụng chính sách tại Thanh Hóa đến năm 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về dữ liệu: Các bảng cân đối và số liệu thống kê trong khóa luận mới chỉ phản ánh chu kỳ 3 năm từ năm 2019 đến ngày 31/12/2021; chưa có số liệu cập nhật của năm 2022 và các tháng đầu năm 2023 tại thời điểm hoàn thành khóa luận.
    • Về phương pháp: Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết; chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng (như hồi quy OLS, Logit/Probit) để đo lường chính xác mức độ tác động của quy mô vốn vay đến xác suất thoát nghèo hoặc tăng thu nhập của từng nhóm hộ.
    • Về phạm vi không gian: Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi một phòng giao dịch cấp thị xã, chưa có sự đối sánh chuyên sâu với các chi nhánh NHCSXH huyện đồng bằng hoặc miền núi khác trong cùng tỉnh Thanh Hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Kéo dài chuỗi số liệu sau năm 2021 để đánh giá mức độ phục hồi kinh tế và hiệu quả sử dụng vốn của hộ nghèo trong giai đoạn bình thường mới.
    • Kết hợp phương pháp điều tra định lượng vi mô (khảo sát bảng hỏi trực tiếp các hộ gia đình vay vốn) và sử dụng mô hình hồi quy để lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ và hiệu quả sinh lời của đồng vốn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Tài chính – Ngân hàng và Quản lý công đang thực hiện đề tài về tín dụng vi mô, tín dụng ưu đãi và chính sách giảm nghèo bền vững.
  • Cán bộ quản lý và nhân viên tín dụng chính sách: Tham khảo quy trình phối hợp ủy thác 8 bước giữa ngân hàng, tổ chức hội và Tổ TK&VV cấp xã/phường; quy trình xử lý và kiểm soát nợ quá hạn tại địa bàn cấp cơ sở.
  • Cơ quan quản lý địa phương: Làm tài liệu tham khảo cho Ban đại diện HĐQT NHCSXH thị xã Nghi Sơn và chính quyền địa phương trong việc xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu tín dụng gắn với công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nguồn vốn hoạt động của PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn tính đến cuối năm 2021 đạt bao nhiêu và nguồn nào chiếm chủ đạo?
Tính đến ngày 31/12/2021, tổng nguồn vốn hoạt động của đơn vị đạt 146.403 triệu đồng (tăng 79,5 triệu đồng so với đầu năm 2019, tăng trưởng bình quân 7%/năm). Trong đó, nguồn vốn do Trung ương cấp chiếm chủ đạo với 59,70%; nguồn vốn ngân sách tỉnh đạt 33 triệu đồng (chiếm 22,54%); nguồn vốn huy động thông qua Tổ TK&VV đạt 26 triệu đồng (chiếm 17,75%).

2. Quy trình cho vay hộ nghèo tại PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn được triển khai qua những bước nào?
Quy trình được thực hiện qua 8 bước: (1) Khách hàng viết Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; (2) Tổ TK&VV và tổ chức hội họp bình xét công khai, lập danh sách trình UBND cấp xã xác nhận; (3) Tổ TK&VV gửi hồ sơ đến NHCSXH; (4) Ngân hàng phê duyệt và thông báo cho UBND xã; (5) UBND xã thông báo cho tổ chức hội cấp xã; (6) Tổ chức hội thông báo cho Tổ TK&VV; (7) Tổ TK&VV thông báo danh sách, thời gian, địa điểm giải ngân cho hộ vay; (8) Ngân hàng giải ngân trực tiếp cho người vay tại Điểm giao dịch xã hoặc tại trụ sở đơn vị.

3. Hoạt động ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị - xã hội tại thị xã Nghi Sơn được phân bổ ra sao tính đến cuối năm 2021?
Tổng dư nợ ủy thác qua 4 tổ chức đạt 79.395 triệu đồng. Trong đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 30.947 triệu đồng (38,97%, gồm 85 tổ TK&VV, 2.173 hộ); Hội Nông dân đạt 25.199 triệu đồng (31,73%, gồm 90 tổ TK&VV, 1.199 hộ); Hội Cựu chiến binh đạt 13.173 triệu đồng (16,59%); và Đoàn Thanh niên đạt 10.076 triệu đồng (12,69%, gồm 31 tổ TK&VV, 765 hộ).

4. Vì sao doanh số cho vay và số lượt hộ nghèo vay vốn tại thị xã Nghi Sơn giảm liên tục trong giai đoạn 2019–2021?
Doanh số cho vay giảm từ 28.161 triệu đồng (1.388 lượt hộ) năm 2019 xuống 24.699 triệu đồng (1.290 lượt hộ) năm 2020 và 21.855 triệu đồng (1.221 lượt hộ) năm 2021 do hai nguyên nhân chính: (1) Nguồn vốn ưu đãi được điều chỉnh phân bổ sang các chương trình chính sách mới ban hành (như chương trình hỗ trợ khắc phục hậu quả dịch bệnh, phát triển sản xuất kinh doanh vùng khó khăn); (2) Quy trình rà soát, thẩm định chuẩn nghèo được thắt chặt, kết hợp với công tác xét duyệt tại cơ sở còn có thời điểm kéo dài, làm giảm số lượng hộ nghèo đủ tiêu chí tiếp cận nguồn vốn chương trình này.

5. Tỷ lệ nợ quá hạn của chương trình cho vay hộ nghèo tại đơn vị biến động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Năm 2019, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức 0,48% (755 triệu đồng). Sang năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, giãn cách xã hội và suy thoái kinh tế khiến giá nông sản sụt giảm trong khi giá vật tư đầu vào tăng, nợ quá hạn tăng lên 1.352 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,65% (tăng 24,2%). Đến năm 2021, nhờ các biện pháp đôn đốc thu hồi và xử lý rủi ro kịp thời, tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm mạnh về mức 0,3%, duy trì dưới ngưỡng an toàn 1%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thảo Nhi đã phản ánh toàn diện bức tranh hoạt động cho vay hộ nghèo tại PGD NHCSXH thị xã Nghi Sơn (tỉnh Thanh Hóa) trong giai đoạn 2019–2021 thông qua hệ thống dữ liệu thứ cấp và các chỉ tiêu phân tích cụ thể. Nghiên cứu khẳng định tín dụng chính sách đóng vai trò trợ lực quan trọng, trực tiếp giúp 444 hộ thoát nghèo và kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn ở mức an toàn (0,3% năm 2021) dù chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch COVID-19. Đồng thời, công trình chỉ rõ các tồn tại về sự suy giảm doanh số cho vay hộ nghèo và mức độ gia tăng số hộ cận nghèo, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định, củng cố mô hình ủy thác và liên kết hỗ trợ kỹ thuật sản xuất nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2025.