Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong đời sống xã hội và lưu thông dân sự, giao dịch dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng bậc nhất giúp các chủ thể chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ. Các chủ thể tham gia giao dịch thông qua các hình thức cụ thể như hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương nhằm đáp ứng các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất và kinh doanh. Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nhằm bảo đảm sự an toàn và ổn định của các quan hệ tài sản.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy hệ thống quy định pháp luật hiện hành vẫn còn những điểm thiếu sót, chưa đầy đủ hoặc chồng chéo, dẫn đến khó khăn, lúng túng trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân đối với các tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể. Tình trạng giao dịch dân sự bị vô hiệu do vi phạm yếu tố tự nguyện diễn biến phức tạp, tạo ra nhiều tranh cãi về mặt lý luận và thực tiễn, điển hình như tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Xuất phát từ đòi hỏi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân cũng như nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật của cơ quan xét xử, tác giả Bùi Thị Thủy Tiên đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài: "Giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể và hậu quả pháp lý - Thực tiễn áp dụng" tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Huệ.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các quy định pháp luật về khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự, chế định giao dịch dân sự vô hiệu, căn cứ pháp lý xác định giao dịch vô hiệu do vi phạm ý chí và cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý tương ứng; đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  1. Một là, phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu đó.
  2. Hai là, sơ lược về quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về giao dịch dân sự vô hiệu để làm nổi bật tính kế thừa truyền thống và những bước phát triển trong quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể theo BLDS năm 2015.
  3. Ba là, nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể tại tỉnh Thanh Hóa, và giải quyết hậu quả pháp lý qua nghiên cứu các bản án cụ thể tại địa phương.
  4. Bốn là, nêu lên những khó khăn, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể trong lịch sử lập pháp và pháp luật thực định (trọng tâm là BLDS năm 2015); các bản án thực tiễn liên quan đến giao dịch dân sự vi phạm ý chí được giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa từ năm 2017 đến nay.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể nói chung, không phân tích chuyên sâu từng loại hợp đồng trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại đặc thù.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và các vụ việc xét xử thực tế phát sinh từ đầu năm 2017 (thời điểm BLDS năm 2015 bắt đầu có hiệu lực thi hành) đến thời điểm thực hiện đề tài (năm 2024).
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp so sánh pháp luật: Được sử dụng để đối chiếu các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí qua các giai đoạn phát triển lập pháp của Việt Nam (thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 2015 và BLDS năm 2015), đồng thời so sánh với các quy định tương ứng trong pháp luật nước ngoài (như BLDS Pháp, BLDS Nhật Bản).
  • Phương pháp logic hóa pháp lý và hệ thống hóa: Dùng để làm sáng tỏ bản chất của khái niệm ý chí, tự do ý chí, sự bày tỏ ý chí; phân tích cấu trúc điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và phân loại các trường hợp vô hiệu.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật thực định, tổng hợp các quan điểm khoa học của các học giả chuyên ngành và đúc kết các luận điểm lý luận.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn: Áp dụng tại Chương 3 nhằm phân tích hồ sơ, nội dung các bản án thực tế tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh tại Thanh Hóa, từ đó nhận diện những bất cập, sai sót trong quá trình xét xử.

Khung lý thuyết và nguồn tài liệu tham khảo của đề tài bao gồm các công trình nghiên cứu tiêu biểu:

  • Về sách bình luận khoa học và giáo trình: Sách bình luận khoa học BLDS năm 2015 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung, Huỳnh Thị Nam Hải, Nguyễn Thị Khánh Ngọc, Lê Hoài Nam (2017); Ngô Hoàng Oanh (2016); Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (2017); Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập 1 của Trường Đại học Luật Hà Nội (2017).
  • Về luận án, luận văn chuyên khảo: Luận án tiến sĩ của Lê Minh Hùng (2010), Nguyễn Văn Cường (2005); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quang Dũng (2020), Vũ Thị Thanh Nga (2011), Trịnh Thị Hòa (2017), Bùi Thị Thùy Dương (2012), Nguyễn Thị Lệ Nghĩa (2018), Nguyễn Thị Thanh (2015), Cao Thị Thùy Dương (2014), Trần Trung Trực (1977).
  • Về bài báo khoa học: Các nghiên cứu của Phạm Văn Tuyết (2004), Phạm Công Lạc (1998), Ngô Huy Cương (2008), Đỗ Văn Đại (2008), Lê Thị Bích Thọ (2008), Phạm Thị Hồng My (2017), Phạm Thị Thu Hiền (2019).

Nguồn văn bản pháp luật làm cơ sở phân tích gồm: BLDS năm 2015 (các Điều 21, 116, 117, 122, 124, 126, 127, 128, 131, 132, 133); các văn bản lịch sử như Quốc triều hình luật thời Lê Sơ (Điều 355), Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn (Điều 5), Dân luật Nam Kỳ năm 1883, Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 (các Điều 651, 683, 896), Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật năm 1936 (các Điều 687, 688, 1022), Chỉ thị 772/CT-TATC ngày 10/7/1959 của Tòa án nhân dân tối cao, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992; BLDS năm 1995, BLDS năm 2005; Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 304).

Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất trực tiếp từ Cổng thông tin điện tử công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao (congbobanan.toaan.gov.vn), bao gồm Bản án phúc thẩm số 44/2019/DS-PT ngày 10/6/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa và Bản án sơ thẩm số 01/2020/DSST ngày 27/02/2020 của TAND huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể và hậu quả pháp lý

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu và sự vi phạm ý chí của chủ thể. Căn cứ Điều 116 BLDS năm 2015, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Tác giả chỉ ra bốn đặc điểm cốt lõi của giao dịch dân sự: phải thể hiện ý chí của các bên tham gia; các bên tham gia phải hoàn toàn tự nguyện; nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; và hướng tới phát sinh hậu quả pháp lý.

Về bản chất, ý chí trong quan hệ dân sự bao gồm hai yếu tố cấu thành mật thiết: "ý chí bên trong" (suy nghĩ, nguyện vọng chủ quan đích thực của chủ thể) và "sự thể hiện ý chí ra bên ngoài" (thông qua hành vi, lời nói, văn bản hoặc phương thức biểu đạt nhất định). Một chủ thể tham gia giao dịch chỉ được coi là tự nguyện khi có sự thống nhất biện chứng giữa ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa:

"Giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể là giao dịch dân sự mà chủ thể giao kết không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng đích thực của mình hoặc không được bày tỏ ý chí của mình theo đúng mong muốn bên trong do sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan."

Khóa luận phân loại giao dịch dân sự vi phạm ý chí dựa trên ba tiêu chí khoa học:

  1. Căn cứ lý do vi phạm: Chia thành năm trường hợp cụ thể: (i) Do giả tạo; (ii) Do nhầm lẫn; (iii) Do bị lừa dối; (iv) Do bị đe dọa, cưỡng ép; (v) Do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi dân sự của mình.
  2. Căn cứ tính chất vi phạm: Phân định giữa giao dịch luôn luôn vô hiệu (giao dịch giả tạo – mang tính tuyệt đối) và giao dịch có thể bị vô hiệu hoặc không bị vô hiệu (nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, không làm chủ hành vi – mang tính tương đối, chỉ vô hiệu khi có yêu cầu của bên bị vi phạm trong thời hiệu luật định).
  3. Căn cứ yếu tố lỗi: Phân biệt lỗi vô ý (điển hình trong trường hợp nhầm lẫn) và lỗi cố ý (trong trường hợp giả tạo, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép).

Phần lịch sử lập pháp khẳng định nguyên tắc bảo đảm ý chí tự nguyện đã được manh nha từ cổ luật Việt Nam: Điều 355 Quốc triều hình luật trừng phạt nghiêm khắc hành vi cậy quyền thế ức hiếp mua ruộng đất của dân (phạt biếm hai tư, xử tội uổng pháp); Điều 5 Hoàng Việt luật lệ quy định phạt tội lừa dối khi nhận tài sản gửi giữ rồi man khai. Đến thời kỳ Pháp thuộc, Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 (Điều 651, 896) và Dân luật Trung Kỳ năm 1936 (Điều 687, 1022) đã quy định cụ thể khế ước chỉ có giá trị khi các bên hoàn toàn tự nguyện, không bị hiểu lầm, lừa dối, hành hung hoặc đe dọa thể chất. Sau năm 1945, qua Chỉ thị 772/CT-TATC năm 1959, Hiến pháp năm 1980, 1992 và đặc biệt là hệ thống BLDS các năm 1995, 2005 và 2015, chế định này từng bước được quy chuẩn hóa toàn diện theo kỹ thuật lập pháp hiện đại.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể và hậu quả pháp lý

Chương 2 đi sâu phân tích từng quy phạm pháp luật thực định của BLDS năm 2015 điều chỉnh năm trường hợp giao dịch vi phạm ý chí và cơ chế xử lý hậu quả pháp lý:

  1. Giao dịch xác lập do giả tạo (Điều 124): Gồm hai dạng hành vi: xác lập nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác (giao dịch giả tạo bị vô hiệu, giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực) và xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (giao dịch giả tạo mặc nhiên vô hiệu tuyệt đối). Điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 là bổ sung cụm từ "hoặc luật khác có liên quan" và ghi nhận cụ thể hành vi giả tạo trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
  2. Giao dịch xác lập do nhầm lẫn (Điều 126): Được xác định khi nhận thức của một bên hoặc các bên không đúng sự thật, dẫn đến không đạt được mục đích giao dịch. Yếu tố lỗi ở đây là lỗi vô ý. Tác giả phân tích điểm tiến bộ của Điều 126 BLDS năm 2015 khi bổ sung trường hợp nhầm lẫn từ phía cả hai bên, đồng thời quy định ngoại lệ tại khoản 2: giao dịch không bị vô hiệu nếu mục đích của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn. Tuy nhiên, bất cập lớn là BLDS năm 2015 không đưa ra định nghĩa rõ ràng thế nào là nhầm lẫn mà chỉ quy định hậu quả "không đạt được mục đích".
  3. Giao dịch xác lập do bị lừa dối (Điều 127): Là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung giao dịch. BLDS năm 2015 đã kế thừa và hoàn thiện so với Điều 142 BLDS năm 1995 và Điều 132 BLDS năm 2005 bằng việc quy định rõ hành vi lừa dối có thể xuất phát từ người thứ ba.
  4. Giao dịch xác lập do bị đe dọa, cưỡng ép (Điều 127): So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có hai điểm tiến bộ vượt bậc: một là bổ sung hành vi "cưỡng ép" bên cạnh hành vi "đe dọa"; hai là mở rộng phạm vi chủ thể bị đe dọa gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản bao gồm cả "người thân thích" của người tham gia giao dịch.
  5. Giao dịch do người không nhận thức, làm chủ hành vi xác lập (Điều 128): Áp dụng cho người có năng lực hành vi dân sự nhưng tại đúng thời điểm xác lập giao dịch bị rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi (như say rượu, rối loạn tâm thần tạm thời, bị thôi miên). Tác giả lưu ý trường hợp này hoàn toàn khác biệt với giao dịch của người chưa thành niên (được điều chỉnh riêng bởi Điều 21).

Về cơ chế xử lý hậu quả pháp lý, khóa luận thiết lập bảng so sánh hai nhóm giao dịch vô hiệu:

Tiêu chí phân định Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối (do giả tạo - Điều 124) Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối (Điều 126, 127, 128)
Trình tự vô hiệu Mặc nhiên vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, không phụ thuộc vào việc có đơn yêu cầu hay phán quyết của Tòa án. Không mặc nhiên vô hiệu; chỉ bị tuyên bố vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.
Thời hiệu yêu cầu Không bị hạn chế về thời gian; chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu ở bất kỳ thời điểm nào. Thời hiệu là 02 năm kể từ ngày xác định được sự vi phạm ý chí hoặc chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép (Điều 132).
Vai trò bản án của Tòa án Phán quyết mang tính hình thức, công nhận một tình trạng vô hiệu đã mặc nhiên phát sinh theo luật định. Bản án mang tính chất phán xử, là căn cứ pháp lý trực tiếp làm cho giao dịch mất hiệu lực.
Mục đích điều chỉnh Bảo vệ trật tự công cộng, lợi ích của Nhà nước và quyền lợi của cộng đồng, xã hội. Bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân, riêng biệt của chính chủ thể tham gia giao dịch bị vi phạm ý chí.

Về hậu quả pháp lý chung (Điều 131 BLDS năm 2015), giao dịch vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bằng hiện vật hoặc trị giá thành tiền; bên ngay tình không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường; quyền nhân thân được bảo vệ theo luật.

Về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình (Điều 133 BLDS năm 2015):

  • Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu: Giao dịch với người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực nếu xác lập thông qua giao dịch có đền bù; không có hiệu lực nếu là giao dịch không có đền bù (như tặng cho).
  • Đối với bất động sản hoặc động sản phải đăng ký: Giao dịch với người thứ ba ngay tình bị vô hiệu, trừ trường hợp tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền rồi mới chuyển giao bằng giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình căn cứ vào đăng ký đó; hoặc người thứ ba nhận được tài sản thông qua bán đấu giá, phán quyết của cơ quan có thẩm quyền dù sau đó bản án bị hủy, sửa.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể và một số kiến nghị

Chương 3 tập trung phân tích thực tiễn xét xử thông qua các bản án điển hình tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

  • Bản án phúc thẩm số 44/2019/DS-PT ngày 10/6/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa (về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phúc thẩm Bản án sơ thẩm số 15/2018/DS-ST ngày 27/11/2018 của TAND huyện Triệu Sơn):

    • Nội dung vụ việc: Thửa đất số 334 diện tích 407m² (nguồn gốc do cụ Tống Văn Thân và cụ Trần Thị Năm để lại cho các con, sau đó các con ủy quyền cho ông Lê Hữu N và bà Tống Thị L quản lý, sử dụng). Năm 1988, cụ Thân chỉ cho ông Q mượn 70m² làm xưởng mộc. Tuy nhiên, ông Q đã tự lập giấy chuyển nhượng đất, đề nghị UBND xã tách 70m² thành thửa 721. Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa khẳng định chữ ký trong giấy chuyển nhượng không phải của cụ Thân (giấy tờ giả mạo). Năm 2005, ông Q chuyển nhượng diện tích đất mượn này cho gia đình ông H xây nhà. Ông N và bà L khởi kiện yêu cầu trả lại đất và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Q và ông H vô hiệu.
    • Thiếu sót của TAND huyện Triệu Sơn: Bản án sơ thẩm bộc lộ nhiều sai lầm tố tụng và nội dung nghiêm trọng: (i) Không đưa UBND xã D và UBND huyện Triệu Sơn vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; (ii) Chấp nhận thủ tục ủy quyền chưa đúng quy định (chỉ có chữ ký luật sư làm chứng, thiếu công chứng/chứng thực); (iii) Không lấy ý kiến của các đồng thừa kế con cụ Thân; (iv) Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa cụ Thân và ông Q nhưng không xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại; (v) Không xem xét yêu cầu định giá lại đất theo giá thị trường của nguyên đơn.
    • Kết quả xử lý: TAND tỉnh Thanh Hóa quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm. Tác giả nhấn mạnh đây là minh chứng rõ nét cho việc cơ quan xét xử cấp huyện còn lúng túng trong xác minh hành vi giả tạo che giấu giao dịch và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
  • Bản án sơ thẩm số 01/2020/DSST ngày 27/02/2020 của TAND huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa:

    • Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là chị Lê Thị B và bị đơn là vợ chồng chị Lê Thị H, anh K. Chị B khởi kiện đòi tổng số tiền gốc 500.000.000 đồng. Bị đơn thừa nhận nợ nhưng nại ra việc ký giấy vay 200.000.000 đồng là do nhầm lẫn, mất cảnh giác và quá tin tưởng chị B khi cộng dồn các khoản nợ cũ (hai lần vay trước là 50.000.000 đồng và 100.000.000 đồng). Vụ án phản ánh tình trạng đương sự nhầm lẫn giữa sự tin tưởng chủ quan với sự ngộ nhận về nội dung nghĩa vụ khi xác lập giao dịch.

Từ thực tiễn xét xử, khóa luận chỉ rõ các vướng mắc, tồn tại: Tòa án cấp huyện thường chú trọng xử lý vi phạm hình thức, thủ tục tố tụng hơn là tập trung truy xét bản chất ý chí; công tác thu thập chứng cứ, nhân chứng để chứng minh giao dịch giả mạo còn yếu; việc đánh giá mức độ lỗi và giải quyết hậu quả bồi thường thiệt hại cho các bên còn lúng túng.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa lý luận: Xây dựng định nghĩa khoa học và làm sáng tỏ cấu trúc nội hàm của khái niệm "giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể"; phân định ranh giới pháp lý rõ ràng giữa hai cơ chế vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối dựa trên tính chất xâm phạm trật tự công hay quyền lợi tư nhân.
  • Phát hiện hạn chế lập pháp: Chỉ ra khoảng trống quy phạm trong BLDS năm 2015, điển hình là việc Điều 126 quy định điều kiện vô hiệu do nhầm lẫn chỉ dựa vào hậu quả "không đạt được mục đích" mà thiếu định nghĩa pháp lý về hành vi nhầm lẫn, dẫn đến sự tùy nghi khi áp dụng tại Tòa án.
  • Thực tiễn hóa án văn: Đưa ra các cứ liệu thực chứng thông qua phân tích chuyên sâu Bản án số 44/2019/DS-PT của TAND tỉnh Thanh Hóa và Bản án số 01/2020/DSST của TAND huyện Cẩm Thủy, phản ánh trung thực thực trạng sai sót về thủ tục tố tụng và định giá tài sản của Tòa án cấp huyện.
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị:
    • Về hoàn thiện pháp luật: Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về các tiêu chí xác định "nhầm lẫn" tại Điều 126; hướng dẫn cụ thể cơ chế chứng minh giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hướng dẫn cách thức xác định mức độ lỗi tương ứng giữa các bên để phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 131 BLDS năm 2015.
    • Về nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Tăng cường năng lực nghiệp vụ cho thẩm phán TAND cấp huyện trong việc thu thập chứng cứ, giám định chữ ký, định giá tài sản; bảo đảm xác định đầy đủ tư cách đương sự tham gia tố tụng (đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cấp xã, cấp huyện) để tránh tình trạng bản án bị hủy, sửa ở cấp phúc thẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi nội dung chỉ giới hạn ở giao dịch dân sự nói chung, chưa mở rộng phân tích các loại giao dịch vi phạm ý chí đặc thù trong các lĩnh vực chuyên sâu như tín dụng ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, thương mại điện tử.
    • Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật mới chỉ khu biệt tại một số đơn vị Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 2017 đến nay; dung lượng số lượng bản án được đưa vào mổ xẻ chi tiết còn hạn chế (chủ yếu là 02 bản án điển hình), chưa phản ánh được toàn cảnh thực tiễn xét xử trên phạm vi cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu mở rộng thực trạng vi phạm ý chí trong các giao dịch điện tử và hợp đồng thông minh (smart contract) dưới tác động của công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
    • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn xét xử ra nhiều địa phương thuộc các vùng kinh tế - xã hội khác nhau nhằm đánh giá toàn diện sự tương thích giữa quy định của BLDS năm 2015 và thực tiễn thi hành án dân sự.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc khoa học chặt chẽ khi học tập và nghiên cứu các học phần Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự, đặc biệt là chuyên đề về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và cơ chế bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình.
  • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Tham khảo trực tiếp phần phân tích các thiếu sót nghiệp vụ trong Bản án số 44/2019/DS-PT tại Chương 3 để rút kinh nghiệm trong việc xác minh tư cách người tham gia tố tụng, đánh giá kết luận giám định chữ ký và giải quyết hậu quả bồi thường thiệt hại trong các vụ án tranh chấp đất đai phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa như thế nào về giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể? Khóa luận xác định: Giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể là giao dịch dân sự mà chủ thể giao kết không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng đích thực của mình hoặc không được bày tỏ ý chí của mình theo đúng mong muốn bên trong do sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan (như bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, nhầm lẫn, giả tạo hoặc mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi tại thời điểm xác lập).

2. Điểm mới tiến bộ của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 đối với trường hợp đe dọa, cưỡng ép (Điều 127) là gì? So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm hành vi "cưỡng ép" bên cạnh hành vi "đe dọa", đồng thời mở rộng phạm vi đối tượng bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản bao gồm cả "người thân thích" của người tham gia giao dịch, qua đó tăng cường cơ chế bảo vệ sự tự nguyện của các bên.

3. Tại sao giao dịch dân sự xác lập do giả tạo (Điều 124 BLDS năm 2015) lại bị coi là vô hiệu tuyệt đối? Bởi vì trong giao dịch giả tạo, ý chí của các bên hoàn toàn không có thật, hành vi này xâm phạm trật tự công cộng, trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hoặc che giấu một hành vi trái pháp luật. Do đó, giao dịch mặc nhiên vô hiệu ngay từ khi xác lập, không bị hạn chế bởi thời hiệu 02 năm và không phụ thuộc vào việc có hay không có yêu cầu tuyên bố vô hiệu của các bên đương sự.

4. Vì sao TAND tỉnh Thanh Hóa quyết định hủy toàn bộ bản án sơ thẩm trong Bản án số 44/2019/DS-PT? Tòa phúc thẩm hủy án vì cấp sơ thẩm phạm nhiều vi phạm nghiêm trọng: không đưa UBND xã D và UBND huyện Triệu Sơn vào tham gia tố tụng; chấp nhận văn bản ủy quyền chỉ có chữ ký luật sư làm chứng mà không công chứng/chứng thực; không lấy ý kiến các con cụ Thân về quyền thừa kế; tuyên hủy hợp đồng nhưng không xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường; và bác bỏ yêu cầu định giá lại đất của nguyên đơn khi giá định giá không sát giá thị trường.

5. Trường hợp nào giao dịch được xác lập do có nhầm lẫn nhưng vẫn không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo Điều 126 BLDS năm 2015? Theo khoản 2 Điều 126 BLDS năm 2015, giao dịch xác lập do nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp: (i) Mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được; hoặc (ii) Các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch vẫn đạt được. Ngoài ra, nếu bên bị nhầm lẫn chấp nhận giao dịch mà không nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu trong thời hiệu 02 năm thì giao dịch vẫn có giá trị pháp lý.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thủy Tiên đã giải quyết một cách có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn của chế định giao dịch dân sự vi phạm ý chí của chủ thể theo pháp luật dân sự Việt Nam. Nghiên cứu chỉ rõ các đặc trưng pháp lý, tiêu chí phân loại và phân định sâu sắc hậu quả pháp lý giữa các trường hợp vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối theo BLDS năm 2015. Thông qua các bản án thực tế tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, công trình nhận diện chuẩn xác những vướng mắc, sai sót trong áp dụng pháp luật tại cấp cơ sở, từ đó đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử mang tính khả thi cao.