Chương 1 MỘT SÓ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VẺ BẢO LÃNH THỰC HIỆN HỢP DONG TÍN DỤNG. Khái quát chung về bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm, đặc diém của bảo lãnh “Bao iãnïi” là một từ có nguôn géc Han Việt: “Bao la gánh vác lắp trách nhiệm”. Theo từ điển Tiếng Việt giải thích, “bao lãnh được hiểu là dam bảo người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện”1, Xuất phát từ những từ ngữ trên, chúng ta có thể hiểu bao lãnh la một cách thức ma các chủ thé lựa chon để dam bảo thực hiện nghĩa vụ thông qua cam kết của bên bảo lãnh, cam kết nay buộc bên bảo lãnh phải thực hiện nghia vụ và chịu trách nhiệm trước bên nhận bảo lãnh khi bên bao lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghia vu.
Theo Dai Từ điển tiếng Việt, bảo lãnh được hiểu theo hai nghĩa: Tint nhát, bảo lãnh là dam bảo người khác thực hiên một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện 77zý hai, việc dùng tư cách, uy tín của minh để dam bảo cho hanh động tư cách của người khác? Khái niệm nay có tính bao quát về hoạt động bảo lãnh, mà chưa thể hiện được những nét riêng biệt của bao lãnh Bao lãnh đã được xuất hiện từ thời La Mã. Theo luật La Mã, bảo lãnh la việc người bao lãnh dam bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh vi lý do nao đó ma không thực hiện?. Tư tưởng nay đã đặt nên móng cho các học thuyết về bảo lãnh sau nay về khái niệm bao lãnh trong pháp luật của các nước theo hệ thông Common Law va Civil Law sau nay. B6 Quốc triều hình luật - Bồ luật chính thông va quan trọng nhất của triều đại nhà Lê (1428 — 1788), tuy chưa có điều luật riêng quy định về bảo lãnh Ý Nguyễn Như Ý (1999), Tử điễn Tiing Việt, Neb Vấn hóa — Théng tin, HNội.
? Nguyễn Niut Ý (1998), Đại từ điễn Tiếng Việt, Nxb vin hóa - Thông tin, Hà Nội ` Nguyễn Ngọc Điện (2001), Binh hân khoa học về dim bio thưực hiển nghĩi vụ trang hút din sw Việt Nem, Ngõ trí, Thành pho Ho Chi Minh 7 nhưng nhà nước phong kiến đương thời đã thiết lập được những chế định bảo lãnh. Đền thời kỷ thực dân Pháp đô hô, pháp luật dan sự nước ta đã có bước tiễn rỡ rét đó là việc ban hành ra hai bộ luật riêng đáng chu ý: Bộ dân luật Bac kỳ (1931) va BG Hoang việt Trung ky (1936). Vê cơ ban hai bộ luật trên có sự vận dụng quy định của BLDS Napoleon về bao lãnh va déu xác định nghĩa vụ bảo lãnh mang tinh chất phụ, người bảo lãnh được hưởng quy chế dự bị, người bao lãnh thực hiện xong nghĩa vu sẽ trở thành người thê quyền, khi nhiêu người cùng bão lãnh thì nguyên tắc liên đới được ap dụng,. Trong luật hiện dai, bao lãnh được nhắc đến trong Pháp lệnh hợp đồng dan sự ngày 29/04/1991 tại Điều 40 và Điều 41.
Pháp lênh coi bảo lãnh coi bảo lãnh như một chế định đắc biệt cho người có quyền yêu câu trong hợp đồng dân sự có thêm một người có nghĩa vụ ngoài người có nghĩa vụ là bên giao kết hợp dong do*. BLDS 1995 va BLDS 2005 kề thừa tinh thân của Pháp lệnh hợp dong dân sự, ghi nhận rằng người bao lãnh phải dùng tai sản thuộc sở hữu của minh dé dam bảo thực hiện nghia vụ bảo lãnh, nghĩa 1a có bao lãnh bằng tai sản. Khai niệm bao lãnh được quy định tại Điều 335 BLDS 2015, "Báo iãnh là việc người thứ ba (sam đây gọi ia bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (san day goi ia bên nhận bdo lãnh) sẽ thực hiện ngiữa vu thay cho bên co nghfa vu (sau đập là bên được bảo lãnh), nêu kit đền thời han thực hiện nghĩa vụ mà bên được bdo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện Rhông đúng nghia vu". Theo quy định nay, khái niệm bảo lãnh một mặt dé cập tới hành vi bảo lãnh những mặt khác cũng tiếp cân bảo lãnh dưới dạng một giao dịch giữa các bên liên quan trong đó nhân mạnh tới yêu tô thỏa thuận, trên nên tang lý thuyết trải quyên, bảo lãnh được sắp xếp trong phân “zigjứa vụ và hợp đồng "5.
Như vậy, qua những đánh gia phân tích trên có thé hiểu khái niêm bảo lãnh như sau: “Người nhận bdo lãnh thực hiện thay nghia vu theo thỏa thuận * Nguyễn Hải Ngân (20905, Bio lãnh theo quy dinh của pháp Init din sư Việt Num hiện hành — Luận án tien sĩ hảthọc. * Tưởng Duy Lượng (2018), “Bản về nội hàn kháinúệm bão Linh tại Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015”, Tạp dui Kiểm sát,số 62018, Tr.36 § phải thực hiện nghia vụ đó đối với người có quyền nếu người có nghia vụ sau này không thực hiên hiền, thực hiện Không đúng hoặc thực hiện khong đầy an” Nam trong hệ thông các biện pháp bảo dam thực hiện nghĩa vu, bảo lãnh có các đặc tính chung của các biện pháp bao dam thực hiện nghĩa vu. Bên cạnh đó, bảo lãnh là một biện pháp bao đâm thực hiện nghia vụ nên nó cũng có những đặc thu riêng va phải tuân theo những đặc thù riêng thuộc về bảo lãnh. (i) Biền pháp bảo lãnh làm xuất hiện cini thé tin ba: Quan hệ bao lãnh luôn có sự xuât hiện của bên thứ ba, điêu do có nghĩa là chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh luôn có ba bên, đó là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
Ban chất của quan hệ bảo lãnh là môi quan hệ ba bên giữa người có quyền, người có nghĩa vụ và người thứ ba do đó chủ thể của các bên không chỉ là các bên trong môi quan hệ nghĩa vụ chính mà phải xem xét tới việc cam kết của người thử ba trên cơ sở đồng ý của người có quyên mới hình thành nên quan hệ bảo lãnh. Da số các biện pháp bảo dam trong BLDS 2015 thì bên bao dam thực hiện nghĩa vụ thường chính la người co nghĩa vụ, trong những trường hợp bên co nghĩa vụ không đủ điều kiên dé dam bảo nghĩa vụ thì một biện pháp bao dam được hình thành với sự có mặt của bên thứ ba: biện pháp bảo lãnh. Chính vì vậy, trong biên pháp bảo lãnh bên bao dam thực hiện nghĩa vụ bao giờ cũng là bên thứ ba (ii) Bao iãnh la biên pháp bain dain đối nhân: Bao lãnh là một biện pháp bảo dim mang tính chất đôi nhân bởi bảo lãnh chỉ là sự cam kết của người thứ ba với bên có quyền về việc “sé thue hiện nghữa vụ thay cho bên có ngiữa vụ, neu khi đến thời han thực hiện nghữa vụ ma bên duoc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiền không đúng ngiữa vu". Theo đó, tính chat đôi nhân của biên pháp bảo lãnh thé hiện ở việc khi bên có nghia vụ vi phạm nghia vu thì bên nhận bảo lãnh không được quyên xử lý tải sản của bên bao lãnh mà bên nhận bảo lãnh chỉ có quyển “yêu cẩn” bên bảo lãnh phải thực hiện phân nghĩa vụ mA người được bảo lãnh đã vi phạm va trong một thời hạn nhất định mà bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhân bảo lãnh thuc hiên 9 quyền khởi kiện yêu câu Tòa án buộc bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vu đó.
Ban chất của bảo lãnh không được xem là việc người bảo lãnh bằng danh dự, uy tín của mình, ma thực chất sé dùng tai san của mình để cam kết sé thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh nếu sau nay không thé thực hiên hoặc thực hiện không đây đủ (iii) Biên pháp bdo lãnh được áp dung khi có sự vi phạm ngiữa vụ: Dù các bên đã đặt ra môt biện pháp bão đâm bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không thé áp dụng biện pháp bao dam nêu người có nghĩa vụ chính đã thực hiện một cách đây đủ nghĩa vụ. Đôi với biên pháp bảo lãnh, nêu đến thời hạn ma bên có ngiữa vụ đã thực hiện đây đủ nghia vu đối với bên nhận bảo lãnh thi biện pháp bảo lãnh được coi là châm dứt, thể hiện đúng chức năng dự phòng của mét biên pháp bao đâm Ngược lại, nều bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đây đủ nghĩa vu thi bên nhận bao lãnh có quyên yêu câu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. (iv) Biền pháp bảo lãnh mang tinh chất bé sung cho nghĩa vụ chính: Biện pháp bao lãnh không tôn tại độc lập mà có sự phụ thuộc va gan liên với nghĩa vụ chính, sự phụ thuộc biểu hiện ở chỗ khi có quan hé nghĩa vụ chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một biên pháp bảo đảm Khi người bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vu cho người được bảo lãnh có hai mỗi quan hệ nghĩa vụ tổn tai: Nghĩa vu chính là nghĩa vụ hình thành giữa người nhân bảo lãnh va người được bảo lãnh, Nghia vu bao lãnh là nghĩa vụ giữa người bảo lãnh va người nhân bảo lãnh. Việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh tùy thuộc sự chi phối của nghĩa vụ chính một cách tương đôi.
Người bảo lãnh cam kết với tư cách là người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ. Nghia vụ bảo lãnh được xác định có sự lệ thuộc vao gia tri của nghĩa vụ được bảo lãnh vả pham vi ngliia vu bảo lãnh không thé rong hơn phạm vu nghĩa vụ được bảo lãnh. Khái niệm, đặc điêm của bảo lãnh thực hiện hợp đồng tin dung Khái niệm bảo lãnh thực hiện hop dong tin dung Tín dụng là một trong những chức năng cơ bản trong hoạt đông của ngân hàng và các tô chức tín dụng, được ra đời cùng với sự xuất hiện của tiên tệ. Tin dụng thực chất là quan hệ vay tiền tệ (thể hiện môi quan hệ giữa người cho vay và người vay) nhằm đáp ứng các yêu câu về vôn hoặc nhu câu khác của các chủ thể trong đời sông kinh tế - xã hôi.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm. vụ chuyển giao quyên sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhật định Người đi vay có nghĩa vu trả sô tiên hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến han trả nợ kèm theo một khoản lai. Về nguyên tắc, khách hang vay von của các ngân hàng, tô chức tin dung phải dam bảo việc sử dụng von vay đúng mục dich và hoan tra no góc cùng lãi von vay đúng thời hạn như đã thoả thuận trong hợp đông tin dụngŠ.