phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc cấu trúc thành 2 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát về những tƣ tƣởng cơ bản của Nho giáo và tác giả, tác phẩm Hồng Đức quốc âm thi tập Chƣơng 2: Dấu ấn Nho giáo trong Hồng Đức quốc âm thi tập 8 NỘI DUNG Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG TƢ TƢỞNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO VÀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 1. Những tƣ tƣởng cơ bản của Nho giáo và ảnh hƣởng đến văn học Việt Nam Cơ sở của Nho giáo bắt nguồn từ Trung Quốc, đƣợc hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu xã hội loạn lạc, Khổng Tử ( sinh năm 551 trƣớc công nguyên ) phát triển tƣ tƣởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tƣ tƣởng đó.
Chính vì thế mà ngƣời đời sau gọi ông là ngƣời sáng lập ra Nho giáo. Thông qua những ghi chép của học trò Khổng Tử và sự hệ thống lại của các nhà nghiên cứu, ngƣời đời sau đã nắm bắt đƣợc một cách gián tiếp những tƣ tƣởng Nho giáo của Khổng Tử. Nho giáo phát triển qua ba thời kì: Nho giáo nguyên thủy, Hán Nho, Tống Nho. Những tƣ tƣởng của Nho giáo đƣợc thể hiện trong hai bộ sách kinh điển: Tứ Thƣ và Ngũ Kinh.
Hệ thống kinh điển đó hầu nhƣ viết về chính trị, xã hội, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hƣớng biện luận về xã hội, về chính trị, đạo đức là những tƣởng cốt lõi của Nho giáo. Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy đƣợc sức mạnh và vai trò to lớn của Nho giáo đối với xã hội. Tƣ tƣởng cơ bản của Nho giáo nằm ở hai nội dung là tu thân và hành đạo.
Trƣớc hết, về vấn đề tu thân, một loạt những tƣ tƣởng tam cƣơng, ngũ thƣờng, tam tòng, tứ đức,… đƣợc Khổng Tử đặt ra để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Tam cƣơng và ngũ thƣờng là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng xã hội an bình chỉ khi mọi ngƣời giữ đƣợc tam cƣơng, ngũ thƣờng, tam tòng, tứ đức.
Theo Khổng Tử, đạo là năm mối quan 9 hệ xã hội cơ bản của con ngƣời đƣợc gọi là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn – bè. Trong đó, ba mối quan hệ cơ bản nhất, Đổng Trọng Thƣ gọi là tam cƣơng – ba sợi dây ràng buộc con ngƣời từ trong quan hệ gia đình đến ngoài xã hội. Tam cƣơng: tam là ba, cƣơng là giềng mối. Tam cƣơng là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này đƣợc vua chúa thiết lập dựa trên một loạt nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ vô cùng chặt chẽ nghiêm ngặt. Thứ nhất đối với mối quan hệ quân thần, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là dù vua ra lệnh cho bề dƣới phải chết thì bề dƣới cũng phải chết để làm đúng theo lệnh vua, nếu bề dƣới không phục tùng mệnh lệnh tức là không trung thành với vua. Trong mối quan hệ này, vua phán xét thƣởng phạt luôn phân minh còn bề dƣới thì nhất mực trung thành một lòng một dạ. Bên cạnh đó là mối quan hệ phụ tử, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” nghĩa là cha khiến con chết, con không chết là con bất hiếu.
Nếu nhƣ lệnh của vua đối với bề tôi đặt chữ “trung” lên hàng đầu, thì giữa cha con coi trọng chữ “hiếu” hơn tất cả. Mối quan hệ cuối cùng trong tƣ tƣởng “tam cƣơng” là phu phụ, “phu xƣớng phụ tùy” đồng nghĩa với việc chồng nói, vợ phải theo. Tƣ tƣởng “tam cƣơng” chính là cƣơng lĩnh đạo đức, là chuẩn mực của các mối quan hệ xã hội mà Nho giáo đề ra. Đức chính là phẩm chất quan trọng nhất mà con ngƣời cần phải có để thực hiện tốt các mối quan hệ cơ bản trên.
Gắn liền với tam cƣơng là ngũ thƣờng. Ngũ là năm, thƣờng là hằng có. Ngũ thƣờng là năm điều phải hằng có khi sống trong đời của một ngƣời quân tử: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Nhân là tấm lòng yêu thƣơng muôn loài trên cõi đời này.
Lễ là sự kính trọng, lịch sự trong cách cƣ xử với mọi ngƣời. Nghĩa là đối xử với những ngƣời xung quanh bình đẳng, công minh theo đúng lẽ phải. Trí là sự hiểu biết, hanh thông lí lẽ, biết phân biệt thiện ác, tốt xấu, đúng sai. 10 Còn tín là luôn đáng tin cậy trong mọi lời nói, hành động.
Những phạm trù này đều là chuẩn mực đạo đức làm ngƣời, là thƣớc đo đánh giá phẩm hạnh của con ngƣời. Nếu nhƣ Nho giáo đề ra những nguyên tắc nhất định cho ngƣời quân tử thì bên cạnh đó, Nho giáo cũng không quên đặt ra một loạt những tƣ tƣởng đạo đức khắt khe và nghiêm ngặt dành cho chuẩn mực đạo đức của một ngƣời phụ nữ trong xã hội bấy giờ, đó là tam tòng và tứ đức. Tam là ba, tòng là theo. Tam tòng là ba điều ngƣời phụ nữ phải theo gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.
Tại gia tòng phụ là ngƣời phụ nữ khi còn ở nhà thì theo cha. Xuất giá tòng phu là lúc lấy chồng phải theo chồng. Phu tử tòng tử là chồng qua đời thì phải theo con. Từ lẽ ấy, Nho giáo quy định cả cuộc đời bất kì một ngƣời phụ nữ nào đều đứng sau và phụ thuộc vào ngƣời đàn ông là cha, chồng, con.
Bên cạnh đó, họ còn phải tuân theo tƣ tƣởng tứ đức. Tứ là bốn, đức là đức tính tốt. Tứ đức là bốn đức tính quý báu ngƣời phụ nữ phải có là: công – dung – ngôn – hạnh. Công là khéo léo trong việc làm.
Dung là dung dị, nhã nhặn trong sắc diện. Ngôn là tế nhị, mềm mại trong lời nói. Còn hạnh là đức hạnh, phẩm hạnh và những tính nết tốt. Tất cả là khuôn vàng, thƣớc ngọc để đánh giá phẩm hạnh của ngƣời phụ nữ.
Sau khi tu thân, bậc quân tử phải hành đạo, tức là phải ra làm quan, góp sức cai quản chính trị xã hội. Cụ thể của việc hành đạo là “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nghĩa là phải thực hiện tốt từ những việc nhỏ trong gia đình cho tới những việc lớn ngoài thiên hạ. Hai phƣơng châm đƣợc coi là kim chỉ nam chi phối mọi hành động của ngƣời quân tử trong việc cai trị là nhân trị và chính danh.
Trƣớc hết, về nhân trị, nhân là tình ngƣời, nhân trị là cai trị bằng tình ngƣời, yêu thƣơng con ngƣời. Quan điểm này của Nho giáo đồng nhất và phù hợp với lối sống nhân đạo tình nghĩa của dân tộc Việt Nam. Trong luân lý đạo đức, nhân đƣợc coi là điều cao nhất. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử 11 nói: “Ngƣời không có nhân thì lễ mà làm gì? Ngƣời không có nhân thì nhạc mà làm gì?”.
Cùng với nhân trị , chính danh là mỗi ngƣời phải làm đúng chức phận của mình, mỗi sự vật phải đƣợc gọi đúng tên của nó. Trong sách Luận ngữ có dẫn: “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận thì tất việc không thành” và cũng chỉ rõ rằng: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” nghĩa là “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”. Trong kinh sách của Nho giáo, đó chính là những điều quan trọng nhất. Tất cả đƣợc tóm gọn lại trong chín chữ: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nó là cƣơng lĩnh đạo đức để phân biệt ngƣời quân tử và kẻ tiểu nhân trong xã hội.
Có thể nói tƣ tƣởng của Nho giáo đã đạt tới mức độ sâu sắc, trở thành thƣớc đo đánh giá phẩm hạnh con ngƣời. “Nho giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam đồng thời với Phật giáo và Đạo giáo (cả tƣ tƣởng Lão – Trang) nhƣng phải đến hàng chục thế kỉ sau, đến cuối đời Trần nó mới có sức ảnh hƣởng lớn” [5, tr. Sau những chiến thắng lớn quân xâm lƣợc, dân tộc ta giành độc lập và bắt đầu xây dựng nhà nƣớc phong kiến tự chủ. Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, suốt hai triều Lê – Nguyễn, Nho giáo đã thống lĩnh tƣ tƣởng văn hóa Việt Nam.
Nho giáo du nhập vào Việt Nam, nƣớc ta uốn mình theo tƣ tƣởng Nho giáo, kế thừa và sáng tạo chứ không học thuộc lòng sách Nho của Khổng Tử. Nho giáo không ngừng củng cố và phát triển cho đến giữa thế kỷ XIX, yêu cầu tất yếu này dần nhƣ bị suy sụp và dần nhạt phai khi sự du nhập mạnh mẽ của phƣơng Tây, của thực dân Pháp. Tuy nhiên Nho giáo vẫn là công cụ ảnh hƣởng đối với những nhà yêu nƣớc cách mạng nhƣ Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học hay Hồ Chí Minh,… Nho giáo có ảnh hƣởng rất sâu đậm và rõ rệt tới văn hóa xã hội Việt Nam mà chủ yếu là in dấu rõ nét trong văn học. Trên quê hƣơng Việt Nam, Nho giáo đã kết duyên với văn học trung cận đại, góp phần tạo nên giá trị đạo đức vốn là nét nổi trội của nền văn học này.
Từ kim cổ đông tây, thật hiếm có 12 học thuyết nào coi trong vấn đề tu thân và vấn đề đạo đức con ngƣời nhƣ Nho giáo. Nho giáo có bao nhiêu danh ngôn để đời nhƣ: "Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã", "Sát thân thủ nghĩa", "Xá thân thành nhân", "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất", "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", "Kỷ sở bất dục, vật thi ƣ nhân", "Thế thiên hành đạo", "Quân tử thận kỳ độc", "Ngô nhật tam tỉnh ngô thân", "Tiên thiên hạ ƣu, hậu thiên hạ lạc"… Nho giáo ảnh hƣởng tới đối tƣợng sáng tác của các tác giả thời bấy giờ. Tƣ tƣởng “trọng nam khinh nữ”, phụ nữ phải “tam tòng tứ đức” đã thổi vào nƣớc ta không khí hệ tƣ tƣởng bất bình đẳng. Các tác giả lớn có tài đều là nam nhân, mãi sau mới xuất hiện một số nhà thơ nữ kiệt xuất nhƣ Hồ Xuân Hƣơng, Bà Huyện Thanh Quan… Nho giáo còn in dấu ấn sâu đậm tới nội dung của các tác phẩm văn học, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tƣ tƣởng của các tác giả lớn thời bấy giờ.