Khóa luận tốt nghiệp: nhân vật bình phàm trong truyền kì mạn lục của nguyễn dữ

Khóa luận tốt nghiệp Khóa luận nhân vật bình phàm trong truyền kì mạn lục của nguyễn dữ với kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng tr

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

57
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Nguyễn Dữ và Tác Phẩm Truyền Kì Mạn Lục

Nguyễn Dữ được xem là "cha đẻ của loại hình truyền kì Việt Nam" với tác phẩm duy nhất là Truyền kì mạn lục. Tác phẩm này đã nâng thể loại truyền kì lên một tầm cao mới trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam. Với nội dung tư tưởng sâu sắc và hình thức thể hiện độc đáo, Truyền kì mạn lục đã trở thành kiệt tác văn học dân tộc. Các tác phẩm trong bộ này được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông, như "Chuyện người con gái Nam Xương" (lớp 9) và "Chuyện chức phán sự đền Tản Viên" (lớp 10), chứng tỏ vị trí quan trọng của Nguyễn Dữ đối với nền văn học Việt Nam.

1.1. Tiểu sử tác giả Nguyễn Dữ

Nguyễn Dữ là nhà văn nổi bật của thời kì trung đại Việt Nam. Dù chỉ để lại một tác phẩm duy nhất, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn học dân tộc. Nguyễn Dữ thể hiện tài năng sáng tạo xuất sắc qua cách xây dựng nhân vật bình phàm độc đáo và sinh động.

1.2. Giá trị và vị trí của Truyền Kì Mạn Lục

Truyền kì mạn lục không chỉ là tập hợp những câu chuyện thú vị mà còn là kho tàng kiến thức về cuộc sống xã hội. Tác phẩm đã được các nhà nghiên cứu và phê bình văn học công nhận là một tác phẩm đỉnh cao. Nghệ thuật xây dựng nhân vậtphân tích tâm lí trong tác phẩm này là những điểm nổi bật đáng chú ý.

II. Khái Niệm Nhân Vật Bình Phàm Trong Văn Học

Nhân vật bình phàm là những con người bình thường trong cuộc sống, không có tước vị cao hoặc ngoại lực siêu nhiên. Trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, nhân vật bình phàm đóng vai trò cực kỳ quan trọng, họ là cầu nối giữa thế giới thực và thế giới kỳ ảo. Đây là một trong những đặc điểm nổi bật phân biệt tác phẩm này với các truyện kì khác. Nhân vật bình phàm giúp độc giả dễ dàng đồng cảm và hiểu rõ hơn về ý nghĩa đạo lý sâu xa mà tác giả muốn truyền tải. Sự xuất hiện của những nhân vật bình phàm này tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ và thành công của tác phẩm.

2.1. Định nghĩa nhân vật bình phàm

Nhân vật bình phàm là những người thường dân, có thân phận xã hội thấp, không có quyền lực hay địa vị cao trong xã hội. Họ là những người nông dân, thương nhân, công nhân hay các công chức cấp dưới. Nhân vật bình phàm thường gặp phải những biến cố kỳ lạ, điều kỳ diệu mà những truyện kì thường khai thác.

2.2. Vị trí của nhân vật bình phàm trong văn học trung đại

Trong văn học trung đại Việt Nam, nhân vật bình phàm là cầu nối giữa thế giới thường nhật và thế giới siêu nhiên. Sự hiện diện của họ giúp tác phẩm trở nên gần gũi, dễ tiếp cận hơn với độc giả. Nhân vật bình phàm không chỉ là nhân vật khái quát mà còn mang những nét tính cách riêng, những cảm xúc sâu sắc.

III. Phân Loại và Đặc Điểm Nhân Vật Bình Phàm

Trong Truyền kì mạn lục, nhân vật bình phàm có thể được chia thành nhiều loại khác nhau dựa vào địa vị xã hội, tư tưởng và số phận. Một số là những người phụ nữ với hoàn cảnh bi thương, những người đàn ông tìm kiếm công danh hoặc những công chức liêm khiết. Đặc điểm của nhân vật bình phàm trong tác phẩm là họ thường mang những tính cách cao đẹp, giàu lòng nhân ái hoặc những khiếm khuyết độc đáo. Địa vị xã hội của họ khiến họ bị áp đặc hoặc gặp những điều kỳ diệu. Tư tưởng và lối sống của nhân vật bình phàm phản ánh những giá trị đạo đức truyền thống của xã hội Việt Nam.

3.1. Phân loại theo địa vị xã hội

Nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục gồm nông dân, thương nhân, công nhân, và những công chức cấp thấp. Mỗi nhóm này có những đặc điểm riêng biệt và đối mặt với những thách thức khác nhau. Phân loại nhân vật bình phàm theo địa vị giúp ta hiểu rõ hơn về cấu trúc xã hội và các mâu thuẫn trong thời kỳ ấy.

3.2. Tư tưởng và số phận của nhân vật bình phàm

Tư tưởng của nhân vật bình phàm thường phản ánh những giá trị nhân bản, lòng từ bi và công chính. Số phận của nhân vật bình phàm trong tác phẩm thường mang tính bi kịch hoặc giáo dục, qua đó Nguyễn Dữ truyền tải những bài học đạo lý sâu sắc cho độc giả.

IV. Phương Thức Nghệ Thuật Thể Hiện Nhân Vật Bình Phàm

Nguyễn Dữ sử dụng nhiều phương thức nghệ thuật để thể hiện nhân vật bình phàm một cách sinh động và ấn tượng. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình của nhân vật được thực hiện thông qua những chi tiết cụ thể, chân thực. Motip phổ biến như cuộc gặp gỡ kỳ lạ, phép lạ thần bí hay những thử thách tâm linh thường xuất hiện quanh nhân vật bình phàm. Không gian và thời gian trong tác phẩm được xây dựng để tăng thêm vẻ thần bí, đồng thời làm bộc lộ tâm lí và tính cách của nhân vật bình phàm. Những kỹ thuật tường thuật của Nguyễn Dữ khiến những câu chuyện trở nên vừa hấp dẫn vừa mang tính sâu sắc về mặt tư tưởng.

4.1. Nghệ thuật miêu tả và刻画 nhân vật

Nghệ thuật miêu tả ngoại hình của Nguyễn Dữ rất tinh tế, sử dụng những chi tiết nhỏ để phản ánh tâm trạng và tính cách của nhân vật bình phàm. Kỹ thuật miêu tả không chỉ dừng ở bề ngoài mà còn đi sâu vào những cảm xúc, tâm tư bên trong con người.

4.2. Không gian thời gian và motip trong tác phẩm

Không gian và thời gian trong Truyền kì mạn lục được xây dựng một cách tinh tế, từng motip phổ biến như kỳ ngộ, phép lạ đều có ý nghĩa sâu sắc. Phương thức tường thuật của tác giả tạo nên một không gian kỳ ảo nhưng đầy tính hiện thực, giúp độc giả cảm nhận được những giá trị nhân bản xuyên suốt tác phẩm.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Nguyễn Dữ và Truyền kì mạn lục 1. Tác giả Nguyễn Dữ Những tài liệu ghi chép về tác giả Nguyễn Dữ hiện còn rất sơ lược.

Nguyễn Dữ hiện chưa rõ năm sinh, năm mất. Ông quê ở xã Đường Lâm, huyện Gia Phúc, thuộc Hồng Châu xưa (nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Nguyễn Dữ là con trai cả của Nguyễn Tường Phiêu, tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiêu Hồng Đức năm thứ 27 (1486), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Từ đó có thể suy đoán, Nguyễn Dữ có khả năng sống vào cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI.

Từ nhỏ, Nguyễn Dữ đã chăm học, đọc rộng nhớ nhiều, từng ôm ấp lí tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Có thể Nguyễn Dữ đã từng theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Bởi theo Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề), Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau khi đỗ hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần và từng giữ chức tri huyện Thanh Tuyền.

Nguyễn Dữ ra làm quan được một năm thì cáo quan, lấy lí do phụng dưỡng mẹ già cho tròn đạo hiếu, từ đó ông không bước đến thị thành. Dù về ẩn dật nhưng Nguyễn Dữ không từ bỏ hoài bão giúp đời. Nguyễn Dữ đã viết Truyền kì mạn lục để kí thác những tâm sự của mình, bày tỏ thái độ trước hiện thực xã hội đương thời. Qua tác phẩm Truyền kì mạn lục, cho thấy ông là một người ưu thời mẫn thế, có tinh thần dân tộc và tư tưởng thân dân sâu sắc.

Tác phẩm “Truyền kì mạn lục” Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện chia thành 4 tập, mỗi tập 5 truyện. Nguyễn Dữ viết Truyền kì mạn lục bằng văn xuôi và xen lẫn một số văn biền 6 ngẫu, thơ ca. Nguyễn Dữ và những người có cùng chí hướng với ông đã viết những lời bình luận ở cuối các truyện. Ngoài truyện số 19 (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Thoa), các truyện khác đều có lời bình.

Những lời bình trong Truyền kì mạn lục không bàn về hình thức nghệ thuật mà chủ yếu là bàn về giá trị nội dung, ý nghĩa của truyện. Khi đặt tên nhan đề tác phẩm Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ mong muốn biểu lộ thái độ khiêm tốn và nghiêm túc của người cầm bút. Song, cũng bởi nhan đề Truyền kì mạn lục mà đã gây ra khá nhiều tranh cãi về tên tác phẩm này. “Mạn lục” là một thể loại sáng tác văn học xuất hiện ở Trung Quốc khá sớm [14, 210].

Nhưng khi du nhập vào Việt Nam, hai chữ “mạn lục” đã bị hiểu lạc đi so với nghĩa gốc của nó. Điều đó dẫn đến cách giải thích sai “sao chép tản mạn các truyện lạ” [21, 202], về sau mới được giải thích lại là “ghi chép tản mạn các truyện truyền kì” [15, 1124]. Trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Đăng Na đã nêu ra: “Các cách giải thích chữ “mạn lục” là ghi chép “tản mạn” có hai điều bất ổn. Thứ nhất, “Truyền kì mạn lục” là tác phẩm văn học thuộc loại hình truyện ngắn trung đại.

Do đó, không thể coi tác phẩm là “ghi chép”. Thứ hai, tác phẩm của Nguyễn Dữ không hề tản mạn, dù hai chữ “tản mạn” được dùng theo kiểu tu từ nói khiêm. Thực ra, “mạn” là tùy ý, không câu thúc. Bởi vậy, trong Hán ngữ có hàng loạt từ chỉ thể loại tác phẩm có thành tố “mạn” như: mạn họa, mạn thư, mạn bút, mạn tả…và tất cả chúng đều dùng để chỉ loại tác phẩm” [11, 212].

Xét về chữ “truyền kì”, bản thân nó là một thể tài của truyện ngắn trung đại, tức là trong truyện ngắn đó có các yếu tố: nhân vật, tình tiết, kết cấu…là những yếu tố lạ kì. Trong cụm từ “Truyền kì mạn lục”, từ “truyền kì” giữ vai trò làm định ngữ, nó “chỉ tính chất của thể “mạn lục”, đó là một thể tự sự viết tự do, tùy hứng theo ý đồ sáng tác của tác giả, không bị câu thúc bởi bất cứ lí do gì cả” [11, 212]. 7 Nhan đề Truyền kì mạn lục đã nêu ra được mục đích sáng tác của Nguyễn Dữ. Ông muốn phân bua với độc giả rằng: trước tác của mình không phải là cuốn sách có tính chất trang nghiêm như liệt truyện, và cho đây là thứ “ngoại thư” bao gồm những truyện lạ “truyền kì” vẫn được lưu truyền.

Công việc của Nguyễn Dữ là ghi chép lại một cách rộng rãi “mạn lục” những sự việc ấy. Để phục vụ mục đích sáng tác của mình, Nguyễn Dữ sử dụng yếu tố “lạ - kì ảo”. Ông đã mượn chuyện ma quái để nói việc thực, dựa vào tích cũ để viết nên những truyện mới. Tác phẩm tuy có vẻ “truyền kì” xảy ra từ nhiều năm về trước, nhưng thực chất tác giả muốn phản ánh những hiện thực của xã hội đương thời.

Nguyễn Dữ đã lấy chuyện xưa để nói về chuyện ngày nay. Qua tác phẩm văn học của mình, nhà văn bộc lộ quan điểm về những vấn đề lớn của con người, xã hội. Tác phẩm đã tái hiện bức tranh cuộc sống con người với những số phận riêng ở thế giới trần gian, tiên cảnh và âm phủ. Bên cạnh đó, Truyền kì mạn lục còn thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi của những kiếp người bé nhỏ trong xã hội.

Nguyễn Dữ đã lên án mạnh mẽ tầng lớp vua quan nhũng nhiễu nhân dân, làm cho nhân dân cơ cực. Bằng ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công giữa hai yếu tố “thực” và “kì”. Nhà văn sử dụng yếu tố “thực” như một chất liệu nghệ thuật, giúp tác giả phản ánh hiện thực sâu sắc và toàn diện hơn. Bên cạnh đó, Nguyễn Dữ thành công trong việc xây dựng nhân vật với hình tượng nhân vật có tính cách, khí phách và tính luận thuyết, làm cho các câu chuyện giàu tính triết lí và quan điểm của tác giả được thể hiện sáng rõ.

Tài năng của ông đã được bộc lộ khi ông khéo léo kết hợp sáng tạo ba lối văn: tản văn, biền văn, vận văn. Khái niệm nhân vật bình phàm 1. Khái niệm nhân vật Trong các tác phẩm thuộc thể loại tự sự, nhân vật có vai trò quan trọng và không thể vắng mặt. Nhân vật chính là một mắt xích quan trọng để nhà văn 8 xâu chuỗi các biến cố, sự kiện, giúp nhà văn bày tỏ quan điểm, tư tưởng của mình.

Do đó, xây dựng hình tượng nhân vật trở thành một công việc quan trọng hàng đầu của người nghệ sĩ. Đã có nhiều khái niệm khác nhau về nhân vật văn học. Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học có nêu khái niệm về nhân vật: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống con người” [1, 241].

Trong Từ điển thuật ngữ văn học (nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) định nghĩa nhân vật văn học là “con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học” [5, 235]. Tác giả Hà Minh Đức trong cuốn Lí luận văn học cho rằng “Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…Và cần chú ý thêm một điều: thực ra, khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người” [4, 126]. Dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về nhân vật, nhưng các định nghĩa đều có một thống nhất chung: nhân vật là đối tượng mà văn học đề cập và miêu tả. Nhân vật có thể có tên riêng: Chí Phèo (Chí Phèo- Nam Cao); Chiến, Việt (Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi)…Nhân vật cũng có thể không có tên riêng: “viên quản ngục” (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân), “thị” (Vợ 9 nhặt - Kim Lân)…Nhân vật có thể là các sự vật, loài vật ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người: Dế Mèn (Dế Mèn phiêu lưu kì - Tô Hoài).

Khái niệm nhân vật văn học nhiều khi được sử dụng như một ẩn dụ. Nhân vật đôi khi không phải là con người, sự vật cụ thể, mà là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được tác giả thể hiện nổi bật trong tác phẩm. Đó là “nhân dân” trong Chiến tranh và hòa bình, “đồng tiền” trong ƠgiêriGrăngđe của Banzac… Hình tượng nhân vật được nhà văn sáng tạo đã thể hiện những nhận thức của tác giả về một cá nhân, một loại người hay một vấn đề nào đó của xã hội. Chính vì vậy,“nhân vật là yếu tố quan trọng nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng của chủ đề và đến lượt mình, nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa.

Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật tác phẩm văn học” [2, 186]. Nhân vật văn học được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới mỗi góc độ, nó được chia thành nhiều loại nhân vật. Xem xét dưới góc độ nội dung tư tưởng có nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.

Ở góc độ kết cấu và cốt truyện: nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm. Như vậy, khi nghiên cứu và tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm nào đó, ta không thể bỏ qua yếu tố nhân vật. Nhân vật là một công cụ đắc lực giúp tác giả tái hiện hiện thực đời sống, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình về vấn đề được nêu ra. Đồng thời, nhân vật văn học làm rút ngắn khoảng cách giữa độc giả với tác giả.

Khái niệm nhân vật bình phàm Theo Từ điển Hán Việt: “Bình: ngay thẳng, bằng phẳng không chênh lệch, bằng đều nhau” [10, 56]. “Phàm: tầm thường, cõi phàm, cõi tục” [10, 544]. 10 Bình phàm có nghĩa là bình thường, tầm thường, tầm phào. Nhân vật bình phàm là những con người tự nhiên, không bị tác giả lí tưởng hóa như nhân vật kiểu thánh nhân quân tử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ