Khóa luận tốt nghiệp: đô thị đương đại trong tiểu thuyết cửa hiệu giặt là

Khóa luận chuyên ngành đa ngành nghiên cứu Khóa luận đô thị đương đại trong tiểu thuyết cửa hiệu giặt là của đỗ bích thúy phân tích sâu sắc, đề xuất

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2018

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về đô thị đương đại trong văn học Việt Nam

Đô thị đương đại là một chủ đề quan trọng trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1986. Với chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cuộc sống xã hội. Tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là của Đỗ Bích Thúy là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh hiện thực này. Tác phẩm không chỉ khắc họa bức tranh cuộc sống đô thị Hà Nội mà còn đẩy sâu khám phá tâm lý con người trong bối cảnh văn minh hiện đại. Sự kết hợp giữa nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật độc đáo giúp tác phẩm trở thành một công trình nghiên cứu giá trị về đô thị đương đại trong văn học Việt Nam.

1.1. Định nghĩa đô thị đương đại

Đô thị đương đại không chỉ là không gian địa lý mà còn là một hệ thống giá trị, lối sống phức tạp. Nó bao gồm sự phát triển kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội, và sự tác động của văn minh phương Tây vào truyền thống Việt Nam. Khái niệm này phản ánh quá trình chuyển đổi mô hình phát triển sau Đại hội VI của Đảng.

1.2. Vị trí của tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là

Tiểu thuyết này đại diện cho dòng văn học đương đại tập trung vào phản ánh cuộc sống thành phố. Tác giả Đỗ Bích Thúy, mặc dù nổi tiếng với các tác phẩm về vùng cao nguyên đá Hà Giang, lại chuyển hướng để khám phá Hà Nội đương đại qua những hoài niệm và cảm xúc sâu sắc.

II. Bức tranh hiện thực cuộc sống đô thị trong tiểu thuyết

Cửa hiệu giặt là vẽ nên một bức tranh hiện thực xã hội độc đáo của Hà Nội đương đại. Tác phẩm phản ánh những mặt tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hóa. Một mặt là sự phát triển văn minh hiện đại mang lại cơ hội, thay đổi vận mệnh con người. Mặt khác, cuộc sống đô thị cũng xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội, cám dỗ vật chất, làm con người mất phương hướng. Tác giả không chỉ mô tả bối cảnh thành phố mà còn khám phá sâu những biến đổi môi trường sinh tháisự thay đổi trong đời sống gia đình truyền thống.

2.1. Hiện thực xã hội văn minh hiện đại

Đô thị đương đại trong tiểu thuyết được thể hiện qua sự phát triển kinh tế, công nghiệp dịch vụ, và thay đổi cơ cấu kinh tế. Những nhân vật trong tác phẩm sống trong bối cảnh Hà Nội phồn hoa, nơi các giá trị vật chất được ưu tiên hơn những giá trị tinh thần truyền thống.

2.2. Con người đô thị và những mâu thuẫn nội tâm

Con người đô thị trong Cửa hiệu giặt là được khắc họa với nhiều mâu thuẫn: sùng bái vật chất nhưng cô đơn, sống ích kỉ nhưng tìm kiếm tình cảm. Tác giả thể hiện tâm lý con người hiện đại qua những xung đột giữa truyền thống và hiện đại, giữa cá nhân và cộng đồng.

III. Hình thức nghệ thuật trong phản ánh đô thị đương đại

Hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là rất đặc sắc trong việc thể hiện đô thị đương đại. Tác giả sử dụng điểm nhìn trần thuật độc đáo, kết hợp ngôn ngữ người kể chuyệnngôn ngữ nhân vật một cách khéo léo. Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh được xen lẫn với giọng điệu cảm thương, xót xa tạo nên hiệu ứng thẩm mỹ đặc biệt. Cách xử lý này không chỉ làm tác phẩm sinh động mà còn giúp phản ánh sâu sắc những mâu thuẫn của cuộc sống đô thị, từ những chi tiết nhỏ bé trong cửa hiệu giặt là đến những vấn đề lớn lao của xã hội.

3.1. Kỹ thuật trần thuật và ngôn ngữ

Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết cho phép tác giả phản ánh đa chiều về cuộc sống đô thị. Ngôn ngữ người kể chuyện vừa gần gũi vừa có tính phân tích, trong khi ngôn ngữ nhân vật vừa thể hiện tính cách con người đô thị vừa phản ánh xung đột tâm lý của họ.

3.2. Giọng điệu và hiệu ứng thẩm mỹ

Giọng điệu hài hước trong tác phẩm phản ánh những thất thường của cuộc sống đô thị một cách nhẹ nhàng, trong khi giọng điệu cảm thương thể hiện những nỗi đau của con người trong quá trình đô thị hóa. Sự kết hợp này tạo nên tác phẩm văn học vừa có giá trị phê phán xã hội vừa có sức cảm động mạnh mẽ.

IV. Ý nghĩa nghiên cứu đô thị đương đại qua tiểu thuyết

Nghiên cứu đô thị đương đại qua tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là mang nhiều ý nghĩa quan trọng đối với văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là một công trình văn học mà còn là tài liệu xã hội học giúp hiểu rõ hơn về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam. Nó ghi lại những đổi thay của thời đại, những mâu thuẫn trong quá trình hiện đại hóa, và sự tác động của văn minh hiện đại lên truyền thống văn hóa. Thông qua tác phẩm này, độc giả có thể hiểu sâu hơn về con người đô thị, những giá trị đang thay đổi, và những câu hỏi tồn tại của xã hội Việt Nam đương đại.

4.1. Giá trị phê phán xã hội

Tiểu thuyết có giá trị phê phán những mặt tiêu cực của đô thị đương đại như sùng bái vật chất, ích kỉ, cô đơn tâm lý. Tác giả ghi nhận những tệ nạn kèm theo quá trình đô thị hóavăn học Việt Nam cần chú ý.

4.2. Giá trị lịch sử văn học

Tác phẩm đánh dấu sự đổi mới trong cách tiếp cận đề tài đô thị của văn học Việt Nam. Nó thể hiện tinh thần đổi mới tư duyNghị quyết 05 của Bộ Chính trị đã khuyến khích, mở ra thời kỳ mới của sinh hoạt văn học nước nhà.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Giới thuyết khái niệm 1. Đề tài Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, đề tài “là khái niệm chỉ các loại hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [9, tr110].

Bất kì tác phẩm văn học nào cũng có một đề tài nhất định. Phạm vi cuộc sống trong tác phẩm vô cùng phong phú, vì thế đề tài cũng hết sức phong phú, đa dạng. Đề tài là một phương diện khách quan trong nội dung tác phẩm. Nó là sự nhận thức, cảm nhận của nhà văn về phạm vi hiện thực cụ thể mà nhà văn lựa chọn và phản ánh.

Giới hạn phạm vi đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau. Đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát chủ đề, xây dựng hình tượng nghệ thuật. Mỗi nhà văn thường có “vùng đất” quen thuộc với kinh nghiệm, vốn sống, hứng thú, cá tính của mình. Việc các định đề tài cho phép liên hệ nội dung tác phẩm với một mảnh đất nhất định của hiện thực.

Đề tài không chỉ được khơi gợi, quy định bởi cuộc sống hiện thực mà còn được xác lập bởi lập trường tư tưởng, thẩm mĩ, cách nhìn, quan niệm nghệ thuật, tài năng sáng tạo; phụ thuộc vào những yêu cầu của thời đại và hoàn cảnh sáng tác riêng của mỗi nhà văn. Đô thị Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “đô thị là không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [11, tr836]. 8 Đô thị được hình thành từ lịch sử phát triển kinh tế xã hội, do sự phân công lao động xã hội mà chủ yếu là thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động trong nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp. Trong quá trình vận động, do kinh tế phát triển, con người có nhu cầu ngày càng cao hơn, một bộ phận dân cư lao động tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để hoạt động thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, quản lí xã hội,… những người này và gia đình của họ tập trung lại, sinh sống tại các địa điểm phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ có đặc điểm chủ yếu là lao động phi nông nghiệp.

Đó là điểm dân cư đô thị đầu tiên. Những đô thị đầu tiên trên thế giới đã được hình thành cách đây hàng nghìn năm, bắt đầu từ những thành phố cổ Isarel hay Hy Lạp. Ở Việt Nam, lịch sử phát triển đô thị có từ rất lâu. Các đô thị được hình thành sớm cùng với sự hình thành của các quốc gia cổ đại như Văn Lang, Âu Lạc.

Đến thời kỳ phong kiến, các đô thị ở Việt Nam đã được hình thành và phát triển từ các thành cổ hay từ những điểm buôn bán lớn. Thời kỳ này đô thị còn ít ỏi, quy mô nhỏ bé, chủ yếu là các đô thị mang chức năng chính trị, quân sự, bên cạnh đó tập trung dân cư tiểu thủ công nghiệp, các thương gia. Có thể kể đến một số đô thị thời kỳ bấy giờ như: Thăng Long, Vân Đồn – Quảng Ninh, Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam), Gia Định… Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã áp dụng chính sách chia để trị nên tổ chức mạng lưới đô thị hành chính cùng với các đồn trú rải đều trên khắp lãnh thổ nước ta. Ngoài ra, để thực hiện chính sách vơ vét tài nguyên, bóc lột thuộc địa, chúng đã xây dựng các nhà máy và khu công nghiệp.

Điều này đã dẫn đến sự hình thành của các đô thị với các thị dân hoạt động công nghiệp như: Hòn Gai, Cẩm Phả, Nam Định, Hải Phòng, Đã Nẵng, Biên Hòa, Đồng Nai, Sài Gòn… Đồng thời các đô thị quân sự chính trị cũng được phát triển. Nhằm phục vụ tầng lớp thống trị, các đô thị nghỉ dưỡng ra đời: Sa Pa, Tam 9 Đảo, Đà Lạt, Đồ Sơn, Nha Trang… Như vậy, mạng lưới đô thị thời kì này đã tăng lên nhanh chóng cùng với đó là lối sống phương Tây du nhập vào Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất, văn hóa của thị dân. Khi đất nước thống nhất, đặc biệt là sau năm 1986, nhờ chính sách mở cửa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước, hệ thống đô thị phát triển mạnh mẽ cả về số lượng đô thị và dân số đô thị với đủ các loại hình: đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị tổng hợp. Nhiều trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn đã mọc lên ở cả ba miền: Hà Nội, Đã Nẵng, TP.

Hồ Chí Minh… Đặc biệt do chủ trương phát triển kinh tế làm trọng tâm, tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh và có chiều hướng phức tạp. Đô thị đương đại Nếu không tính đến các đô thị phong kiến, ở Việt Nam đô thị hiện đại (mô hình phương Tây) hình thành cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, đầu tiên là Sài Gòn sau đó lan rộng ra Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… Từ khi Đổi mới, tốc độ phát triển đô thị ở nước ta diễn ra nhanh hơn. Một phần tư thế kỷ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, hệ thống đô thị ở Việt Nam không ngừng phát triển “từ 629 đô thị (năm 1999) đã tăng lên tới 755 đô thị (năm 2010) [15, tr 55], và tính đến tháng 01/2018, toàn quốc có 813 đô thị (tăng 11 đô thị loại V so với năm 2016), bao gồm: 02 đô thị loại đặc biệt, 19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV, 640 đô thị loại V; tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 37,5% (tăng 0,9% so với năm 2016)” [14]. Như vậy, có thể thấy, trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra ngày càng nhanh.

Đô thị hóa đang là xu thế của toàn cầu nhưng bên cạnh những mặt tích cực thì quá trình đô thị hóa kéo theo rất nhiều những hệ lụy như: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng về mật độ phân bố dân cư dẫn đến 10 tình trạng đất chật người đông, lối sống, văn hóa đô thị theo nhà máy, xí nghiệp, khu vui chơi giải trí tràn vào các miền quê. Những vấn đề xã hội của con người nảy sinh ngày một nhiều. Sự biến đổi tâm lý của cư dân đô thị cũng ngày một lớn. Văn học đương đại đã dành khá nhiều trang viết để phản ánh thực trạng của cuộc sống đô thị đương đại.

Không ít nhà văn đã đặt ra những vấn đề về sự tha hóa của con người trong vòng xoáy xã hội đồng tiền, của nền kinh tế thị trường, hay làm sao để giữ gìn, bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc. Đề tài đô thị đã và đang là một đề tài được khai thác nhiều hơn nữa. Đề tài đô thị trong văn xuôi Việt Nam 1. Đề tài đô thị trong văn xuôi Việt Nam trước 1986 Những năm đầu của thế kỷ XX, khi không gian thôn dã quen thuộc dần nhường chỗ cho các không gian đô thị mới nổi, đô thị nghiễm nhiên có vị trí quan trọng trong văn chương Việt Nam lúc bấy giờ.

Khi nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập, họ là những nhà văn được tiếp cận mạnh mẽ từ nền văn minh phương Tây. Rất nhiều tác phẩm của các thành viên Tự lực văn đoàn viết về cuộc sống chốn đô thị. Nhân vật trong các tác phẩm của họ mang màu sắc cá tính mạnh mẽ. Họ mạnh dạn thể hiện cái “tôi” cá nhân cùng các quan điểm của mình.

Các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đều đề cao những cô gái tân thời, những chàng trai tiến bộ dám vượt qua mọi rào cản để xây dựng tình yêu (Đoạn tuyệt, Bướm trắng). Thạch Lam cũng viết về đô thị nhưng thường là những phố huyện nghèo, nhỏ bé, tối tăm, cuộc sống của con người quẩn quanh bế tắc. Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã đề cập đến cuộc sống nơi đô thị với những tư tưởng mới về tình yêu, quyền tự do và hạnh phúc của con người trong một giai đoạn mà khuôn khổ lễ giáo phong kiến đã ăn sâu vào gốc rễ văn hóa người Việt nhưng đồng thời cũng là minh chứng cho sự du nhập của những tư tưởng, lối sống phương Tây. Hồ Biểu Chánh cũng có nhiều 11 tác phẩm: Cay đắng mùi đời, Tiền bạc – bạc tiền, Thầy thông ngôn… tái hiện lại bức tranh đô thị với nhiều tầng lớp khác nhau.

Cũng viết về đề tài đô thị nhưng các nhà văn hiện thực lại nhìn bằng những cảm quan riêng. Với Vũ Trọng Phụng, đô thị hiện lên hỗn tạp, xô bồ thậm chí cuộc sống nơi đô thị còn là sự học đòi lố lăng, giả tạo, dối trá cùng rất nhiều các tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mại dâm… Có thể kể đến một số tác phẩm viết về đô thị của Vũ Trọng Phụng như: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Làm đĩ, Cơm thầy cơm cô, Số đỏ… Với Nguyễn Công Hoan, đô thị hiện lên nhố nhăng, bỉ ổi như những tấn hài kịch, con người sống cuộc sống đó phải tính toán, lừa lọc, làm trò…Một số tác phẩm thể hiện rõ nét những điều này như: Mất chiếc ví, Người ngựa ngựa người, Báo hiếu trả nghĩa cha… Đến với Nam Cao, bên cạnh mảng đề tài viết về người nông dân nhà văn cũng dành khá nhiều trang để viết về người trí thức với cuộc sống nơi thành thị. Họ quanh năm phải đối mặt với cơm áo, gạo tiền. Có thể kể đến một số tác phẩm như: Sống mòn, Đời thừa, Giăng sáng… Văn học giai đoạn 1945 – 1975, trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, mang tính chiến đấu cao.

Con người xuất hiện trong giai đoạn này là con người của cộng đồng, màu sắc cá nhân mờ nhạt. Do đó không gian đô thị, nhân vật mang màu sắc đô thị ít xuất hiện. Tuy nhiên, vẫn có một số ít tác phẩm của các nhà văn có màu sắc đô thị như Đôi mắt của Nam Cao. Tác phẩm đã tập trung khắc họa nhân vật trí thức, tiểu tư sản – nhà văn Hoàng dù về quê tản cư nhưng vẫn mang lối sống, nếp nghĩ của người thành thị.

Nhà văn Tô Hoài với Những ngõ phố cũng ghi lại được cuộc sống của người dân nghèo nơi đô thị với những thay đổi tích cực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ