Khóa luận tốt nghiệp: đặc điểm chủ tình trong tác phẩm lan trì kiến văn

Khóa luận chuyên ngành đa ngành nghiên cứu Khóa luận đặc điểm chủ tình trong tác phẩm lan trì kiến văn lục của vũ trinh với kết quả nghiên cứu có

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

58
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Quát Về Tác Phẩm Lan Trì Kiến Văn Lục

Lan Trì kiến văn lục của tác giả Vũ Trinh là một tác phẩm văn học chữ Hán tiêu biểu trong nền văn học trung đại Việt Nam. Đây là tác phẩm cuối cùng của loại hình truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, tiếp nối dòng truyện truyền kỳ bắt đầu từ thế kỉ XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Tác phẩm này có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, bởi nó phản ánh sâu sắc những khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội và tâm tư, tình cảm của con người thời kỳ trung đại. Lan Trì kiến văn lục được xem là một di sản văn hóa quý báu, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệ thuật sáng tác và nội dung.

1.1. Vị Trí Và Ý Nghĩa Của Tác Phẩm

Lan Trì kiến văn lục đóng vai trò to lớn trong việc kết tinh và hình thành những truyền thống quý báu của văn học dân tộc. Tác phẩm này tiêu biểu cho sự phát triển của văn học chữ Hán, không chỉ về thành tựu nghệ thuật mà còn về cách thức phản ánh cuộc sống. Nó là cầu nối giữa các giai đoạn văn học, góp phần xây dựng những nền móng vững chắc cho văn học hiện đại.

1.2. Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu

Nghiên cứu đặc điểm chủ tình trong Lan Trì kiến văn lục giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bút pháp nghệ thuật của tác giả Vũ Trinh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc phân tích cách tác phẩm thể hiện tình cảm nhân đạo, quan niệm về cuộc sống và con người, từ đó làm sáng tỏ những giá trị tinh thần và văn hóa mà tác phẩm mang lại.

II. Trào Lưu Chủ Tình Trong Văn Học Việt Nam Thế Kỉ XVIII XIX

Trào lưu chủ tình là một hiện tượng văn học nổi bật trong giai đoạn thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX của văn học Việt Nam. Đây là thời kỳ mà các nhà văn, nhà thơ bắt đầu uốn lượn tiếng nói riêng, thể hiện những tình cảm nhân bản sâu sắc. Chủ tình không chỉ là biểu hiện của cảm xúc cá nhân mà còn là cách thức để phản ánh những mâu thuẫn, những đau thương của xã hội thời kỳ đó. Sự quan tâm đến tâm tính con người, đặc biệt là những mặt tối của xã hội như bạc nghĩa, phụ tình, đã trở thành một chủ đề quan trọng trong các tác phẩm văn học.

2.1. Bối Cảnh Hình Thành Trào Lưu Chủ Tình

Trào lưu chủ tình hình thành từ sự biến đổi của xã hội và tư tưởng trong giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX. Đây là thời kỳ mà nền văn học Việt Nam chứng kiến sự uốn lượn mới, sự thay đổi trong cách thức biểu đạt cảm xúc. Các tác giả bắt đầu quan tâm hơn đến những khía cạnh tâm lý con người, những xung đột nội tâm và những phản ánh về hiện thực xã hội.

2.2. Các Đặc Trưng Của Chủ Tình Văn Học

Chủ tình trong văn học trung đại Việt Nam được thể hiện qua sự lên án những tính cách xấu xa như bạc nghĩa, phụ tình. Đồng thời, các tác phẩm ngợi ca tình nghĩa, những giá trị nhân đạo cao quý. Sự kết hợp giữa bút pháp kì ảo và hiện thực giúp tạo nên những tác phẩm sâu sắc, ảnh hưởng mạnh mẽ đến độc giả.

III. Đặc Điểm Chủ Tình Trong Quan Niệm Về Con Người Và Cuộc Sống

Trong Lan Trì kiến văn lục, chủ tình được thể hiện rõ nét qua quan niệm nghệ thuật của Vũ Trinh về con người và cuộc sống. Tác giả không chỉ miêu tả những sự kiện mà còn đào sâu vào tâm lý con người, những xung đột nội tâm giữa lý trí và tình cảm. Tình nghĩa được xem là một giá trị cao quý, là những dây buộc kết các con người lại với nhau. Tác phẩm lên án thói phụ tình, bạc nghĩa thông qua các nhân vật, những tình huống kịch tính. Đồng thời, tác giả cũng trân trọng ngợi ca tình nghĩa giữa con người, thậm chí giữa con người và loài vật, thể hiện một nhân đạo quang vĩ.

3.1. Sự Trân Trọng Ngợi Ca Tình Nghĩa

Tình nghĩa con người trong Lan Trì kiến văn lục được thể hiện qua những mối quan hệ nhân đạo sâu sắc giữa các nhân vật. Vũ Trinh ngợi ca sự trung thành, hiếu th孝, những giá trị đạo đức truyền thống song vừa có sức sống hiện đại. Tình nghĩa của loài vật cũng được tác giả chú ý, thể hiện một tầm nhìn toàn cảnh về tình cảm không chỉ riêng con người.

3.2. Lên Án Tính Cách Tiêu Cực Của Con Người

Sự lên án thói phụ tình, bạc nghĩa là một điểm nổi bật trong tác phẩm. Vũ Trinh sử dụng các nhân vật tiêu biểu để phê phán những hành vi vô đạo đức, những sự bất lợi, gian dối trong xã hội. Qua đó, tác phẩm phản ánh một thái độ phê phán xã hội mạnh mẽ, mang tính cảnh tỉnh và giáo dục.

IV. Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Thể Hiện Chủ Tình

Bút pháp nghệ thuật của Vũ Trinh trong Lan Trì kiến văn lục là sự kết hợp tinh tế giữa hiện thực và kì ảo, tạo nên một thế giới tác phẩm vừa huyền ảo vừa gần gũi với cuộc sống. Sự gia tăng tính chất ngụ ngôn giúp tác phẩm đạt được một sức thuyết phục cao, làm cho những thông điệp đạo đức trở nên sâu sắc hơn. Các chi tiết mô tả, cách xử lý tình tiết đều hướng tới việc làm sáng tỏ những giá trị nhân đạo, những bất công của xã hội. Chính sự kết hợp này đã làm cho tác phẩm trở thành một kiệt tác của văn học truyền kỳ, mang lại tác dụng thẩm mỹ và giáo dục mạnh mẽ.

4.1. Kết Hợp Giữa Bút Pháp Kì Ảo Và Hiện Thực

Bút pháp kì ảo kết hợp với hiện thực là một điểm mạnh của Lan Trì kiến văn lục. Vũ Trinh dùng những yếu tố siêu nhiên, thần kỳ để làm nổi bật những mâu thuẫn xã hội thực tế. Cách kết hợp này tạo nên một không gian biểu cảm độc đáo, giúp tác giả thể hiện chủ tình một cách sâu sắc và lôi cuốn độc giả.

4.2. Sự Gia Tăng Tính Chất Ngụ Ngôn

Tính chất ngụ ngôn trong tác phẩm được gia tăng liên tục, giúp mỗi chi tiết, mỗi tình tiết mang những ý nghĩa sâu sắc bên dưới lớp vỏ câu chuyện. Những biểu tượng, hình ảnh được lặp lại, phát triển để nhấn mạnh thông điệp nhân đạo. Điều này làm cho tác phẩm không chỉ là một câu chuyện thú vị mà còn là một bài học về đạo đức, nhân sinh.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu tác phẩm đã nhận định: “Vũ Trinh viết Lan Trì kiến văn lục (chép những chuyện nghe và thấy của Lan Trì) vào thời gian ông ẩn nhẫn ở Hồ Sơn (Nam Định). Khoảng những năm 1793-1794 cuối đời Tây Sơn, đầu đời Gia Long. Những điều thấy và nghe (kiến văn) khi làm quan ở triều, khi lánh nạn, tiếp xúc với bao người, những chuyện nơi đồng quê, ngõ chợ, kết hợp với những điều trong sách vở thánh hiền đã được Vũ Trinh ghi lại một cách chân thực và mang cảm hứng nghệ thuật. Sáng tác của ông nói đến nhiều 9 việc, nhiều truyện, lúc thật lúc ảo, nhưng hầu hết đều ngụ ý sâu xa như một nỗi niềm tâm sự, khao khát cuộc sống yên bình.

Nó là tấm gương phản chiếu không tô vẽ. Ông đã làm cái việc thực thi sứ mạng mà nếu không có sách ghi của một thời thì trăm ngàn năm sau còn ai biết đuổi theo mây gió, đi tìm hỏi người xưa ở trăm ngàn năm về trước.” Ngô Thì Hoàng trong “Kiến văn lục – Tựa 1” nhận xét: “Ông (Vũ Trinh) ôm ấp hoài bão kinh bang tế thế, gặp buổi thời thế trái với đạo mình, liền ở náu dấu nơi nhà tranh, ngậm miệng không bàn gì đến thế sự, có tiết tháo của ông Đào, ông Nguyễn. Trong tác phẩm này, cố nhiên là ông gửi gắm tâm sự mình, nhưng cũng chưa thể hiện được hết tài văn chương của ông… Nếu gặp được thời cơ, thi thố tài năng thì văn chương sự nghiệp được thể hiện lý tưởng tu tề trị bình của ông sẽ được lưu truyền mãi mãi cùng với điển mô, huấn cáo của cổ nhân và những điều người đời được nghe được biết về ông, đâu chỉ có một tập Kiến văn lục này!”. Trong Lan Trì kiến văn lục, nhà văn hầu như đã tránh được cái hạn chế cố hữu của các cây bút nho gia là thường cứ thấy gì ghi nấy.

Có thể nói, Vũ Trinh đã có sự nhất quán về tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật. “Ông rất nhạy cảm trước những vận động mới mẻ" của con người và đời sống xã hội đương thời, bằng văn chương, ông trình bày cái xã hội đang xuống cấp về đạo đức. Trong xã hội đó, có những kẻ lạm dụng uy quyền, sống hoang dâm (truyện Hầu); có kẻ tàn ác, mất hết nhân tính đến mức giết cả con (truyện Hiệp hổ). Viết về những nhân vật đó, ngòi bút Vũ Trinh phê phán nghiêm cẩn.

Trong cái xã hội đầy bi kịch, nhà văn đã nhìn thấy vẫn còn những con người giữ được phẩm giá cao quý. Ở đó, con người thường bị đặt vào những tình huống căng thẳng, thậm chí đầy bi kịch để từ chính từ trong cuộc vật lộn cay đắng ấy, họ đã bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, những tình cảm rất “người”. Đặc biệt, trong số những con người mà tác giả dành trọn niềm yêu 10 mến thì người phụ nữ chiếm phần lớn. Nếu như Truyền kì mạn lục thường viết về những người phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu, hồn ma hay cây cỏ, thì ở Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh, họ là những con người bình dị, đời thường.

Họ có thể xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau như: con gái quan Quận ở Liên Hồ, cô gái hủi con nhà giàu ở Cẩm Giàng, cô gái dệt vải (Sống lại), người kĩ nữ (Cô đào họ Nguyễn). nhưng họ gặp nhau ở một điểm: đẹp, tài hoa, nết na. Thế nhưng, gần như không có người phụ nữ nào trong Lan Trì kiến văn lục có được cuộc sống hạnh phúc. Số phận của họ không may mắn, lắm vất vả, nhiều bất hạnh, đặc biệt trong tình yêu, họ đều gặp éo le hoặc bị rào cản của phong kiến ngăn chặn hoặc gặp phải người phụ bạc.

Không ít người trong số họ đã tìm đến cái chết. “Người đàn bà dệt vải khao khát yêu đương, dù bị chồng ghen đánh chết vẫn giữ trọn tình với người cũ (truyện Tái sinh). Một số kiếp khổ đau ghê gớm đến mức chết đi mà vẫn không thể nhắm mắt được vì còn mang thai trong bụng, phải sinh tử dưới mồ và ngày ngày lên dương thế mua đường nuôi con (truyện Sản dị). Tình yêu của các nhân vật do Vũ Trinh tạo nên thật say đắm, đến mức nhục cảm, và ông trình bày nó như là hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ.

Chuyện tình ở Thanh Trì có cốt truyện gần như “chuyện Trương Chi” – “kể về cô con gái của một phú ông. Cô đẹp người đẹp nết mà bạc mệnh, ôm một mối tình đau đớn, oan trái. Cô chết, được hỏa táng, thi thể thành tro, nhưng còn lại một khối nhỏ”: “to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc, cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ”. Người cô đem lòng yêu là một anh lái đò nghèo nhưng đẹp trai, hát hay, sau này khi cuộc sống trở nên khá giả, quay trở lại tìm cô gái thì đã muộn.

Và, khi dòng nước mắt của anh trào ra, nhỏ xuống khối đỏ đó thì nó “tan thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi”. Hình tượng nghệ thuật đó là một sự sáng tạo đặc sắc của Vũ Trinh. Ở truyện Ca nữ họ Nguyễn, nhà văn kể về một kỹ nữ phong đoan 11 chính, có tình yêu thật chủ động và tấm lòng vị tha lạ thường. Tình yêu của nàng kỹ nữ họ Nguyễn dành cho một người đàn ông, đó là một nhân vật thật trong lịch sử văn hóa nước ta: Vũ Khâm Lân – người đã đánh giá Truyền kỳ mạn lục là “thiên cổ kỳ bút”.

Một truyện khác, Lan quận công phu nhân, Vũ Trinh kể “câu chuyện tình yêu của cô cháu gái quan thượng thư họ Đàm với Nguyễn Thực, một mối tình khác thường và cao đẹp. Nguyễn Thực cũng là một nhân vật thật trong lịch sử văn hóa cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII.” Còn trong truyện Trạng nguyên họ Nguyễn, là câu chuyện tình duyên đặc biệt của một tiểu thư khuê các và Nguyễn Đăng Đạo, người sau đó đã đỗ Trạng nguyên và là một nhà thơ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Có thể nhận thấy, Vũ Trinh rất coi trọng hiện thực đời sống khi cầm bút viết văn. Bút pháp rất mực tinh giản, đến mức các truyện ông viết hầu như không có dấu vết của sự bay bướm, rườm rà.

Quan trọng, văn chương của ông chứa đựng một lý tưởng thẩm mỹ thật cao. Đặc biệt, qua Lan Trì kiến văn lục, chúng ta có thể hình dung được xã hội đương thời, trong đó, số phận và hạnh phúc của con người được đặt ra như một vấn đề cấp thiết cho đạo lý cuộc sống. Nối tiếp dòng chảy văn chương truyền kỳ, Lan Trì kiến văn lục đã trở thành một cống hiến đặc sắc của Vũ Trinh cho nền văn học nước nhà. Đúng như GS Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học đã đánh giá: “Truyện của Vũ Trinh thường vắn tắt, mỗi chi tiết được kể đều đóng một vị trí không thay thế được trong kết cấu nghệ thuật của cả câu chuyện.

Đó là bí quyết của một cây bút truyện ngắn có tài. Trào lƣu chủ tình của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX 1. Khái niệm Giai đoạn thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là thời kì phát triển rực rỡ của văn học Việt Nam. Trào lưu chủ tình gợi ra một hướng nghiên cứu mới trong tiến trình văn học trung đại, đặc biệt là thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.

Trào 12 lưu chủ tình là cách gọi mang hàm nghĩa đề cao cảm xúc, tình cảm một cách có ý thức, có cơ sở triết học.TS Trần Nho Thìn trong đề tài “Trào lưu chủ tình trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và dấu vết ảnh hưởng của sách Thế thuyết tân ngữ” đã đưa ra khái niệm: “Trào lưu chủ tình trong văn học thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX là khái niệm chúng tôi sử dụng theo một nghĩa ước lệ, nhằm định danh một xu hướng văn học chiếm vị trí nổi bật, làm nên thành tựu quan trọng nhất của văn học giai đoạn này: trào lưu văn học đề cao Tình (emotions), tức thiên về xúc cảm thay vì lý trí tỉnh táo của nhà nho truyền thống.” (Khái niệm “chủ tình” ở đây nhấn mạnh cảm xúc hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục với tính cách là những phản ứng trực tiếp và không bị kiểm soát, trói buộc, che dấu. Như ta thấy, bảy loại cảm xúc trên là đối tượng kiểm soát của thánh nhân, quân tử, Phật). Ông nhấn mạnh: “Người chủ trương sống có tình cảm cũng tức là chủ trương tôn trọng đời sống tình cảm của người khác, không cần biết đến những thành kiến của xã hội phong kiến.” Trong bài viết, ông cũng đưa ra một vấn đề: “Trong văn học Việt Nam, bắt đầu từ khi nào thì Tình được đề cao?” và lý giải: “Hiện vấn đề này chưa được các giới nghiên cứu Việt Nam chú ý tìm hiểu. Có thể phải nói đến giai đoạn chuẩn bị, quá độ trước đó, song chúng tôi cho rằng đến quãng giữa thế kỷ XVIII, trong đời sống văn học có thể quan sát thấy những dấu vết chắc chắn của việc đề cao Tình.

Đánh giá Chinh phụ ngâm, Phan Huy Ích – một trong số 7 người có tham gia phong trào dịch khúc ngâm này sang quốc âm đã viết Nhân Mục tiên sinh Chinh phụ ngâm - Cao tình dật điệu bá từ lâm (Khúc ngâm Chinh phụ của tiên sinh người làng Nhân Mục - Tình cao điệu lạ đứng đầu rừng thơ văn). Cả khúc ngâm là những tiếng lòng, những tâm tình sâu kín của người phụ nữ xa chồng với buồn nhớ, hoài niệm, hồi tưởng, tóm lại là các trạng thái tâm lý, tình cảm phong phú, phức tạp. Phan Huy Ích đánh giá rất đúng cái mới của Chinh phụ ngâm, vì tình cao và điệu lạ nên được xếp đứng 13 đầu rừng thơ. Tức là đã có sự thay bậc đổi ngôi trong việc xếp hạng.

Những ngôn luận của thánh hiền tất nhiên vẫn là châu ngọc nhưng đã diễn ra một sự phân khai rõ rệt. Văn học giáo huấn có thể khô khan nhưng văn chương nghệ thuật phải có tình…”. Ông cho rằng: “Sự vận động của đời sống thực tiễn (các nhân tố nội sinh) đã tạo nền tảng cho bước chuyển biến từ quan niệm con người thánh nhân, quân tử, từ lý tưởng Phật trở lại với quan niệm về con người trần thế, tự nhiên”. Giới nghiên cứu đã viết về cái mới của văn học nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX thông qua các khái niệm “trào lưu nhân đạo chủ nghĩa” (chống phong kiến và khám phá, phát hiện con người), hoặc khái niệm “nhà nho tài tử” (loại hình nhà nho thị tài và đa tình).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ