MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài: Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước chuyển mình và đã đạt được những thành tựu đáng kể về mọi mặt như: kinh tế, văn hoá, chính trị…Đi đôi với quá trình phát triển kinh tế thì nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng cao, đặc biệt là nhu cầu về nước- nước cần cung cấp cho sinh hoạt, nước cần cung cấp cho các hoạt động sản xuất kinh tế. Tuy nhiên, nguồn nước tự nhiên cần thiết cung cấp cho một bộ phận lớn dân cư của khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Thêm vào đó, một trong những vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay là quá trình xâm nhập mặn đang ngày càng lấn sâu vào nội đồng, đặc biệt là vào mùa khô.
Do đó, em đã mạnh dạn nhận đề tài “Khảo sát diễn biến xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn trong mùa khô năm 2005” nhằm đáng giá mức độ xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn đoạn từ Trung An (Củ Chi) đến cửa sông Sài Gòn. Mục đích-Yêu cầu: Vì đây là đề tài lớn, khá quan trọng, vì vậy sẽ có rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu kĩ. Tuy nhiên, do thời gian và vốn kiến thức có giới hạn, do vậy, trong đề tài này em chỉ tập trung nghiên cứu hai vấn đề sau: -Xác định mức độ xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn vào cuối mùa khô năm 2005 và qua đó đánh giá những tác động của quá trình này đối với đời sống, kinh tế của người dân trong khu vực. -Dựa trên các tài liệu thu thập cũng như qua các kết quả phân tích và diễn biến của quá trình xâm nhập mặn qua các năm để dự báo tình hình nhiễm mặn vào các năm tới.
Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài: -Thành lập sơ đồ diễn biến xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn theo không gian và thời gian. -Đánh giá những ảnh hưởng của quá trình xâm nhập mặn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và toàn bộ khu dân cư trong khu vực chịu tác động. -Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế, giảm thiểu quá trình xâm nhập mặn trên sông. Phương pháp nghiên cứu: 1.Thu thập tài liệu: Để thực hiện đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, các ban ngành đoàn thể, các bạn cùng lớp và không thể thiếu nguồn tài liệu quý giá có liên quan đến đề tài: Tài liệu về địa chất- địa chất thuỷ văn, đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu, chế độ thuỷ triều, chất lượng nước, lưu lượng nước xả của các đập, hồ vùng đầu nguồn…tại các cơ quan sau: -Thư viện khoa Địa Chất.
-Thư viện trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên. -Sở tài nguyên môi trường Thành phố Hồ Chí Minh. -Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Nam Bộ. -Trung tâm quản lý nước và phòng chống lụt bão.
-Ban quản lý dự án Hồ Dầu Tiếng. -Các thông tin trên internet: 2. Khảo sát thực địa: Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã tiến hành đi khảo sát và lấy mẫu trong 3 lần: -Khảo sát và lấy mẫu vào cuối mùa khô năm 2005 (ngày 22/3/2005 và 23/3/2005). -Khảo sát và lấy mẫo vào ngày Hồ Dầu Tiếng xả nước đẩy mặn trên sông (ngày 13/04/2005).
-Khảo sát lấy mẫu vào đầu mùa mưa (3/5/2005). Đồng thời, trong những chuyến đi lấy mẫu, em đã khảo sát những tác động của quá trình xâm nhậm mặn đối với cảnh quan môi trường xunh quanh và thăm dò, lấy ý kiến của người dân ở những khu vực lấy mẫu về mức độ khai thác nước sông Sài Gòn cung cấp cho sinh hoạt cũng như sản xuất ở nơi đây. Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: Để xác định rõ mức độ nhiễm mặn trên sông, em đã tiến hành phân tích 20 mẫu nước lấy trực tiếp trên sông, với các chỉ tiêu sau: -Độ dẫn điện (EC): đo bằng máy. -Clorua: Định phân bằng dung dịch AgNO3.
-Độ cứng tổng cộng, độ cứng canxi: Định phân bằng dung dịch EDTA. -Tổng muối hoà tan (dùng phương pháp đun và sấy khô). Tổng hợp tài liệu và viết báo cáo: Dựa trên các tài liệu thu thập được đồng thời kết hợp với các số liệu phân tích trong phòng thí nghiệm để nêu lên những nhận xét, đánh giá về tình hình nhiễm mặn trên sông Sài Gòn vào mùa khô năm 2005 đồng thời dự báo xu hướng diễn biến xâm nhập mặn trong những năm tiếp theo. Báo cáo được viết và xử lý số liệu dựa trên phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel.
Chương II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN-KINH TẾ NHÂN VĂN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU. Đặc điểm địa lý tự nhiên: 1.Vị trí địa lý: Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của Nam Bộ đồng thời giữ một vị trí rất quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nền kinh tế chung của cả nước. Khu vực nghiên cứu giới hạn bởi hệ thống toạ độ: -Từ 10o20’ đến 11o20 vĩ Bắc. -Từ 106o20’ đến 107o00 kinh Đông.
Mặc khác, do Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế về mặt địa lý nên rất thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá với các tỉnh lân cận như: phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An, Tiền Giang và phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài khoảng 15 km. Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích khoảng 2093 km 2, với 8 quận nội thành (Hệ thống sông Sài Gòn có diện tích lưu vực khoảng 4500 km 2. Đoạn sông trong khu vực nghiên cứu từ Hoà Phú (Củ Chi) đến Nhà Bè chảy qua các quận, huyện như: Nhà Bè, quận I, quận Bình Thạnh, quận 12, huyện Hóc Môn, huyện Củ Chi, quận Thủ Đức và tỉnh Bình Dương. Đặc điểm khí hậu: Khí hậu của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung mang đặc điểm chung của khí hậu Nam Bộ, thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, đặc trưng là nóng ẩm , mưa nhiều.
Có hai mùa rõ rệt: -Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 11. -Mùa khô: kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ: Sự chênh lệnh nhiệt độ giữa các mùa trong năm không lớn lắm, chỉ dao động trong khoảng 26-39oC, riêng tháng 11, 12 là những tháng có nhiệt độ thấp nhất (khoảng 25-26oC ) do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, trong khi đó, khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 là khoảng thời gian nóng nhất ( nhiệt độ dao động từ 29-39oC). Ngoài ra, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà nhiệt độ trung bình của khu vực nghiên cứu đã có chiều hướng gia tăng đáng kể ( từ 3-4 oC) đồng thời sự chênh lệnh nhiệt độ giữa ngày và đêm cũng khá lớn ( từ 8-10oC).
Bảng1: Đặc trưng nhiệt độ không khí trung bình tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004. Đơn vị:oC Đặc trưng Tháng I II III IV V VI Trung 27.1 bình Cao nhất 35.8 VII VIII IX X XI XII Trung 27.6 bình Cao nhất 35.1 Đơn vị cung cấp: Đài Khí Tượng Thuỷ Văn Nam Bộ NHIE Ä T ÑOÄT RUNG BÌNH NAÊM 2004 T AÏI T RAÏM ÑO T AÂ N SÔN HOAØ T PHC M 31 30 29 t ñoä( oC ) 28 Nhieä 27 26 25 24 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 T haù ng 2. Độ ẩm: Độ ẩm trong vùng nghiên cứu có giá trị trung bình khá cao và tương đối ổn định trong các tháng (trung bình khoảng 80%-82%). Thông thường, vào mùa mưa, độ ẩm có giá trị lớn nhất (90%) và đạt giá trị nhỏ nhất vào những tháng nắng nóng, không mưa (68%).
Sự chênh lệch độ ẩm trong mùa mưa và trong mùa khô khá cao (khoảng 15%-25%). Bảng 2: Độ ẩm trung bình tháng năm 2004, tại trạm Tân Sơn Hoà Đặc trưng Tháng I II III IV V VI Độ ẩm 68 70 70 71 75 80 I VIII IX X XI XII Độ ẩm 81 80 81 79 73 72 Đơn vị cung cấp: Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Nam Bộ ÑOÄAÅ M T RUNG BÌNH C AÙ C T HAÙ NG NAÊM 2004 T AÏI T RAÏM ÑO T AÂ N SÔN HOAØ T PHC M 85 80 m (%) 75 Ñoäaå 70 65 60 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Thaù ng 2. Lượng mưa: Khác với nhiệt độ, lượng mưa ở đây mang tính mùa vụ rõ rệt mà nguyên nhân chủ yếu là do chế độ gió mùa. Trong khu vực nghiên cứu nói riêng và Nam Bộ nói chung, một năm được chia làm hai mùa rõ rệt: một mùa mưa và một mùa khô.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1900-2300mm, theo số liệu thống kê trong vòng 10 năm tại trạm Tân Sơn Hoà Thành phố Hồ Chí Minh, lượng mưa thấp nhấp trong vòng 10 năm tại đây vào khoảng 1414.6mm/năm, và lường mưa cao nhất vào khoảng 2335. Mùa mưa thường bắt đầu vào khoảng đầu tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 11. Những tháng còn lại trong năm hầu như không có mưa hoặc mưa rất ít. Bảng 3:Lượng mưa tháng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 Đơn vị: mm.
Đăc trưng Tháng I II III IV V VI Trung bình 12 4 12 46 203 312 NN 2003 3.1 - - 13 264 247 Tháng VII VIII IX X XII XII Trung bình 289 274 311 268 119 39 NN 2003 198 198 298 348 141 1.1 2004 356 201 284 309 97 13 BIE Å U ÑOÀPHAÂ N BOÁLÖÔÏNG MÖA NAÊ M 2004 TAÏI TRAÏM ÑO TAÂ N SÔN HOAØ TPHCM 400 350 300 Löôïng möa(mm) 250 200 150 100 50 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Thaù ng 2. Lượng bốc hơi: Do khu vực nghiên cứu nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên lượng bốc hơi khá cao, khoảng 1000-1200mm/năm, lượng bốc hơi trung bình trong ngày từ 3.7mm/năm, mùa mưa lượng bốc hơi thường thấp hơn vào mùa khô. Thông thường vào những tháng nắng nóng, lượng bốc hơi cao nhất (khoảng 5.2mm/ngày vào tháng 2, 3, 4) và khoảng 0.5mm/ngày vào những tháng 9, 10, 11. Ngoài ra, tổng lượng bức xạ mặt trời ở khu vực này khá cao.
Tổng lượng bức xạ mặt trời đo được trong khu vực vào khoảng 75-80 Kcalo/cm 2/năm, tổng lượng nhiệt trung bình trong năm khá cao và tương đối ổn định. Tuy nhiên, vùng nghiên cứu ít nhiều chịu ảnh hưởng của khí hậu và thời tiết biển nên không khí thường ít khắc nghiệt hơn những vùng khác. Nắng: Số ngày nắng trung bình trong năm tương đối nhiều, khoảng từ 2200-2400 giờ/năm.