chương I, chúng tôi đã dựa vào các quan điểm và định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học thế giới cũng như các nhà Việt ngữ học để đưa ra khái niệm về thuật ngữ kinh tế, sau đó nêu lên những đánh giá ban đầu về thuật ngữ kinh tế thời kì đổi mới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ KINH TẾ TIẾNG VIỆT TRÊN VĂN KIỆN ĐẢNG CSVN 2.1 Cấu tạo từ 2.1 Khái niệm từ: “Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ. Nói chung không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn. Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc, có thể chấp nhận định nghĩa từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức.2 Vai trò của phân tích cấu tạo từ Trong bất kì một ngôn ngữ nào cũng vậy, trước khi tiến hành nghiên cứu từ hay các vấn đề liên quan đến từ thì phân tích cấu tạo từ phải là một trong những công việc mang tính tiền đề bởi vì nó mang tính cơ sở nhất, nền móng nhất.
Trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu thuật ngữ nói riêng, việc phân tích cấu tạo từ giúp làm sáng rõ bản chất cấu trúc của từ, từ đó giúp ta nghiên cứu, hiểu rõ và có thể giải quyết một loạt các vấn đề liên quan đến từ như vấn đề ngữ nghĩa, ngữ dụng của từ, vấn đề từ loại, vấn đề lịch sử, vấn đề về các biến thể, các trường nghĩa, ngữ âm. Trong phạm vi luận văn của chúng tôi, chúng tôi dành một phần lớn thời gian và sự quan tâm để nghiên cứu thật kĩ đặc điểm cấu trúc của thuật ngữ. Bởi hơn ai hết chúng tôi ý thức được rằng đặc điểm cấu trúc của thuật ngữ là biểu hiện bề ngoài, bề nổi của mọi cấu trúc chìm bên trong; và một khi làm sáng rõ được cấu trúc của thuật ngữ thì chúng tôi có thể trong một phạm vi nào đó, nghiên cứu sâu hơn để làm sáng tỏ quá trình hình thành của thuật ngữ, các vấn đề nguồn gốc lịch sử, các vấn đề về phương thức cấu tạo, các vấn đề về từ loại, các vấn đề về ngữ nghĩa, các vấn đề về ngữ dụng và các vấn đề về so sánh đối chiếu, chuyển dịch thuật ngữ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Đơn vị cấu tạo từ Đỗ Hữu Châu cho rằng “ Các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất – tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa- được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt”.
Và theo Nguyễn Tài Cẩn thì yếu tố này được gọi bằng tên gọi quốc tế là hình vị, trong tiếng Việt được gọi là tiếng [3, tr.4 Phƣơng thức cấu tạo từ Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu, phương thức cấu tạo từ “là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ”. Từ trong tiếng Việt chủ yếu được cấu tạo theo các phương thức sau: Từ hóa hình vị: Là phương thức tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của nó. Ví dụ: những từ như: vốn, thuế, mua, bán,. là những từ được hình thành do sự từ hóa hình vị của các hình vị trên.
Ghép: Là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ) Ví dụ: Phương thức ghép tác động vào hình vị “thương” và hình vị “mại” để tạo thành từ “thương mại”, tác động vào hình vị “thuế” và hình vị “đất” để thành từ “thuế đất”. Láy: Là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh. Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ) Ví dụ: Dùng phương thức láy tác động vào hình vị “trắng” cho ta từ láy “trăng trắng”, tác động vào hình vị “đen” cho ta từ láy “đen đen”.5 Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà Việt ngữ học khi nghiên cứu về mặt cấu tạo từ thường dựa vào các tiêu chí sau để phân loại các kiểu cấu tạo từ: - Sự đồng nhất và khác biệt về phương thức cấu tạo. - Sự đồng nhất và khác biệt về hình vị, chủ yếu là về tính độc lập hay không độc lập, về tính từ loại của hình vị.
- Sự đồng nhất và khác biệt về quan hệ cú pháp giữa các hình vị. Sau đây chúng tôi xin trình bày quan điểm phân loại kiểu cấu tạo từ tiếng Việt được xem là phổ biến trong xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay.1 Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Ví dụ: cung, cầu, lương, vốn, thuế. - Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời.
Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,… - Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm,… - Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy (Theo thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.2 Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính: 2.1 Từ ghép đẳng lập : Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là: - Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng, - Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó : Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ : bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,… Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ : tư duy, thổ địa, tiện lợi, cốt nhục,… Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt.
Ví dụ : đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,… Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương. Ví dụ: Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,… Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Ví dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng, … Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Ví dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,… Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát).
Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập. Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa. * Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B.
Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn, thầy trò, vợ con,. * Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B.
Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,. Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép.
Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa (chợ búa), pheo (tre pheo), chóc (chim chóc). chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này. Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách,… * Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình ngữ nghĩa AB > A+B. Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng hóa dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay hoán dụ.
Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố. Ví dụ, “đất nước” không phải chỉ “đất” và “nước” nói chung hay chỉ “đất” hoặc “nước”, mà hai yếu tố được hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nước. Trường hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy.2 Từ ghép chính phụ Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp.