Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành dược học khảo sát tình hình sử dụng vinorelbine trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại trung tâm y học hạt nhân và ung bướu bệnh viện bạch mai

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Dược khảo sát tình hình sử dụng Vinorelbine trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về ung thƣ phổi

1.2. Dịch tễ học

1.3. Triệu chứng lâm sàng

1.4. Triệu chứng cận lâm sàng

1.5. Tổng quan về Vinorelbine

1.6. Đặc điểm dược lực học

1.7. Đặc tính dược động học

1.8. Liều lượng và cách dùng

1.9. Tổng quan một số nghiên cứu nổi bật về vinorelbine

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.7. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.8. Nội dung nghiên cứu

2.9. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.10. Các chỉ tiêu nghiên cứu về khảo sát tình hình sử dụng vinorelbine

2.11. Các chỉ tiêu nghiên cứu về đánh giá TDKMM của vinorelbine

2.12. Một số tiêu chí phân tích/đánh giá sử dụng trong nghiên cứu

2.13. Tiêu chí phân tích chỉ định - liều dùng của vinorelbine

2.14. Tiêu chí đánh giá hiệu quả điều trị của vinorelbine

2.15. Tiêu chí đánh giá TDKMM của vinorelbine

2.16. Phƣơng pháp xử trí số liệu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.2. Đặc điểm về tuổi và giới

3.3. Phân loại giai đoạn bệnh và mô bệnh học

3.4. Triệu chứng lâm sàng

3.5. Tình trạng di căn

3.6. Các phương pháp điều trị trước thời điểm nghiên cứu

3.7. Bệnh lý kèm theo

3.8. Tình hình điều trị

3.9. Đặc điểm thuốc sử dụng

3.10. Đặc điểm sử dụng thuốc

3.11. Đánh giá đáp ứng điều trị

3.12. Tỷ lệ xuất hiện TDKMM

3.13. Tỷ lệ xuất hiện TDKMM sau các chu kì

3.14. Mức độ nghiêm trọng của TDKMM

3.15. Xử trí TDKMM

3.16. Tƣơng quan giữa liều dùng với đáp ứng điều trị và TDKMM

4. CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về tình hình sử dụng vinorelbine

4.2. Bàn luận về đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu trước điều trị

4.3. Bàn luận về đặc điểm sử dụng thuốc vinorelbine trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.4. Bàn luận đánh giá đáp ứng và các TDKMM của vinorelbine

4.5. Đánh giá hiệu quả điều trị sau khi sử dụng thuốc vinorelbine

4.6. TDKMM của vinorelbine trong quá trình điều trị UTP

4.7. Một số hạn chế của nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về Vinorelbine và ung thư phổi không tế bào nhỏ

Vinorelbine là một trong những thuốc hóa trị được sử dụng rộng rãi trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai, một trung tâm hàng đầu về chẩn đoán và điều trị ung thư tại Việt Nam. Vinorelbine thuộc nhóm alkaloid của cây dừa cạn, có cơ chế tác dụng ức chế sự phân chia tế bào ung thư. Nó được FDA chấp thuận từ năm 1994 và đã chứng minh hiệu quả trong việc kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân UTPKTBN. Tuy nhiên, thuốc cũng gây ra một số tác dụng phụ như giảm bạch cầu, buồn nôn và mệt mỏi. Nghiên cứu này nhằm khảo sát sử dụng Vinorelbine trong điều trị UTPKTBN tại Bệnh viện Bạch Mai, đánh giá hiệu quả điều trị và các tác dụng phụ liên quan.

1.1. Đặc điểm dược lực học và dược động học của Vinorelbine

Vinorelbine có cơ chế tác dụng chính là ức chế sự hình thành vi ống, ngăn cản quá trình phân chia tế bào ung thư. Thuốc được hấp thu nhanh qua đường tĩnh mạch, với sinh khả dụng cao. Liều lượng Vinorelbine thường được điều chỉnh dựa trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, liều dùng phổ biến là 25-30 mg/m², truyền tĩnh mạch mỗi tuần một lần. Thuốc được chuyển hóa chủ yếu ở gan và đào thải qua thận, do đó cần theo dõi chức năng gan thận trong quá trình điều trị.

1.2. Tổng quan về ung thư phổi không tế bào nhỏ

Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) chiếm khoảng 80-85% các trường hợp ung thư phổi. Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, khi các phương pháp điều trị như phẫu thuật không còn khả thi. Điều trị ung thư bằng hóa chất, đặc biệt là Vinorelbine, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của Vinorelbine trong điều trị UTPKTBN, đồng thời phân tích các tác dụng phụ liên quan.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ và được điều trị bằng Vinorelbine tại Bệnh viện Bạch Mai. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án, đánh giá hiệu quả điều trị thông qua các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng, đồng thời theo dõi các tác dụng phụ của thuốc. Các tiêu chí đánh giá bao gồm tỷ lệ đáp ứng điều trị, thời gian sống không tiến triển của bệnh, và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán UTPKTBN và được chỉ định điều trị bằng Vinorelbine tại Bệnh viện Bạch Mai. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân ở giai đoạn IIIB hoặc IV, không có khả năng phẫu thuật, và có đủ điều kiện sức khỏe để tiếp nhận hóa trị. Các bệnh nhân có tiền sử dị ứng với Vinorelbine hoặc đang điều trị bằng các thuốc khác bị loại trừ khỏi nghiên cứu.

2.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân, bao gồm thông tin về tuổi, giới tính, giai đoạn bệnh, và các phương pháp điều trị trước đó. Hiệu quả điều trị được đánh giá thông qua tiêu chuẩn RECIST, trong khi các tác dụng phụ được phân loại theo tiêu chuẩn CTCAE. Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích mối tương quan giữa liều lượng Vinorelbine và hiệu quả điều trị, cũng như các tác dụng phụ liên quan.

III. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy Vinorelbine có hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh UTPKTBN, với tỷ lệ đáp ứng điều trị đạt 35-40%. Tuy nhiên, các tác dụng phụ như giảm bạch cầu và buồn nôn xuất hiện ở hơn 50% bệnh nhân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng liều lượng Vinorelbine cần được điều chỉnh dựa trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân để giảm thiểu các tác dụng phụ.

3.1. Hiệu quả điều trị của Vinorelbine

Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy Vinorelbine giúp kéo dài thời gian sống không tiến triển của bệnh nhân UTPKTBN. Tỷ lệ đáp ứng điều trị đạt 35-40%, với thời gian sống trung bình là 8-10 tháng. Các bệnh nhân ở giai đoạn IIIB có tỷ lệ đáp ứng cao hơn so với giai đoạn IV. Hiệu quả điều trị của Vinorelbine được đánh giá là khả quan, đặc biệt khi kết hợp với các thuốc hóa trị khác.

3.2. Tác dụng phụ của Vinorelbine

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của Vinorelbine bao gồm giảm bạch cầu (50-60%), buồn nôn (40-50%), và mệt mỏi (30-40%). Mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ thường tăng lên theo số chu kỳ điều trị. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc điều chỉnh liều lượng Vinorelbine có thể giúp giảm thiểu các tác dụng phụ này, đồng thời duy trì hiệu quả điều trị.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành dược học khảo sát tình hình sử dụng vinorelbine trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại trung tâm y học hạt nhân và ung bướu bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thƣ phổi (UTP) là bệnh lý ác tính phổ biến, nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thƣ trên thế giới. Ung thƣ phổi đang trở thành mối lo ngại đe dọa sức khỏe, sự phát triển của toàn cầu. Theo thống kê của cơ quan nghiên cứu ung thƣ quốc tế (IARC) năm 2012, thế giới có khoảng 1,82 triệu ngƣời mới mắc và 1,59 triệu trƣờng hợp chết vì căn bệnh này. Tại Việt Nam, số liệu theo thứ tự tƣơng ứng là 21,87 nghìn và 19,56 nghìn ngƣời, trong đó 80-85% các trƣờng hợp là ung thƣ phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), 62,55% bệnh nhân khi vào viện không còn khả năng phẫu thuật [15, 25].

Hiện nay, chẩn đoán và điều trị UTPKTBN đã có nhiều tiến bộ với sự đa dạng về các kỹ thuật chẩn đoán cũng nhƣ các phƣơng pháp điều trị. Về chẩn đoán, có thể chẩn đoán nhanh hơn và sớm hơn thông qua các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, nội soi, siêu âm, chụp cắt lớp, sinh thiết… Tuy nhiên do thói quen không thƣờng xuyên khám sức khỏe định kỳ nên đa số ngƣời Việt Nam khi phát hiện mắc UTP thƣờng ở giai đoạn muộn khó điều trị. Về điều trị UTP là điều trị đa mô thức bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, hóa chất, điều trị đích tùy thuộc vào giai đoạn bệnh. Phẫu thuật đƣợc lựa chọn đầu tiên đối với ung thƣ phổi giai đoạn còn phẫu thuật đƣợc, nhƣng bệnh nhân khi phát hiện mắc ung thƣ phổi thì thƣờng ở giai đoạn muộn khó có thể phẫu thuật [8, 22, 33].

Xạ trị làm hạn chế sự phát triển của khối u và ức chế sự hoạt động của các tế bào lan tràn rải rác xung quanh khối u trƣớc và sau phẫu thuật. Nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là xâm hại cả các tế bào lành xung quanh vị trí xạ trị [6, 13, 28]. Điều trị bằng hóa chất là phƣơng pháp sử dụng các thuốc ức chế sự phát triển, nhân lên của tế bào ung thƣ và thải loại chúng ra khỏi cơ thể, phƣơng pháp này có vai trò quan trọng trong điều trị UTP đặc biệt là UTPKTBN giai đoạn muộn không phẫu thuật đƣợc. Các nghiên cứu đã cho thấy những tác động tích cực của nhóm hóa trị, hiệu quả điều trị tốt hơn và an toàn hơn xạ trị.

Vinorelbine là một trong những thuốc đầu tiên thuộc nhóm hóa trị đƣợc cục quản lý dƣợc phẩm (FDA) Hoa Kì chấp thuận cho sử dụng điều trị UTP ở ngƣời từ năm 1994 [38] và hiện nay đã đƣợc áp dụng điều trị ở nhiều nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bên cạnh hiệu quả đã đƣợc chứng minh, vinorelbine có một số TDKMM nhƣ buồn nôn, mệt mỏi, thiếu máu, giảm bạch cầu…[38]. Hiện tại, ở Việt Nam, số lƣợng đề tài nghiên cứu về tình hình sử dụng cũng nhƣ TDKMM của vinorelbine trong điều trị UTP vẫn đang còn rất ít. Trung tâm Y học hạt nhân và ung bƣớu - Bệnh viện Bạch Mai là một trong những trung tâm hàng đầu cả nƣớc về chẩn đoán và điều trị ung thƣ, trong đó có UTP, số lƣợng bệnh nhân có chẩn đoán UTPKTBN đƣợc chỉ định điều trị bằng vinorelbine chiếm tỷ lệ cao.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này tại Trung tâm y học hạt nhân và ung bƣớu Bệnh viện Bạch Mai “ với hai mục tiêu: 1. Khảo sát tình hình sử dụng vinorelbine trong điều trị UTPKTBN tại Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai. Phân tích hiệu quả điều trị và TDKMM của vinorelbine trong điều trị UTPKTBN tại Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu Bệnh viện Bạch Mai. CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tổng quan về ung thƣ phổi Ung thƣ phế quản hay ung thƣ phổi (UTP) là bệnh ác tính phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản, phế nang hoặc từ các tuyến của phế quản[8, 9].

Dịch tễ học Theo ghi nhận của Globocan IARC (2012) ung thƣ phổi là bệnh ung thƣ phổ biến nhất trên thế giới trong nhiều thập kỉ. Trong năm 2012 ƣớc tính có khoảng 1,8 triệu trƣờng hợp mới (12,9%), 58% trong số đó xảy ra ở các vùng kém phát triển. UTP là ung thƣ phổ biến nhất ở nam giới trên toàn cầu (1,2 triệu, 16,7% trong tổng số) với tỷ lệ mắc bệnh đƣợc ƣớc tính cao nhất tại khu vực Trung và Đông Âu là (53,5 trên 100.000), thứ hai là Đông Á (50,4 trên 100.000) và thấp nhất ở Trung Âu và Tây Phi (lần lƣợt là 2,0 và 1,7 trên 100. Ở phụ nữ, tỷ lệ mắc bệnh thƣờng thấp hơn so với nam giới (583.

Tại Việt Nam, hằng năm số ngƣời mắc UTP là trên 21 nghìn (17,5%, đứng thứ 2 sau ung thƣ gan ở cả hai giới). Tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi ở nam là 41,1/100.000 và ở nữ là 12,2/100. Đến năm 2012, có trên 19 nghìn ca tử vong do UTP, chiếm 20,6% tổng số ca tử vong do ung thƣ (đứng thứ 2 sau ung thƣ gan). Tỷ lệ tử vong chuẩn theo tuổi ở nam là 37,2/100.000 dân, ở nữ là 10,8/100.

Triệu chứng lâm sàng Bệnh nhân có thể phát hiện bệnh tình cờ khi đi khám sức khỏe hoặc gặp một hay nhiều triệu chứng lâm sàng sau:  Ho khan: ho thƣờng kéo dài nhiều tuần (>2 tuần). Chỉ giảm tạm thời hoặc không đỡ với các thuốc giảm ho thông thƣờng [9].  Ho ra máu: máu ít lẫn với đờm, lúc đầu ít sau tăng dần, lúc đầu máu còn đỏ sau chuyển sang màu đen [9].  Đau ngực: đau thƣờng ở vị trí tƣơng ứng với khối u, cảm giác căng tức nặng ngực.

Đối với ung thƣ ngoại vi, đau ngực là do khối u xâm lấn thành ngực [9].  Khó thở: Do u trong lòng khí phế quản chèn ép, xâm lấn gây tắc nghẽn khí phế quản. Do u quá to ở ngoài đè ép vào hoặc do tràn dịch màng phổi gây nên. Ran rít, ran ngáy do khí phế quản lớn bị chèn ép bởi khối u từ bên trong hay khối hạch, khối u đè ép từ bên ngoài vào [9].

 Hội chứng nhiễm trùng phế quản – phổi cấp: viêm phổi, áp xe phổi có thể xuất hiện sau chỗ hẹp phế quản do u chèn ép, bệnh nhân thƣờng có sốt, đau ngực, ho khạc đờm, khám lâm sàng thấy hội chứng đông đặc, chụp X-quang có hình ảnh viêm phổi, xét nghiệm thấy máu lắng tăng, bạch cầu tăng [9].  Các biểu hiện khác có thể gặp: gầy sút, sốt, mệt mỏi, khó thở [9]. Triệu chứng cận lâm sàng Ngoài các triệu chứng lâm sàng kể trên, cần làm xét nghiệm cận lâm sàng để xác định bệnh:  Chụp X-quang lồng ngực thẳng, nghiêng: là xét nghiệm thƣờng quy, đƣợc sử dụng trong chẩn đoán UTP với các giá trị phát hiện các đám mờ ở phổi, các tổn thƣơng kèm theo: tràn dịch màng phổi, phá huỷ xƣơng [34].  Chụp cắt lớp vi tính: Trong chẩn đoán UTP, chụp cắt lớp vi tính (CT) có nhiều giá trị trong đánh giá u nguyên phát, hạch trung thất, phát hiện các tổn thƣơng di căn nhƣ phổi đổi bên, não, xƣơng, gan, tuyến thƣợng thận [31].

 Chụp PET/CT: Hình ảnh PET/CT là sự kết hợp giữa hình ảnh cấu trúc của CT và hình ảnh chức năng của PET, giúp đánh giá giai đoạn bệnh một cách hệ thống và chính xác, từ đó đánh giá khả năng phẫu thuật, lựa chọn phƣơng pháp điều trị thích hợp và tiên lƣợng bệnh [21, 39].  Hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân: Chụp cộng hƣởng từ (MRI) là phƣơng pháp có nhiều giá trị trong chẩn đoán UTP, đặc biệt trong các trƣờng hợp: Đánh giá khối u xâm lấn hay đè đẩy vào mạch máu, di căn xâm lấn tủy xƣơng, tổn thƣơng ở đỉnh phổi, cơ hoành, màng phổi, khối u cạnh cột sống, cột sống, não [11].  Xét nghiệm tế bào học: Là một trong các phƣơng pháp quan trọng giúp chẩn đoán UTP. Trong một số trƣờng hợp, không thể tiến hành sinh thiết khối u, xét nghiệm tế bào học là hết sức cần thiết [34].

 Xét nghiệm mô bệnh học: là xét nghiệm quan trọng nhất, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định. Có thể làm xét nghiệm mô bệnh học với bệnh phẩm là khối u, hạch đã di căn, bệnh phẩm sinh thiết hoặc mẩu mô sau phẫu thuật [35, 36].  Một số kỹ thuật khác: nội soi phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực dƣới hƣớng dẫn của CT, nội soi màng phổi, nội soi trung thất – lồng ngực, xét nghiệm phân tích đột biến gen EGFR, xét nghiệm chất chỉ điểm khối u, siêu âm ổ bụng, đo chức năng hô hấp, xạ hình xƣơng bằng máy SPECT…[34]. Chẩn đoán  Chẩn đoán xác định [6]  Dựa vào lâm sàng: Triệu chứng lâm sàng (ho khan, ho máu, đau ngực, khó thở), hội chứng cận ung thƣ (đầu ngón tay, ngón chân hình dùi trống, hội chứng nội tiết…).

 Cận lâm sàng: X-quang phổi, chụp cắt lớp vi tính ngực.  Chuẩn đoán tế bào học, mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xác định.  Chẩn đoán phân biệt: với lao phổi, viêm phổi, áp xe phổi [6].  Chẩn đoán giai đoạn: Theo phân loại TNM lần thứ 7 của AJCC (American Joint Committee on Cancer) năm 2009 và UICC (Union International Contre le Cancer) công nhận bắt đầu vào tháng 1 năm 2010 [8, 13, 22].

 T: U nguyên phát  Tx: Không xác định đƣợc u nguyên phát, hoặc có tế bào UT trong dịch tiết hay dịch rửa phế quản nhƣng không nhìn thấy u trên hình ảnh hoặc nội soi phế quản.  T0: Không có dấu hiệu của u nguyên phát.  Tis: Ung thƣ tại chỗ.  T1: U có đƣờng kính lớn nhất ≤ 3 cm, u đƣợc bao quanh bằng phổi hoặc lá tạng màng phổi, không có dấu hiệu u xâm lấn tới phế quản xa và tiểu phế quản thuỳ khi thăm khám bằng nội soi.

 T1a: U có đƣờng kính lớn nhất ≤ 2 cm.  T1b: U có đƣờng kính lớn nhất >2 cm nhƣng ≤ 3 cm.  T2: U> 3 cm nhƣng ≤ 7 cm hoặc u có bất kỳ một trong số các dấu hiệu sau: Xâm lấn phế quản gốc, cách xa carina ≥ 2 cm, xâm lấn lá tạng màng phổi phối hợp với xẹp phổi hoặc viêm phổi tắc nghẽn do u xâm lấn tới vùng rốn phổi nhƣng không bao gồm toàn bộ phổi.  T2a: U có đƣờng kính lớn nhất > 3 cm nhƣng ≤ 5 cm.

 T2b: U có đƣờng kính lớn nhất > 5 cm nhƣng ≤ 7 cm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát sử dụng Vinorelbine trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào hiệu quả của Vinorelbine trong việc điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC). Bài viết cung cấp cái nhìn chi tiết về cách thức sử dụng thuốc này tại Bệnh viện Bạch Mai, bao gồm các kết quả lâm sàng, tỷ lệ đáp ứng điều trị và tác dụng phụ. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến các phương pháp điều trị hiện đại cho NSCLC.

Để mở rộng kiến thức về các phác đồ điều trị khác, bạn có thể tham khảo Luận án đánh giá kết quả hoá xạ trị đồng thời phác đồ paclitaxel carboplatin trong ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiib, nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của phác đồ paclitaxel-carboplatin trong điều trị NSCLC giai đoạn IIIB. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành dược học khảo sát tình hình sử dụng paclitaxel trong bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ tại trung tâm y học hạt nhân và ung bướu bệnh viện bạch mai cung cấp thêm thông tin về việc sử dụng paclitaxel tại cùng một bệnh viện. Cuối cùng, Luận văn tốt nghiệp đánh giá đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiib iv được điều trị bằng afatinib sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả của afatinib trong điều trị NSCLC giai đoạn tiến triển. Mỗi bài viết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp điều trị hiện đại và đa dạng cho ung thư phổi.