Chương 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC ĐIỂM Ô NHIỄM TỒN LƯU TẠI HÀ NỘI 1. Khái niệm chung về điểm ô nhiễm tồn lưu 1. Định nghĩa điểm ô nhiễm tồn lưu Ô nhiễm tồn lưu cho đến nay vẫn là một khái niệm còn xa lạ không chỉ đối với cộng đồng mà còn cả với nhiều nhà quản lý và nhà khoa học ở Việt Nam. Ngay cả trên thế giới, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về điểm ô nhiễm tồn lưu.TS Đặng Kim Chi tại Hội thảo xử lý ô nhiễm tồn lưu Việt Đức năm 2007 định nghĩa: “Điểm ô nhiễm tồn lưu là khu vực đã và đang tồn tại những chất ô nhiễm, có khả năng hoặc tiềm ẩn khả năng gây nhiễm độc môi trường khí, nước, đất và sinh vật cũng như tới sức khỏe con người”.
Theo định nghĩa của Bộ Môi trường New Zealand: “Điểm ô nhiễm (contaminated site) là một vị trí/khu vực mà tại đó, chất nguy hại xuất hiện ở nồng độ lớn hơn nồng độ cho phép và các đánh giá chỉ ra rằng nó gây ra, hoặc có tiềm năng gây ra rủi ro trung hạn hoặc dài hạn cho sức khỏe cộng động và môi trường". Theo nhóm Quản lý điểm ô nhiễm tồn lưu của Canada thì "Điểm ô nhiễm tồn lưu là vị trí/khu vực mà chất ô nhiễm xuất hiện ở nồng độ (1) cao hơn nồng độ thông thường và gây ra, hoặc có thể gây ra các tác động nguy hại trung hạn hoặc dài hạn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, hoặc (2) vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong luật". Theo các Bộ: Môi trường, Giao thông vận tải, Năng lượng và Truyền thông Thụy Sĩ thì "Điểm ô nhiễm tồn lưu là những điểm bị ô nhiễm mà dẫn tới những tác hại hoặc tổn thất, hoặc tiềm tàng nguy cơ gia tăng tác hại". Luật Bảo vệ Môi trường năm 1990 của Anh (có hiệu lực từ năm 2000), phần 2A, khoản 78A(2) định nghĩa: "Điểm ô nhiễm là mọi khu vực có chứa các loại chất được 4 xác định (1) gây ra những tổn thương nghiêm trọng hoặc có tiềm năng gây ra các tổn thương, hoặc (2) gây ra ô nhiễm hoặc có thể gây ra ô nhiễm cho các nguồn được kiểm soát".
Mỗi quốc gia đều xây dựng riêng cho mình khái niệm về ô nhiễm tồn lưu phù hợp với phương pháp tiếp cận nghiên cứu và tình hình ô nhiễm tồn lưu của từng quốc gia/vùng/khu vực. Với mục đích khảo sát và đánh giá các điểm ô nhiễm tồn lưu tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, do đó sử dụng khái niệm ô nhiễm tồn lưu của GS. Đặng Kim Chi. Phân loại các điểm ô nhiễm tồn lưu Có nhiều cách phân loại điểm ô nhiễm tồn lưu.
Nhìn chung có hai cách phân loại phổ biến nhất được sử dụng là phân loại theo tính chất ô nhiễm và theo nguồn gốc ô nhiễm [4]. Phân loại theo tính chất ô nhiễm: có thể chia các điểm ô nhiễm tồn lưu thành các dạng sau: − Điểm ô nhiễm tồn lưu rất nghiêm trọng: là những điểm mà tại đó, chất ô nhiễm tác động trực tiếp/gián tiếp và gây tổn thất về nhân mạng hoặc biến đổi gen trên cơ thể người trên một phạm vi rộng và trong một thời gian dài. − Điểm ô nhiễm tồn lưu nghiêm trọng: là những điểm mà tại đó, chất ô nhiễm tác động trực tiếp/gián tiếp đến sức khỏe con người và hệ sinh thái, và trong thời gian dài có thể gây các tổn thất về nhân mạng. − Điểm ô nhiễm tồn lưu trung bình: là những điểm mà tại đó, chất ô nhiễm tác động gián tiếp đến con người và hệ sinh thái, về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
− Điểm ô nhiễm tồn lưu nhẹ: là những điểm mà tại đó, chất ô nhiễm tác động gián tiếp và gây ảnh hưởng nhất định đến hệ sinh thái và cảnh quan khu vực. 5 Căn cứ theo loại hình gây ô nhiễm, điểm ô nhiễm tồn lưu có thể phân thành các loại hình sau: − Bãi chôn lấp rác thải (sinh hoạt, công nghiệp, chất thải nguy hại, v. − Kho xăng, dầu, kho hóa chất (axít, phụ gia, v.), thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, diệt cỏ, v. − Nền của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
− Các khu mỏ khai khoáng. − Các bãi xỉ quặng, chất thải khai khoáng. − Khu tái chế hoặc xử lý chất thải tập trung, v. − Khu vực sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, khai quang với lượng lớn.
− Các khu vực bị nhiễm hóa chất/ chất độc hóa học trong chiến tranh. Tại Việt Nam dựa trên phạm vi và mức độ tác động đến môi trường, cũng như căn cứ trên khả năng hồi cứu thông tin nên có 5 nhóm loại hình ô nhiễm tồn lưu [4]: − Bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại thuộc đô thị loại đặc biệt, loaị 1, 2 và 3. − Cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường đã đóng cửa hoặc di dời trong danh mục của Quyết định 64/2003/ QĐ – TTg. − Khu vực khai thác và chế biến khoáng sản đã ngừng khai thác và chưa hoàn nguyên.
− Kho xăng dầu, kho hóa chất trước đây và hiện nay không còn sử dụng. − Khu vực lưu giữ các chất thải và hóa chất của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Tác nhân của ô nhiễm tồn lưu Điểm ô nhiễm tồn lưu có các tác động tiềm ẩn đến các thành phần môi trường tiếp nhận như nước mặt, nước ngầm, không khí, đất, trầm tích, hệ sinh thái v.v…bởi các tác nhân ô nhiễm tồn lưu đăc trưng sau [4, 6, 8]: + Kim loại nặng ( Pb, Hg, Cd ) cùng với các hợp chất của chúng và một số của á kim (Asen, Selen) có khả năng tích tụ trong chuỗi thức ăn gây ra nhiễm độc mãn tính như viêm loét da, viêm đường hô hấp, ung thư. Nếu phơi nhiễm với liều lượng cao thì gây nhiễm độc cấp tính như khô miệng, khát nước, đau bụng dữ dội, nôn mửa, tiêu chảy, giảm huyết áp, giảm nhiệt độ cơ thể, co rút chân tay, co giật dẫn đến tử vong.
+ Chất phóng xạ như U, Ra, Th, Eu, Cs, Po,. gây nhiễm độc cấp tính như nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, rối loạn điện giải dẫn đến truỵ tim mạch và tử vong. Nếu phơi nhiễm ở liều lượng thấp, thời gian tiếp xúc lâu thì gây tổn thương da, tổn thường cơ quan tạo huyết, bạch và tiểu cầu, suy tuỷ dẫn đến xuất huyết, nhiễm trùng dẫn đến tử vong, ung thư các tuyến trong cơ thể. + Hợp chất hữu cơ khó phân huỷ (POPs – Persistent Organic Pollutants) gây ra các bệnh về nội tiết, ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản, suy giảm miễn dịch, gây bệnh thần kinh và ung thư.
Theo công ước Stockholm có 10 chất có trong hóa chất bảo vệ thực vật cần phải loại trừ là Aldrin, Chlordane, Dieldrin, Endrin, Heptachlor, Hexachlorobenzene, Mirex, Toxaphene, Polychlorinated, Biphenyls (PCB) và chất cần hạn chế là DDT. Thực tế, các tác động gây ra do các điểm ô nhiễm tồn lưu rất khó đánh giá trực tiếp, vì các chất ô nhiễm chính chủ yếu là nằm trong đất hoặc di chuyển trong đất hoặc có trong nước ngầm, các chất ô nhiễm này có thể di chuyển rất chậm từ tầng đất này sang tầng đất khác, hoặc đi vào mạch nước ngầm. Nếu không có đầy đủ các thông tin lịch sử, hiện trạng quản lý thì việc phát hiện ra điểm ô nhiễm tồn lưu là rất khó khăn. 7 Khi các chất ô nhiễm từ các điểm ô nhiễm tồn lưu được phát hiện thì chúng đã có thể gây ra các tác hại rất nghiêm trọng đến hệ sinh thái và cộng đồng, ví dụ như ở làng ung thư Thạch Sơn, Phú Thọ [4].
Hiện trạng các điểm ô nhiễm tồn lưu tại Hà Nội 1. Bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp, chất thải nguy hại [4, 5] T 7 8 Tổng lượng rác thải sinh hoạt đô thị của thành phố vào khoảng 5.500 tấn/ngày; ngoài ra chất thải công nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải y tế với tổng khối lượng khoảng 2.Chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các loại chất thải khoảng 60%. Chất thải xây dựng chiếm khoảng 25% và lượng chất thải phân bùn bể phốt là 5%. T 7 8 Riêng chất thải công nghiệp chiếm 10% (trong đó bao gồm luôn cả chất thải nguy hại) và hàng năm tăng thêm từ 3-5%.
Nguồn phát thải loại này tập trung vào một vài ngành như: chế biến thực phẩm, hóa chất và cơ khí. Riêng ba ngành này đã chiếm gần nửa tổng lượng chất thải công nghiệp của thành phố. T 7 8 Ngoài ra, lượng rác y tế xấp xỉ khoảng 20 tấn/ngày; tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trong đó chiếm tỷ lệ tương đối cao, chừng 5 tấn/ngày. T 7 8 Hiện tại, công ty TNHH nhà nước một thành viên Môi trường đô thị (URENCO) chịu trách nhiệm thu gom và vận chuyển phần lớn lượng chất thải sinh hoạt của Thành phố.
Ngoài ra, còn có 5 xí nghiệp môi trường đô thị chịu trách nhiệm thu gom tại khu vực các huyện ngoại thành và các đơn vị tham gia thu gom vận chuyển theo hình thức xã hội hóa như: Công ty cổ phần Thăng Long, Tây Đô, hợp tác xã Thành Công. T 7 8 Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạt 95%, các huyện ngoại thành đạt 60%, lượng chất thải công nghiệp thu gom đạt 85 – 90% và chất thải nguy hại đạt 60 – 70%. 8 T 8 6 Việc xử lý, tiêu hủy, tái chế chất thải rắn hiện chủ yếu vẫn dựa vào các bãi Nam Sơn (Sóc Sơn), Xuân Sơn (Sơn Tây), Núi Thoong (Chương Mỹ), Kiêu Kỵ ( Gia Lâm), T 8 6 Mễ Trì (Từ Liêm) và nhà máy xử lý rác ở Cầu Diễn, Seraphin Sơn Tây. 13T Nhìn chung các bãi chôn lấp đều ở tình trạng ô nhiễm nhẹ (có mùi khó chịu) và cần được quan tâm.
T 7 8 Hai bãi chôn lấp đã ngừng hoạt động là Núi Thoong và Mễ Trì mặc dù vẫn chưa T 7 8 T 7 8 T 7 8 có các báo cáo khẳng định tác động đến sức khỏe con người và hệ sinh thái nhưng các kết quả phân tích chất lượng môi trường đất, nước mặt, nước ngầm đều xuất hiện các thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Điều đó chứng tỏ rằng các bãi chôn lấp đã đóng cửa này vẫn đang gây ô nhiễm môi trường và có xu hướng lan truyền chất ô nhiễm đi xa trong môi trường. Do đó hai bãi chôn lấp này cần được quan tâm đặc biệt.