CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Coc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt. 1845) là loài cây ngập mặn thật sự (true mangrove) thuộc họ Bàng (Combretaceae), bộ Sim (Myrtales), lớp Ngoc Lan (Magnoliopsida). Cũng như những loài cây ngập mặn khác, Cóc đỏ có vai trò quan trọng đối với 6n định môi trường và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ven bờ [1].
Gỗ Cóc đỏ rất có giá trị vì chúng rất bền chắc, đẹp và có mùi thơm, thường được dùng để làm cầu, sàn nhà, đóng giường. Hoa Cóc đỏ màu đỏ, đẹp nên có giá trị trong nghệ thuật, trang trí [2]. Ngoài ra, các hợp chất từ dịch chiết lá Cóc đỏ có khả năng kháng khuẩn [3]. Trên thế giới, loài Cóc đỏ phân bố rất it ở vùng Đông Phi, Bắc Australia, Polynesia và Đông Nam Á [1; 4].
Những tác động của con người và thiên nhiên đã làm cho những quan thé loài này bị cô lập và phân mảnh, điều này có thé dẫn đến giảm khả nang sinh sản hoặc ton tại của chúng. Do bị đe dọa tuyệt chủng cao, loài Cóc đỏ đã được đưa vào sách đỏ cần được bảo tồn ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [1; 5]. Ở Việt Nam, Coc đỏ phân bồ rất ít ở Thừa Thiên Huế, Cần Giờ, Côn Đảo, Phú Quốc, Khánh Hòa [6; 7]. Ở tỉnh Khánh Hòa, loài Cóc đỏ phân bố ở vịnh Cam Ranh và đầm Thủy Triều.
Tuy nhiên, quần thể Cóc đỏ quý hiếm nơi đây đang bị đe dọa phá hủy, có nguy cơ biến mất do những tác động của con người như phá rừng ngập mặn để xây dựng ao, dia nuôi thủy sản, phát triển cơ sở hạ tang, khu dân cư. Trong gân 10 năm qua, các nhà khoa học Việt Nam đã có những công bố liên quan đến khả năng tái sinh tự nhiên của loài Cóc đỏ. Độ hữu thụ của hạt phan Coc do ở Thừa Thiên Huế rất thấp, chỉ đạt khoảng 9,85% [9]. Nghiên cứu về hiện tượng học sinh sản của loài này ở vịnh Cam Ranh cho thấy chỉ có 52,67% trái không bị sâu [10].
Tỷ lệ nảy mầm của hat Cóc đỏ chỉ đạt 2% sau 3 tháng gieo [6]. Trong một nghiên cứu khác, một số nhân tố sinh thái tự nhiên như yếu tố mùa, chất hữu cơ và pH đất cũng có ảnh hưởng đến khả năng tái sinh tự nhiên của loài Cóc đỏ [11]. Thêm vào đó, cây con trong tự nhiên thường bị cua, còng căn đứt [6]. Vì vậy, khả năng tái sinh tự nhiên của loài Cóc đỏ rất kém, làm cho công tác trồng phục hồi các quan thé Cóc đỏ gặp rất nhiều khó khăn đo thiếu nguồn giống.
Nuôi cấy phôi là kỹ thuật kích thích phôi phát triển thành cây con trong điều kiện thí nghiệm. Phương pháp này phù hợp với những loài mà hạt có tỷ lệ sống thấp hoặc thời gian ngủ kéo dai [12]. Cho đến nay, nuôi cấy phôi Cóc đỏ vẫn chưa được nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát khả năng nuôi cấy phôi cây Coc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt.
Luận điểm mới của dé tài Hiện nay, nghiên cứu nuôi cấy phôi in vitro trên nhiều đối tượng cây lai hoặc có thời gian miên trạng kéo dài đã được công bố. Tuy nhiên, việc khảo sát khả năng nuôi cay phôi loài cây ngập mặn vẫn chưa được công bố. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiéu chung Đánh giá khả năng nuôi cấy phôi cây Coc đỏ in vitro nhằm tạo nguồn nguyên liệu khởi đầu cho kỹ thuật vi nhân giống loài cây quý này.
Mục tiêu cụ thể Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển của phôi cây Cóc đỏ. Nội dung nghiên cứu - Khảo sát tính sống của phôi cây Cóc đỏ. - Khảo sát ảnh hưởng của môi trường khoáng đến sự phát triển của phôi cây Cóc đỏ. - Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ sucrose đến sự phát triển của phôi cây Cóc đỏ.
- Khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật (gibberellin, auxin, cytokinin) đến sự phát triển của phôi cây Cóc đỏ. - Đánh gia sự tang trưởng cây con Coc đỏ thu được in vitro. - Khảo sát ảnh hưởng độ mặn dén sự tăng trưởng của cây con Coc đỏ. Giới hạn của đề tài Nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng Cóc đỏ, một loài cây ngập mặn quý hiếm.
Mẫu trái được thu từ cây đã nghiên cứu hiện tượng học sinh sản trước đây. Vì vậy, sô lượng trái thu về rât hạn chê. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Phan loai khoa hoc - Giới: Thực vat (Plantae) - Ngành: Thực vật có mach (Tracheophyta) - Lớp: Hai lá mầm (Magnoliopsida) - Bộ: Sim (Myrtales) - Họ: Bàng (Combretaceae) - Chi: Lumnitzera 2.
Đặc điểm sinh học, sinh thái và phân bố của loài Cóc đó Coc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt. 1845) là loài cây ngập mặn that sự. Cây gỗ nhỡ cao từ 2 - 15 m, đường kính tới 20 cm. Lá hình trái xoan ngược, đài 6 cm, rộng 2 cm và thon nhọn tới tận gốc.
Hoa màu đỏ, hợp thành cụm ở đầu cành. Trái mập, hình trai xoan, dài 1 — 2 cm và chứa 1 hạt (Hình 2. Cây mọc ở rừng ngập mặn cửa sông ven biển, nơi chỉ ngập triều cao, hoặc ít ngập nước mặn, đất sét hơi chặt [13]. Kết quả nghiên cứu về hiện tượng học sinh sản của quan thé Cóc đỏ ở vịnh Cam Ranh cho thấy Cóc đỏ bắt đầu ra hoa vào khoảng cuối tháng 3, hoa nở rộ nhất vào khoảng tháng 5, 6.
Trái xuất hiện vào khoảng tháng 4 cho đến tháng 8. Trái già thường gặp nhiều nhất vào tháng 7, 8. Đến cuối thang 8 trái thường rụng gan hết, chỉ còn gặp rất ít trên một số cây ra hoa muộn. Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây ngập mặn, Tomlinson cho rằng loài Cóc đỏ chỉ phân bố ở khu vực có độ mặn thấp, đất xốp và lớp mảnh vụn hữu cơ phủ trên sàn rừng dày [14].
Điều này rất phù hợp với rừng ngập mặn ở Aurora (Philippines) vì những cây lớn và số lượng cây chiếm ưu thế đều tập trung ở những nơi gần cửa sông và lạch nước nhỏ [2]. Cũng tương tự ở vịnh Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa), quan thể Cóc đỏ phân bố ở vùng triều cao, it ngập nước, trên thể nền phố biến là cát pha mùn bã hữu cơ, ít chịu ảnh hưởng bởi độ mặn cao. Quan sát sự phân bố trên toàn đải Cóc đỏ cho thấy ở những nơi gần các lạch nước ngọt đồ ra vịnh Cam ˆ Hình 2. a) Cây Coc đỏ; b) Hoa Cóc đỏ; c) Trai Cóc đỏ và d) Hạt Coc đỏ Trên thé giới, loài Cóc đỏ phân bố ở vùng Đông Phi, trai dài từ vùng Đông Nam Á đến phía Bắc Australia và Polynesia.
Ở Đông Nam Á, loài này được phát hiện ở các nước Myanmar, Campuchia, Thai Lan, Malaysia, Singapore, Philippines, Đông Timo, Brunei, Indonesia, Papua New Guinea và Việt Nam [1; 4]. O Viét Nam, Céc đỏ phân bố rất it ở Thừa Thiên Huế, Can Giờ, Côn Dao, Phú Quốc, Khánh Hòa [6; 7]. Tại tiêu khu 7 thuộc rừng ngập mặn Can Giờ (Tp. Hồ Chi Minh), 30 cá thé Cóc đỏ được tìm thấy phân bố trên diện tích 1.
Ở vịnh Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa), Cóc đỏ phân bố ở vùng Cam Lập và Mỹ Ca. Quần thể Cóc đỏ ở Cam Lập nhỏ, chỉ gồm 11 cây phân bé rải rác trên điện tích ước khoảng 500 m2. Quan thê Cóc đỏ ở Mỹ Ca có khoảng 1.266 cây, phân bố trên diện tích khoảng 1,5 ha. Day được coi là quan thé Coc dé rất đặc sắc và lớn nhất trong cả nước.
Cũng như những loài cây ngập mặn khác, Cóc đỏ có vai trò quan trọng đối với ôn định môi trường và kinh tế - xã hội vùng ven bờ [1]. Cóc đỏ rất có giá trị vì gỗ của chúng rất bên và chắc. Gỗ vẫn không bị mục sau 50 năm ngâm trong nước mặn, nhất là khi còn lớp vỏ bên ngoài nên thường được dùng dé làm cầu, cầu tàu, trục xe bò, làm sàn nhà, đóng giường. Hơn nữa, gỗ cây Cóc đỏ đẹp và có mùi thơm giống như hoa hồng càng làm tăng giá trị gỗ.
Tuy nhiên, cây gỗ có kích thước lớn lại rất hiễm [4]. Ngoài ra, loài này đặc biệt được biết đến như là một loài cây ngập mặn tốt nhất dé dét lay than. Đặc điểm của loại than này là nhiệt lượng cao và giữ được nhiệt lâu hơn các loại than khác [2]. Ngoài ra, các hợp chất từ dịch chiết lá Cóc đỏ có khả năng kháng khuẩn [3].
Những khó khăn trong công tác bảo tồn và phục hồi quan thé Cóc đỏ Những tác động của con người và thiên nhiên đã làm cho những quân thê Cóc đỏ bị cô lập và phân mảnh. Điều này có thể là nguyên nhân làm suy giảm khả năng sinh sản hoặc tôn tại của chúng. Do bị đe dọa tuyệt chủng cao, loài Cóc đỏ đã được đưa vào sách đỏ cần được bảo tồn ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [1; 5]. Đặt trong tình trang tương tự, quan thé Cóc đỏ phân bố ở vịnh Cam Ranh dang bị de doa phá hủy, có nguy cơ biến mat do những tác động của con người như phá rừng ngập mặn dé xây dựng ao, dia nuôi thủy san, phát triển cơ sở hạ tang, khu dân cư.
Trong những năm gan đây, song song với công việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn ở nhiều nước, việc phục hồi và bảo tồn một số loài cây ngập mặn có nguy cơ tuyệt chủng như Cui biển (Heritiera littoralis), Gõ biển (Intsia bijuga), Cóc đỏ (Lumnitzera littorea). cũng được chú trọng [6]. Ở Sri Lanka, loài Cóc đỏ cũng đã được ươm trồng cho mục đích phục hồi và bảo tồn. Các quan thé Coc đỏ tự nhiên ở Nam Trung Quốc, bán đảo Mã Lai, và Bắc Australia đã được nghiên cứu về tính đa dạng và cau truc di truyén phuc vu cho viéc bao ton chung [1].
Trong gan 10 năm qua, các nhà khoa học Việt Nam đã có những công bố liên quan đến khả năng tái sinh tự nhiên của loài Cóc đỏ. Thứ nhất, độ hữu thụ của hạt phan Coc đỏ ở Thừa Thiên Huế rất thấp, chỉ đạt khoảng 9,85% [9]. Thứ hai, nghiên cứu về hiện tượng học sinh sản của loài này ở vịnh Cam Ranh cho thấy chỉ có 52,67% trái không bị sâu, không còn hạt (Hình 2. Thứ ba, tỷ lệ nảy mầm của hạt Cóc đỏ chỉ đạt 2% sau 3 tháng gieo [6].
Trong một nghiên cứu khác, một số nhân tố sinh thái tự nhiên như yếu t6 mùa, chất hữu cơ và pH đất cũng có ảnh hưởng đến khả năng tái sinh tự nhiên của loài Cóc đỏ [11].