phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề cơ sở lí luận Đây là chƣơng đƣợc xây dựng nhằm định hƣớng, xác định một hƣớng nghiên cứu phù hợp cho luận văn. Ở chƣơng này, chúng tôi trình bày, nêu ra những lí thuyết có liên quan đến đề tài nhƣ: khái niệm, đặc điểm về cấu trúc nội dung, về ngôn ngữ, tiêu chí và cách phân loại của văn bản nói chung, văn bản thuộc phong cách hành chính – công vụ, văn bản quản lí nhà nƣớc, văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, chƣơng này cũng dành một phần để phân biệt, chỉ ra sự khác biệt giữa một số loại văn bản và những khái niệm gần với đối tƣợng khảo sát của luận văn.
Đặc điểm cấu trúc nội dung của văn bản quy phạm pháp luật Chƣơng này tập trung miêu tả cấu trúc nội dung của VBQPPL nói chung và của từng văn bản cụ thể trong hệ thống này. Mục đích của chƣơng nhằm mô tả, so sánh sự giống và khác nhau về cấu trúc nội dung của văn bản thuộc hệ thống VBQPPL và chỉ ra đƣợc mô hình chung cho tất cả các văn bản, mô hình riêng cho mỗi kiểu loại văn bản riêng biệt. Một số đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật Nhiệm vụ của chƣơng này là nêu những đặc điểm về ngôn ngữ trong VBQLNN và một số đặc điểm chủ yếu về từ, câu và một số phƣơng thức liên kết chủ yếu trong VBQPPL. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái niệm và đặc trƣng của văn bản 1.1 Khái niệm về văn bản Đã có rất nhiều khái niệm về văn bản đƣợc đƣa ra theo nhiều quan điểm khác nhau.
Song, hiện nay vẫn chƣa có một khái niệm văn bản nào đƣợc tất cả các nhà ngôn ngữ học chấp nhận. Chúng tôi sẽ nêu ra một số quan niệm, khái niệm về văn bản mà chúng tôi đã tiếp xúc và cũng đƣợc sử dụng để làm cơ sở cho việc thực hiện luận văn. Galperin, "văn bản với tƣ cách sự kiện trong hành vi ngôn ngữ - mang tính hệ thống. Văn bản là một thông báo hoàn chỉnh nào đó, có nội dung riêng, đƣợc tổ chức theo mô hình trừu tƣợng của một trong những hình thức thông báo (thuộc phong cách chức năng, những biến thể và thể loại của nó) hiện hữu trong ngôn ngữ văn học và đƣợc xác định bởi những đặc trƣng đặc trƣng khu biệt của nó".
[9, 41] Moskalskaja trong cuốn "Ngữ pháp văn bản" cho rằng thuật ngữ "văn bản" biểu thị hai mặt khác nhau. "Một mặt, "văn bản" đƣợc hiểu là bất kì một phát ngôn nào cấu tạo từ một hoặc nhiều câu mang trong mình một nghĩa hoàn chỉnh theo ý đồ của ngƣời nói, mặt khác, đó là những sản phẩm lời nói nhƣ truyện, tiểu thuyết, bài báo và tạp chí, chuyên luận khoa học, những tài liệu các loại. Nhƣ vậy, đơn vị và đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản là: 1. thể thống nhất trên câu (văn bản con); 2.
sản phẩm lời nói hoàn chỉnh (văn bản lớn). Nhƣ vậy, ngôn ngữ học văn bản bao gồm hai bộ phận chủ yếu: 1. học thuyết về các thể thống nhất trên câu và 2. học thuyết về văn bản theo nghĩa rộng - sản phẩm lời nói hoàn chỉnh.
[21, 19-23] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Jule dùng từ "văn bản" nhƣ là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp [5, 22], và coi văn bản là biểu hiện của diễn ngôn. Nunan khi nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và phân biệt diễn ngôn với văn bản đã đƣa ra quan điểm về thuật ngữ "văn bản" dùng để chỉ bất kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp. Theo ông, văn bản (text) là phần ghi ở dạng viết của một sự kiện giao tiếp, truyền đạt một thông điệp hoàn chỉnh.
Sự kiện giao tiếp tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (ví dụ: một bài thuyết giáo, một cuộc giao dịch mua bán.) hoặc ngôn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một bản kê các thứ mua sắm, một tiểu thuyết. Văn bản biến đổi từ những từ đơn đến những quyển sách kéo dài vài trăm trang. [22, 21] Mak Halliday quan niệm văn bản là sản phẩm của ngôn bản. Ngôn bản là một cái gì đó xảy ra, dƣới hình thức nói hoặc viết, nghe hoặc đọc.
Khi tiến hành phân tích ngôn bản thì ngƣời ta phân tích sản phẩm của quá trình ấy; và thuật ngữ "văn bản" (text) thƣờng đƣợc cho là chỉ sản phẩm – đặc biệt là sản phẩm trong hình thức viết văn, bởi vì đây là một vật thể có thể tri giác dễ dàng nhất. Tƣơng tự với cách nói này, Halliday còn cho rằng: Từ "văn bản" đƣợc dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào đó, đƣợc nói ra hay đƣợc viết ra, có độ dài bất kì, tạo lập đƣợc một tổng thể hợp nhất (dẫn theo Diệp Quang Ban [4, 38]) Một quan niệm khác về văn bản vừa có tính khái quát cao vừa có tính hiện đại, có tầm rộng đƣợc giải thích cụ thể trong cuốn Bách khoa thƣ ngôn ngữ và ngôn ngữ học. Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài – chủ đề. của nó hình thành nên một đơn vị, loại nhƣ một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng.
Trƣớc hết đƣợc coi nhƣ một tài liệu viết, thƣờng đồng nghĩa với sách, [. Phân tích diễn ngôn, đôi khi đƣợc đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì đƣợc dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn đƣợc dùng bao gồm cả văn bản. (dẫn theo Diệp Quang Ban, trong "Văn bản và liên kết trong tiếng Việt") 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đó là những quan niệm về văn bản, diễn ngôn của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Ở Việt Nam, các quan niệm về văn bản là sự kế thừa những quan niệm, nghiên cứu đã có trên thế giới, đồng thời phát triển trên cơ sở nghiên cứu những đặc thù riêng của văn bản tiếng Việt.
Đinh Trọng Lạc quan niệm: Văn bản với tƣ cách là sản phẩm của hoạt động lời nói, với tƣ cách là tác phẩm lời nói không phải là một chuỗi câu hoặc đoạn văn đƣợc tạo lập ra một cách tuỳ tiện, mà là một thể thống nhất toàn vẹn đƣợc xây dựng theo những quy tắc nhất định. [18, 7] Phỏng theo định nghĩa trong cuốn từ điển bách khoa của Liên Xô này, Diệp Quang Ban đã đƣa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn, dễ hiểu hơn về văn bản: "Văn bản là một loại đơn vị đƣợc làm thành từ một khúc đoạn lời miệng hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài. loại nhƣ một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng. Các quan niệm của các tác giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc trên đây đã đề cập tới cả văn bản và diễn ngôn, phân biệt việc sử dụng thuật ngữ "văn bản" và "diễn ngôn", đồng thời, coi đó là một trong những tiêu chí nhận diện các giai đoạn phát triển của ngôn ngữ học văn bản nói chung.
Tuy nhiên, luận văn này lại không nhằm lí giải sự khác biệt đó mà chỉ nhằm kế thừa các thành quả nghiên cứu, quan sát các quan điểm về hai khái niệm để làm cơ sở, xuất phát điểm khi tiến hành nghiên cứu vấn đề của mình. Khái niệm "văn bản" đƣợc dùng trong luận văn cũng không nhằm tới việc phân biệt văn bản với diễn ngôn. Thuật ngữ "văn bản" đƣợc dùng để chỉ chung cho cả hai khái niệm, chấp nhận một điểm chung của chúng để tiến hành các thao tác khác. Để thuận tiện trong việc khảo sát, phân tích đối tƣợng nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm về văn bản của Gaperin: "Văn bản là một thông báo hoàn chỉnh nào đó, có nội dung riêng, được tổ chức theo mô hình trừu tượng của một trong những hình thức thông báo (thuộc phong cách chức năng, những biến thể và thể loại của nó) hiện hữu trong ngôn ngữ văn học và được xác định bởi những đặc trưng đặc trưng khu biệt của nó." [9, 41] 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân loại văn bản Khi tiến hành phân loại văn bản, ngƣời phân loại thƣờng dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau và để có kết quả cuối cùng ngƣời ta thƣờng dựa trên ít nhất hai tiêu chí để phân loại văn bản.
Hoàng Trọng Phiến khi đề cập tới phân chia thể loại văn bản đã nêu ra năm nguyên tắc và dấu hiệu sau [7, 94]: Chức năng giao tiếp theo các lĩnh vực của đời sống xã hội; tổ chức ngôn ngữ và đặc điểm từ vựng, cú pháp; phƣơng thức tu từ cùng các phƣơng tiện biểu đạt mang tính phong cách cho mỗi thể loại văn bản; phƣơng pháp diễn đạt theo cấu trúc logic khách quan; phƣơng pháp diễn đạt theo cấu trúc chủ đạo: chức năng thẩm mĩ. Dựa vào các nguyên tắc và dấu hiệu trên, chúng ta sẽ có những kiểu phân loại văn bản: a. Theo nguyên tắc chức năng giao tiếp; tổ chức ngôn ngữ và đặc điểm từ vựng, cú pháp; phƣơng thức tu từ thì văn bản đƣợc chia thành các loại: Văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật. Xét theo chức năng thẩm mĩ thì văn bản đƣợc chia thành hai loại lớn là: văn bản nghệ thuật và văn bản phi nghệ thuật.
Mỗi kiểu loại văn bản lại đƣợc phân chia tƣơng ứng với chức năng và đặc trƣng tổ chức ngôn từ. Một quan điểm khác khi phân loại văn bản là dựa vào mô hình hay khuôn hình của văn bản. Đinh Trọng Lạc trong cuốn "Phong cách học văn bản" đã chia toàn bộ các văn bản ra hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất bao gồm những văn bản đƣợc xây dựng theo các mô hình kiểu nghiêm ngặt đã trở thành khuôn mẫu.
Nhóm này có các văn bản thuộc phong cách hành chính (nhƣ: đơn từ, chứng chỉ, biên bản, tài liệu pháp lí, quảng cáo, tuyên bố, chỉ dẫn.) và một số văn bản trong văn xuôi khoa học – kĩ thuật (những lời chú giải của các bài báo) hoặc tính chất pháp lí (những bằng phát minh sáng chế). Nhóm thứ hai là những văn bản đƣợc xây dựng theo mô hình kiểu mềm dẻo. Mô hình kiểu mềm dẻo lại đƣợc chia ra làm hai mô hình nhỏ là: mô hình thông dụng và tự do.