CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi lợn ở trong nước 1. Một số kết quả nghiên cứu Các công thức lai giữa lợn ngoại với lợn nội đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc trong chăn nuôi lợn.
Tuy nhiên các công thức lai này còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu cao của người chăn nuôi hiện nay. Chính vì vậy trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu lai giống để sản xuất lợn lai nuôi thịt có ¾ máu ngoại với nhiều công thức khác nhau. Con lai L x (Y x MC) đạt 80.54 kg ở thời điểm 180 ngày tuổi, tăng trưởng 546.12 g/ngày, tiêu tốn thức ăn là 3.25 kg thức ăn/kg tăng trọng. Vũ Đình Tôn, Phan Văn Chung và Nguyễn Văn Duy (2008) [13] cho biết: lợn lai ba giống L x (Y x MC) nuôi thịt đạt trọng lượng 82.96 kg ở thời điểm nuôi 6 tháng tuổi, tốc độ sinh trưởng khá cao 605.59 g/ngày, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là 3.04 kg, tỷ lệ nạc so với khối lượng thịt móc hàm 49.
Theo nghiên cứu của Hoàng Nghĩa Duyệt, 2008 [23] theo dõi về khả năng sinh trưởng của các tổ hợp lai 3 máu Y x L x D và D x L x Y tại trại giống Bình Trung, Thăng Bình, Quảng Nam cho thấy các nhóm lợn lai nuôi thịt ở đây đều cho năng suất khá cao. Một số chỉ tiêu kỹ thuật đạt được như sau: tăng trọng trung bình đạt 715 g/ngày, tiêu tốn thức ăn thấp (trung bình 2.47 kg thức ăn/kg thịt tăng trọng), hiệu quả kinh tế tốt (trung bình 1 chuồng nuôi 177 lợn thịt trong 93 ngày, lợi nhuận đạt gần 14 triệu đồng). Lai hai, ba giống tạo con lai nuôi thịt ¾ và 7/8 máu ngoại như D x (Y x MC), L x (Y x MC) và (P x D) x (Y x MC) cho các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt cao. Tốc độ tăng trọng tuyệt đối cao nhất ở tổ hợp lợn lai L x (Y x MC) đạt 679.48 g/ngày tiếp theo là tổ hợp lai D x (Y x MC) đạt 673.60 g/ngày và thấp 10 nhất là tổ hợp lai (P x D) x (Y x MC) chỉ đạt 656.74 g/ngày và có sự sai khác rõ rệt giữa hai tổ hợp lai L x (Y x MC) và (P x D) x (Y x MC) với độ tin cậy P < 0.
Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của các tổ hợp lai đều tương đối cao với mức tiêu tốn thức ăn trong khoảng từ 2.84 kg/kg tăng trọng. Tỷ lệ nạc/móc hàm của các tổ hợp lai lần lượt là 52. Phẩm chất thịt của cả ba tổ hợp lai đều tốt. Kết quả nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) [15] cho biết tăng khối lượng trung bình của các tổ hợp lai D x (Y x MC) là 664.02 g/ngày; của tổ hợp lai L x (Y x MC) là 655.58 g/ngày; của tổ hợp lai (L x Y) x (Y x MC) là 619.
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp nhất là tổ hợp lợn lai D x (Y x MC) là 2.74 kg; tổ hợp lai L x (Y x MC) là 2.75 kg và của tổ hợp lai (L x Y) x (Y x MC) là 2. Tỷ lệ nạc của các tổ hợp lai D x (Y x MC), L x (Y x MC) và (L x Y) x (Y x MC) lần lượt là 51. Phùng Thăng Long và Nguyễn Phú Quốc (2009) [9] theo dõi về khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của tổ hợp lợn lai P x (Y x MC). Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn lai P x (Y x MC) cho tăng trọng nhanh 636.39 g/ngày; chi phí thức ăn để sản xuất ra 1 kg thịt lợn hơi thấp (3.4 kg/kg tăng trọng) và tỷ lệ nạc/thân thịt xẻ cao (53.
Tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở nước ta Trong mấy thập niên gần đây tình hình nghiên cứu chăn nuôi lợn đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là công tác giống. Đã tiến hành điều tra cơ bản từng khu vực và cả nước. Kết quả của những cuộc điều tra đã góp phần vẽ nên bức tranh về hiện trạng chăn nuôi lợn trong nước để các nhà chiến lược về chăn nuôi lợn hoạch định kế hoạch, biện pháp cải tạo và nâng cao năng suất đàn lợn nuôi. Các giống lợn nuôi ở Việt Nam rất phong phú, có trên 60 giống khác nhau và chúng được phân bố khắp các vùng của nước ta, tại mỗi vùng thì các giống có đặc trưng riêng của nó.
Xuất phát từ những nhu cầu của đời sống, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển chăn nuôi lợn theo hướng nâng cao cả về số lượng và chất lượng thịt. 11 Diễn biến đàn lợn qua các năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.1: Diễn biến đàn lợn ở Việt Nam qua các năm Năm Tổng số đàn lợn (con) Năm 2005 27 434 895 Năm 2006 26 855 330 Năm 2007 26 560 651 Năm 2008 26 702 076 Năm 2009 27 627 729 Năm 2010 27 373 149 Năm 2011 27 055 984 Năm 2012 26 493 922 Năm 2013 26 260 000 Năm 2014 26 700 000 12 27434895 27627729 27373149 Con 27055984 26855330 26702076 26700000 26560651 30000000 26493922 25000000 Năm 2005 Năm 2006 20000000 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 15000000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 10000000 Năm 2013 Năm 2014 5000000 0 0 [27] Biểu đồ 1.1: Diễn biến đàn lợn từ năm 2005 đến năm 2014 Từ bảng 1.1 ta nhận thấy tổng số đàn lợn qua các năm không có sự thay đổi lớn. Tổng số đàn đạt cao nhất là 27 627 729 con vào năm 2009 và thấp nhất là năm 2012 với 26 493 922 con. Sự chênh lệch này là do dịch bệnh xảy ra và sự tái sản xuất đàn qua các năm.
Vị trí, vai trò chăn nuôi lợn trong nền kinh tế quốc dân 1. Vị trí của chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở nước ta. Sự hình thành sớm nghề nuôi lợn cùng với lúa nước đã cho chúng ta khẳng định nghề nuôi lợn có vị trí hàng đầu, không những thế việc tiêu thụ thịt lợn trong những bữa ăn hàng ngày của con người rất phổ biến. Ngoài ra, thịt lợn được coi là thực 13 phẩm có mùi vị dễ thích hợp với mọi đối tượng (người già, trẻ em, phụ nữ, nam giới), mùi vị của thịt lợn không gây ra dị ứng do thực phẩm, đây là ưu điểm nổi bật nhất của thịt lợn.
Tuy nhiên để thịt lợn trở thành món ăn có thể nâng cao sức khỏe của con người, điều quan trọng trong quá trình chọn giống và chăm sóc đàn lợn phải luôn luôn khỏe mạnh, sức đề kháng cao và thành phần các chất dinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng tốt và có giá trị sinh học. Vai trò của chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn có vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp cùng với lúa nước là hai hợp phần quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Nói chung, chăn nuôi lợn có một số vai trò nổi bật sau: - Chăn nuôi lợn tạo ra sản phẩm thịt lợn cho con người, là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho đời sống con người. Các sản phẩm từ thịt lợn đều là các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein cao và giá trị sinh vật học của protein cao hơn các thức ăn có nguồn gốc thực vật.
Theo Giáo sư Harris cho biết (1956), cứ 100 g thịt lợn nạc có 376 kcal, 22 g protein. Vì vậy, thực phẩm từ thịt lợn luôn là các sản phẩm quý trong dinh dưỡng con người. - Chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến. Các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu dùng đều sử dụng nguyên liệu từ thịt lợn.
Hiện nay, thịt lợn là nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp thịt xông khói (cacbon), xúc xích, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Việt Nam như giò nạc, giò mỡ cũng đều được làm từ thịt lợn. - Chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp phân bón cho cây trồng và thức ăn cho nuôi trồng thủy sản. Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể đến vai trò của phân bón hữu cơ nhận được từ phân lợn, phân lợn là một nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Một con lợn thịt trong một ngày đêm có thể thải 2.
14 Ngoài ra hàm lượng nước tiểu còn chứa photpho và nitơ cao. - Chăn nuôi lợn có thể giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người. Trong nghiên cứu về môi trường nông nghiệp, lợn là loại vật nuôi quan trọng và là một thành phần quan trọng không thể thiếu được của hệ sinh thái nông nghiệp. Chăn nuôi lợn có thể tạo ra các giống lợn nuôi ở các vườn cây cảnh hay các giống lợn nuôi trong nhà góp phần làm tăng thêm đa dạng sinh thái tự nhiên.
- Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong công nghệ sinh học, lợn đã được nhân bản gen để phục vụ cho mục đích nâng cao sức khỏe con người. - Chăn nuôi lợn là ngành sản xuất đem lại lợi nhuận cao do chu kì sản xuất ngắn, giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi cao. Bên cạnh đó chăn nuôi lợn còn tận dụng được các phế phụ phẩm của gia đình, của ngành trồng trọt, ngành công nghiệp thực phẩm để tạo ra sản phẩm có giá thành hạ, góp phần nâng cao đời sống và làm tăng thu nhập quốc dân. - Chăn nuôi lợn còn khai thác tối đa sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động, đất đai nhất là nguồn lực lao động nhàn rỗi trong nông thôn, hạn chế được tính thời vụ trong nông nghiệp.
- Chăn nuôi lợn làm tăng tính an ninh cho các hộ gia đình nông dân trong các hoạt động trong xã hội và chỉ tiêu trong gia đình. Đồng thời thông qua chăn nuôi lợn, người nông dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học hành và các hoạt động văn hóa khác như cưới hỏi, ma chay, đình đám. Khái niệm sinh trưởng, phát dục 1. Sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình cơ thể tăng lên về trọng lượng và kích thước do sự lớn lên và phân chia các tế bào.
Các tế bào sinh ra sau trong quá trình sinh trưởng thì giống hệt các tế bào sinh ra nó [18].