Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ô nhiễm nguồn nước do kim loại nặng từ các hoạt động công nghiệp (luyện kim, cơ khí, khai thác mỏ, chế biến khoáng sản, sản xuất pin - ắc quy, dệt nhuộm) và nông nghiệp đang là vấn đề môi trường nghiêm trọng. Trong đó, hai ion kim loại nặng gồm đồng (Cu(II)) và chì (Pb(II)) có độc tính cao đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái. Chì có khả năng tích lũy sinh học lâu dài trong xương và máu (chu kỳ bán hủy từ 20 đến 30 năm), gây tổn thương hệ thần kinh trung ương, cản trở tổng hợp enzyme tạo máu (heme), suy giảm chỉ số thông minh ở trẻ em và tổn hại chức năng thận. Đồng dù là nguyên tố vi lượng cần thiết nhưng ở hàm lượng cao sẽ gây rối loạn tiêu hóa, suy thận, hoại tử mô và liên quan đến bệnh Wilson.

Bên cạnh các giải pháp xử lý nước truyền thống như kết tủa hóa học, trao đổi ion, điện hóa và sinh học vốn tồn tại nhược điểm về chi phí vận hành cao hoặc phát sinh bùn thải thứ cấp, phương pháp hấp phụ bằng than sinh học (biochar) nhận được sự quan tâm nhờ hiệu quả xử lý cao, quy trình đơn giản và khả năng tận dụng phế phụ phẩm rắn. Tại Việt Nam, đũa tre dùng một lần là nguồn rác thải sinh hoạt phát sinh khối lượng lớn từ các dịch vụ ăn uống. Với hàm lượng carbon cao, đũa tre là nguồn nguyên liệu sinh khối phù hợp để chế tạo than sinh học, vừa giải quyết bài toán quản lý chất thải rắn vừa tạo ra vật liệu xử lý môi trường. Nhằm khắc phục hạn chế về dung lượng hấp phụ của than sinh học thô, đề tài tiến hành biến tính bề mặt than bằng chất oxy hóa potassium permanganate ($\text{KMnO}_4$) kết hợp phủ nhóm chức phosphate.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu than sinh học biến tính với dung dịch potassium permanganate ($\text{KMnO}_4$) và kết hợp phủ phosphate (ký hiệu: BC-KPP) từ nguồn phế phẩm đũa tre dùng một lần.
  2. Khảo sát đặc trưng cấu trúc hóa - lý của vật liệu bảo đảm đạt các yêu cầu kỹ thuật thông qua các phép đo phổ và ảnh vi học bề mặt.
  3. Khảo sát khả năng hấp phụ ion $\text{Cu(II)}$ và ion $\text{Pb(II)}$ của vật liệu tổng hợp trong môi trường nước.
  4. Xác định các điều kiện tối ưu về pH dung dịch, thời gian tiếp xúc, nồng độ ban đầu và khối lượng vật liệu hấp phụ để đạt hiệu suất loại bỏ cao nhất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Than sinh học biến tính với potassium permanganate và phosphate có nguồn gốc từ đũa tre dùng một lần; khả năng hấp phụ ion $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ của vật liệu trong môi trường nước.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại Phòng thí nghiệm Hóa học Môi trường, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm phân tích phối hợp (Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP.HCM, Trường Đại học Công Thương TP.HCM, Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong thời gian 6 tháng, từ tháng 09/2023 đến tháng 02/2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực nghiệm

Khóa luận thiết lập cơ sở lý thuyết dựa trên các quy chuẩn môi trường về chất lượng nước mặt, nước ngầm và trầm tích: QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 43:2012/BTNMT, QCVN 08-MT:2015/BTNMT, QCVN 43:2017/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam; tiêu chuẩn nước uống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA) và Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ (BIS 2012).

Cơ chế hấp phụ kim loại nặng trên than sinh học được tác giả hệ thống hóa qua 5 tương tác cơ bản:

  1. Trao đổi ion giữa các cation kim loại kiềm/kiềm thổ ($\text{Ca}^{2+}$, $\text{Mg}^{2+}$, $\text{K}^+$, $\text{Na}^+$) trên bề mặt than với ion $\text{Cu}^{2+}$, $\text{Pb}^{2+}$.
  2. Hút tĩnh điện giữa ion kim loại và các vị trí mang điện tích âm trên bề mặt vật liệu.
  3. Tạo phức bề mặt giữa ion kim loại nặng với các nhóm chức chứa oxy (carboxyl $-\text{COOH}$, hydroxyl $-\text{OH}$) và nhóm mang mangan/phosphor.
  4. Kết tủa bề mặt tạo thành hợp chất không tan với các anion khoáng chất ($\text{CO}_3^{2-}$, $\text{PO}_4^{3-}$, $\text{OH}^-$).
  5. Hấp phụ vật lý thông qua sự khuếch tán vào mạng lưới mao quản xốp của than.

Mô hình toán học áp dụng để xử lý dữ liệu thực nghiệm gồm:

  • Phương trình động học hấp phụ: Mô hình giả bậc 1 (Pseudo-first-order) và giả bậc 2 (Pseudo-second-order) nhằm xác định tốc độ và cơ chế hấp phụ chi phối.
  • Phương trình đẳng nhiệt hấp phụ: Mô hình Langmuir (hấp phụ đơn lớp trên bề mặt đồng nhất) và mô hình Freundlich (hấp phụ đa lớp trên bề mặt dị tính).

Phương pháp thực nghiệm và trang thiết bị sử dụng:

  • Nguồn mẫu: Đũa tre thu gom vào tháng 8/2023 tại hệ thống Bách hóa Xanh, được chẻ nhỏ, rửa bằng nước khử ion (DI), phơi khô tự nhiên 2 ngày và sấy ở 85°C trong 24 giờ.
  • Nhiệt phân: Mẫu đũa tre được nung trong môi trường khí Nitrogen ($\text{N}_2$) với lưu lượng 0,05 L/phút trong 2 giờ ở nhiệt độ 400°C để tạo than sinh học thô (BC-ĐT). Sau đó, than được rửa bằng dung dịch acetone và methanol trong 30 phút (lặp lại 3 lần mỗi dung dịch) để loại bỏ nhựa và tạp chất hữu cơ.
  • Biến tính hóa học: Than thô được biến tính với dung dịch $\text{KMnO}_4$ và phủ muối phosphate ($\text{KH}_2\text{PO}_4$) nhằm tạo vật liệu BC-KPP.
Phương pháp phân tích Thiết bị / Thông số máy Đơn vị thực hiện đo
Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) Thermo Scientific ICE 3000 Phòng thí nghiệm Phân tích, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM
Kính hiển vi điện tử quét (SEM) FESEM S4800 (HITACHI - Nhật Bản) Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP.HCM
Phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX) SEDX H-7593 (HORIBA - Anh) Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP.HCM
Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) FT-IR-6X (Jasco) Trung tâm Thí nghiệm thực hành, Trường ĐH Công Thương TP.HCM
Phân tích diện tích bề mặt riêng (BET) Nova 1000e Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng
Xác định điểm điện tích không ($\text{pH}_{\text{pzc}}$) Phương pháp đo độ dịch chuyển $\Delta \text{pH}$ ($\Delta \text{pH} = \text{pH}{\text{sau}} - \text{pH}{\text{đầu}}$) PTN Hóa học Môi trường, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan

Chương 1 tổng hợp bức tranh toàn diện về ô nhiễm đồng và chì trong môi trường nước cùng các giải pháp kỹ thuật xử lý:

  • Nêu rõ đặc tính hóa lý, nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo của đồng và chì; phân tích độc tính của từng kim loại lên cơ thể sống, đặc biệt là tác động ức chế enzyme tổng hợp máu và phá vỡ cấu trúc thần kinh của chì.
  • Cập nhật các số liệu thực tế về ô nhiễm tại Việt Nam (sông Mê Kông, sông Kim Ngưu, sông Vàm Thuật, khu vực Thạch Sơn - Phú Thọ, đất nông nghiệp Bắc Ninh) và trên thế giới (Ba Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Pakistan).
  • Phân tích ưu điểm và hạn chế của 5 phương pháp xử lý kim loại nặng phổ biến: phương pháp sinh học, trao đổi ion, điện hóa, kết tủa hóa học và phương pháp hấp phụ.
  • Tổng quan cấu trúc, đặc tính của than sinh học nhiệt phân và các kỹ thuật biến tính bề mặt (biến tính acid, kiềm, chất oxy hóa, muối kim loại, phủ hạt nano).
  • Tổng hợp và so sánh các công trình nghiên cứu sử dụng than sinh học biến tính để xử lý $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ trong và ngoài nước:
Tác giả / Năm công bố Nguồn sinh khối Tác nhân biến tính Ion kim loại khảo sát Dung lượng hấp phụ cực đại ($q_{\text{max}}$) / Hiệu suất
Phạm Hoàng Giang & Đỗ Quang Huy (2016) Vỏ chuối, rơm Dung dịch $\text{H}_3\text{PO}_4$ $\text{Cu(II)}$, $\text{Pb(II)}$ Vỏ chuối: 121,95 mg/g ($\text{Pb}^{2+}$), 53,2 mg/g ($\text{Cu}^{2+}$); Rơm: 55,56 mg/g ($\text{Pb}^{2+}$), 46,3 mg/g ($\text{Cu}^{2+}$)
Đào Minh Trung & Nguyễn Thị Thanh Trâm (2020) Vỏ hạt Mắc-ca Dung dịch $\text{H}_2\text{O}_2$ 25% $\text{Pb(II)}$ 266,26 mg/g (hiệu suất 94,05% tại pH = 6)
Phạm Thị Ngọc Trâm (2021) Vỏ hạt Mắc-ca $\text{HNO}_3$, $\text{NaOH}$ $\text{Pb(II)}$ Hiệu suất xử lý đạt từ 97,75% đến 99,43%
Văn Hữu Tập và cộng sự (2022) Bã mía Gắn hạt nano $\text{Fe}_3\text{O}_4@\text{ZnO}$ $\text{Pb(II)}$, $\text{As(V)}$, $\text{Cr(VI)}$, $\text{Cd(II)}$ $q_{\text{max}} = 28,64\text{ mg/g}$ đối với than hoạt tính bã mía gắn nano
Yan Li và cộng sự (2020) Vỏ đậu phộng Hydrous Ferric Oxide (HFO) $\text{Cu(II)}$, $\text{Cd(II)}$ 34,1 mg/g ($\text{Cu}^{2+}$) và 29,8 mg/g ($\text{Cd}^{2+}$)
Tong Cai và cộng sự (2021) Bột vỏ trà dầu $\text{NaOH}$ trong ethanol ($\text{C}_2\text{H}_5\text{OH}$) $\text{Pb(II)}$, $\text{Cd(II)}$ 613,73 mg/g ($\text{Pb}^{2+}$) và 394,09 mg/g ($\text{Cd}^{2+}$)
Fengxiao Zhao và cộng sự (2022) Xơ mướp $\text{KMnO}_4$ và phủ nano $\text{Fe}_3\text{O}_4$ $\text{Cu(II)}$ 47,64 mg/g tại pH = 5,5
Waqas Ahmed và cộng sự (2022) Rơm rạ Nano Hydroxyapatite (nHAP) $\text{Pb(II)}$ 335,88 mg/g (mô hình Langmuir, $R^2 = 0,99$)
S. Chen và cộng sự (2023) Vỏ quả óc chó Dung dịch $\text{KMnO}_4$ $\text{Cu(II)}$, $\text{Pb(II)}$, $\text{Cd(II)}$, $\text{Zn(II)}$ 30,18 mg/g (dung dịch đơn); thứ tự: $\text{Pb} > \text{Cu} > \text{Zn} > \text{Cd}$
Zhiliang Cui và cộng sự (2023) Bùn dược phẩm $\text{KMnO}_4$ và $\text{NaOH}$ $\text{Pb(II)}$, $\text{Cu(II)}$, $\text{Cd(II)}$ 181,82 mg/g đối với $\text{Pb(II)}$ tại 25°C, pH = 5

Chương 2. Thực nghiệm

Chương 2 trình bày chi tiết danh mục hóa chất, thiết bị, quy trình chế tạo vật liệu và thiết kế các lô thí nghiệm khảo sát:

  • Hóa chất sử dụng: Chuẩn $\text{Cu(NO}_3)_2$ và $\text{Pb(NO}_3)_2$, $\text{CuSO}_4\cdot 5\text{H}_2\text{O}$ (>99%), $\text{Pb(NO}_3)_2$ (>99%), $\text{HNO}_3$ (65-68%), $\text{KMnO}_4$, $\text{CaCl}_2$ (>99%), $\text{KH}_2\text{PO}_4\cdot 12\text{H}_2\text{O}$ (>99%), $\text{NH}_3$ (25%), $\text{NH}_4\text{Cl}$ (>99%) đều từ hãng Xilong Scientific.
  • Quy trình chế tạo than BC-ĐT: Đũa tre được xử lý sạch, sấy khô ở 85°C trong 24 giờ, đưa vào lò nung nhiệt phân ở 400°C trong 2 giờ dưới dòng khí $\text{N}_2$ (0,05 L/phút). Sản phẩm than được rửa giải tạp chất hữu cơ bằng acetone và methanol (3 lần, mỗi lần 30 phút).
  • Chế tạo than biến tính BC-KPP: Than BC-ĐT được tiến hành biến tính bề mặt bằng dung dịch $\text{KMnO}_4$ và phủ phosphate ($\text{KH}_2\text{PO}_4$) nhằm gắn các tâm chức oxy hóa và nhóm mang phosphor.
  • Thiết lập đường chuẩn xác định nồng độ ion $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ trên máy quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS Thermo Scientific ICE 3000).
  • Thiết kế thí nghiệm đơn biến khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ:
    • Khảo sát ảnh hưởng của giá trị pH dung dịch.
    • Khảo sát ảnh hưởng của thời gian tiếp xúc để thu thập dữ liệu động học.
    • Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ ion kim loại ban đầu để dựng đường đẳng nhiệt hấp phụ.
    • Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng chất hấp phụ BC-KPP.
    • Bố trí thí nghiệm xác định điểm điện tích không ($\text{pH}_{\text{pzc}}$) thông qua việc đo $\Delta \text{pH}$ trong dung dịch chất điện ly trơ $\text{CaCl}_2$.

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 tập trung vào hai nội dung cốt lõi: phân tích đặc trưng hóa lý của vật liệu và đánh giá khả năng hấp phụ ion kim loại:

  • Đặc trưng vật liệu:
    • Hình thái bề mặt (SEM): So sánh ảnh chụp SEM giữa than thô BC-ĐT và than biến tính BC-KPP cho thấy sự thay đổi rõ rệt; bề mặt than BC-KPP xuất hiện các khe rãnh gồ ghề, cấu trúc xốp vi mô và các mảng hạt bám dày đặc hình thành sau quá trình oxy hóa bằng $\text{KMnO}_4$ và gắn phosphate.
    • Diện tích bề mặt riêng (BET/BJH): Phân tích đường đẳng nhiệt hấp phụ - khử hấp phụ Nitrogen xác định diện tích bề mặt riêng và thể tích lỗ xốp của vật liệu BC-KPP trước hấp phụ.
    • Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR): Xác nhận sự xuất hiện của các nhóm chức đặc trưng chứa oxy và phosphor trên bề mặt BC-KPP trước hấp phụ; so sánh với phổ FT-IR của mẫu than sau khi hấp phụ $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ ghi nhận sự dịch chuyển tần số và suy giảm cường độ của các pic liên kết $-\text{OH}$, $\text{C}=\text{O}$ và các liên kết liên quan đến phosphate/mangan, minh chứng cho sự tham gia tạo phức bề mặt với ion kim loại.
    • Phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX): Xác định thành phần nguyên tố định tính và định lượng của than BC-ĐT, than biến tính BC-KPP trước và sau khi hấp phụ. Phổ EDX sau hấp phụ xuất hiện rõ các đỉnh năng lượng đặc trưng của đồng và chì, khẳng định hai kim loại đã được giữ lại trên bề mặt than.
    • Điểm điện tích không ($\text{pH}{\text{pzc}}$): Đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa $\Delta \text{pH}$ và $\text{pH}{\text{đầu}}$ xác định được giá trị $\text{pH}_{\text{pzc}}$ của BC-KPP, làm căn cứ giải thích lực đẩy/hút tĩnh điện theo pH môi trường.
  • Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng và mô hình hóa:
    • Ảnh hưởng của pH: Đồ thị dung lượng hấp phụ và hiệu suất hấp phụ của $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ theo pH chỉ ra rằng ở pH thấp ($\text{pH} < \text{pH}_{\text{pzc}}$), bề mặt than tích điện dương gây lực đẩy tĩnh điện với các cation $\text{Cu}^{2+}$, $\text{Pb}^{2+}$ đồng thời cạnh tranh với ion $\text{H}^+$; khi pH tăng, dung lượng và hiệu suất hấp phụ tăng nhanh và đạt trạng thái tối ưu trước khi xảy ra quá trình kết tủa hydroxide ở pH kiềm.
    • Động học hấp phụ: Đồ thị hấp phụ theo thời gian cho thấy quá trình diễn ra nhanh trong giai đoạn đầu và đạt trạng thái cân bằng. Dữ liệu thực nghiệm được xử lý qua hai mô hình động học giả bậc 1 và giả bậc 2; kết quả hệ số tương quan ($R^2$) xác định mô hình giả bậc 2 mô tả phù hợp hơn quá trình hấp phụ của cả $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$, thể hiện cơ chế hấp phụ hóa học (chemisorption) giữ vai trò chủ đạo.
    • Đẳng nhiệt hấp phụ: Đồ thị khảo sát ảnh hưởng của nồng độ đầu được khớp nối với mô hình Langmuir và Freundlich. Thông số tính toán từ hai mô hình cho phép đánh giá dung lượng hấp phụ cực đại ($q_{\text{max}}$) và khả năng hấp phụ đơn lớp trên bề mặt đồng nhất của than BC-KPP.
    • Ảnh hưởng của liều lượng than: Khảo sát sự thay đổi dung lượng hấp phụ ($q_e$, mg/g) và hiệu suất loại bỏ (%) khi tăng khối lượng BC-KPP; hiệu suất xử lý tăng dần do tăng số lượng tâm hấp phụ khả dụng nhưng dung lượng hấp phụ trên một đơn vị khối lượng có xu hướng giảm do hiện tượng dư thừa vị trí hoạt tính.

Chương 4. Kết luận và kiến nghị

Tác giả đúc kết toàn bộ kết quả thực nghiệm đạt được:

  • Đã chế tạo thành công than sinh học từ đũa tre phế thải biến tính bằng $\text{KMnO}_4$ và phủ phosphate (BC-KPP).
  • Xác định đầy đủ các đặc trưng hình thái, cấu trúc xốp, nhóm chức bề mặt và thành phần nguyên tố của vật liệu.
  • Làm rõ cơ chế hấp phụ ion $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ trên BC-KPP chịu sự chi phối tổng hợp của tương tác tĩnh điện, tạo phức bề mặt với các nhóm chức chứa oxy/phosphate và trao đổi ion.
  • Kiến nghị mở rộng thử nghiệm vật liệu trên các mẫu nước thải thực tế từ các làng nghề, nhà máy mạ kim loại và khảo sát thêm khả năng tái sinh, rửa giải (desorption) của vật liệu qua nhiều chu kỳ hấp phụ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả thực nghiệm định lượng và đóng góp chuyên môn cụ thể:

  • Làm chủ quy trình chế tạo than sinh học BC-ĐT từ phế phẩm đũa tre thông qua kỹ thuật nhiệt phân trong môi trường khí $\text{N}_2$ (lưu lượng 0,05 L/phút) ở nhiệt độ 400°C trong 2 giờ, kết hợp làm sạch bằng chuỗi dung môi acetone và methanol.
  • Tổng hợp thành công vật liệu biến tính bề mặt kết hợp giữa tác nhân oxy hóa $\text{KMnO}_4$ và phủ phosphate ($\text{KH}_2\text{PO}_4$), tạo ra mạng lưới lỗ xốp phát triển và gia tăng mật độ các nhóm chức hoạt tính phân cực trên bề mặt.
  • Chứng minh bằng thực nghiệm phổ FT-IR và EDX về sự hiện diện của các nhóm chức mới sau biến tính, cũng như sự bám dính trực tiếp của ion $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ lên khung carbon của vật liệu sau quá trình hấp phụ.
  • Xác lập được bộ thông số tối ưu cho quá trình hấp phụ đơn biến đối với từng ion kim loại về giá trị pH dung dịch, thời gian tiếp xúc cân bằng, nồng độ ban đầu và khối lượng vật liệu.
  • Chứng minh dữ liệu thực nghiệm hấp phụ tuân theo mô hình động học giả bậc 2 và mô hình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir, khẳng định quá trình hấp phụ đơn lớp với sự tham gia của liên kết hóa học.
  • Đóng góp giải pháp tái chế rác thải rắn sinh hoạt (đũa tre dùng một lần) thành vật liệu chức năng xử lý môi trường chi phí thấp, thân thiện sinh thái và hạn chế phát sinh ô nhiễm thứ cấp so với các chất hấp phụ tổng hợp đắt tiền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Thí nghiệm hấp phụ được thực hiện chủ yếu trong hệ dung dịch mô phỏng nhân tạo (hệ đơn cấu tử chứa riêng lẻ ion $\text{Cu(II)}$ hoặc $\text{Pb(II)}$), chưa đánh giá toàn diện sự cạnh tranh hấp phụ trong dung dịch đa kim loại hoặc môi trường nước có hàm lượng chất hữu cơ và độ cứng cao.
  • Nghiên cứu thực hiện trong giới hạn thời gian 6 tháng (09/2023 - 02/2024) tại quy mô phòng thí nghiệm (mô hình hấp phụ theo mẻ tĩnh - batch study), chưa thiết kế vận hành ở dạng cột hấp phụ dòng liên tục (fixed-bed column) phục vụ quy mô bán công nghiệp.
  • Hướng mở tiếp theo được tác giả kiến nghị là kiểm tra độ bền cơ học và khả năng tái sinh của than BC-KPP sau nhiều chu kỳ giải hấp phụ bằng các dung dịch rửa giải thích hợp (như acid loãng), đồng thời thử nghiệm trực tiếp trên nguồn nước thải công nghiệp thực tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hà Ninh là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Hóa học, Hóa học Môi trường, Công nghệ Kỹ thuật Môi trường và Khoa học Vật liệu:

  • Phần quy trình thực nghiệm (Chương 2) cung cấp hướng dẫn chi tiết về các thông số nhiệt phân sinh khối tre nứa (nhiệt độ 400°C, kiểm soát lưu lượng khí trơ) và quy trình xử lý dung môi, có giá trị ứng dụng cao cho các nghiên cứu tổng hợp vật liệu carbon xốp từ phụ phẩm nông lâm nghiệp.
  • Phần phương pháp phân tích đặc trưng vật liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về việc kết hợp các kỹ thuật hiện đại (SEM, EDX, BET/BJH, FT-IR, F-AAS) và phương pháp xác định điểm điện tích không ($\text{pH}_{\text{pzc}}$) trong nghiên cứu hóa học bề mặt.
  • Bảng tổng quan y văn (Chương 1) hệ thống hóa các công trình nghiên cứu biến tính than sinh học trong và ngoài nước, là tài liệu đối chiếu hữu ích cho các đề tài xử lý kim loại nặng trong nước bằng phương pháp hấp phụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nguyên liệu sinh khối và điều kiện nhiệt phân để tạo ra than sinh học ban đầu trong khóa luận là gì?
Tác giả sử dụng phế phẩm đũa tre dùng một lần thu thập tại hệ thống Bách hóa Xanh vào tháng 8/2023. Nguyên liệu sau khi làm sạch và sấy khô ở 85°C trong 24 giờ được đưa vào nung nhiệt phân trong dòng khí $\text{N}_2$ với lưu lượng 0,05 L/phút trong 2 giờ ở nhiệt độ 400°C.

2. Vật liệu BC-KPP được biến tính từ than sinh học thô bằng những hóa chất nào?
Vật liệu than sinh học thô (BC-ĐT) sau khi rửa sạch tạp chất hữu cơ bằng dung dịch acetone và methanol được tiến hành biến tính bề mặt bằng dung dịch potassium permanganate ($\text{KMnO}_4$) kết hợp phủ muối phosphate ($\text{KH}_2\text{PO}_4$).

3. Tác giả sử dụng các kỹ thuật phân tích nào để xác định đặc tính bề mặt và cấu trúc của vật liệu BC-KPP?
Nghiên cứu sử dụng 5 kỹ thuật phân tích hóa lý: Kính hiển vi điện tử quét (FESEM S4800) để quan sát hình thái; Phổ tán xạ năng lượng tia X (SEDX H-7593) để xác định thành phần nguyên tố; Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR-6X) để xác định nhóm chức; Phân tích BET (Nova 1000e) để đo diện tích bề mặt riêng; và phương pháp dịch chuyển $\Delta \text{pH}$ để xác định điểm điện tích không ($\text{pH}_{\text{pzc}}$).

4. Thiết bị nào được sử dụng để phân tích nồng độ ion Cu(II) và Pb(II) trong các thí nghiệm hấp phụ?
Nồng độ các ion kim loại trước và sau quá trình hấp phụ được xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) trên thiết bị Thermo Scientific ICE 3000 tại Phòng thí nghiệm Phân tích, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.

5. Cơ chế hấp phụ ion kim loại của vật liệu BC-KPP tuân theo các mô hình toán học nào?
Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận được mô tả phù hợp nhất bởi mô hình động học giả bậc 2 (Pseudo-second-order), thể hiện quá trình hấp phụ hóa học giữ vai trò chi phối; đồng thời quá trình hấp phụ cân bằng tuân theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir, thể hiện sự hấp phụ đơn lớp trên bề mặt đồng nhất của than.


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Vũ Hà Ninh đã chế tạo thành công vật liệu than sinh học biến tính $\text{KMnO}_4$ kết hợp phủ phosphate (BC-KPP) từ nguồn phế phẩm đũa tre dùng một lần nhằm xử lý ion $\text{Cu(II)}$ và $\text{Pb(II)}$ trong môi trường nước. Nghiên cứu hoàn thành việc mô tả các đặc trưng cấu trúc hóa lý của vật liệu bằng các kỹ thuật đo phổ hiện đại (SEM, EDX, BET, FT-IR, AAS) và xác định cơ chế hấp phụ hóa học tuân theo mô hình động học giả bậc 2 và đẳng nhiệt Langmuir. Kết quả của đề tài khẳng định tính khả thi của việc tái chế rác thải sinh hoạt thành vật liệu hấp phụ kim loại nặng, đóng góp giải pháp kỹ thuật hữu ích cho lĩnh vực hóa học môi trường và quản lý chất thải rắn.