CHƯƠNG 1: LƯỢC SỬ VẤN DE Vấn để giáo dục đạo đức nói chung và vấn để đạo đức của lứa tuổi thanh thiếu niên vẫn đang là để tài nóng bỏng, được mọi ngành khoa học quan tâm dưới nhiễu bình diện, góc độ khác nhau. Đã có nhiễu công trình nghiên cứu về những vấn để trên ở trong và ngoài nước.1 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài. -Năm 1963 có công trình nghiên cứu của E. Kraxnôbaép về sự hình thành niém tin dao đức ở các học sinh lớn tuổi.
-Năm 1964 cú công trình nghiên cứu của L. Placxina về sự tác động gián liếp trong hệ thống giáo dục đạo đức của học sinh. -Năm 1965 có hai công trình nghiên cửu của các tác giả : A.Malarenco về sự thống nhất của hành vi và tri thức đạo đức trong quá trình giáo dục các em thiếu niên và tác giả P.Djanilitzê vé những nhân tố của sự phát triển đạo đức, -Năm 1966 có công trình nghiên cứu của K.P,Tiuchdkalốp về những quy luật của việc giáo dục đạo đức cộng sản. -Năm 1967 có công trình nghiên cứu của N.LBoéndurép về những vấn để cơ bản của nội dung và phương nhấp giáo dục đạo đức.
-Năm 1968 có công trình nghiên cứu của Z.Xafrônôva về sự hình thành các lý tưởng đạo đức ở những học sinh lớn tuổi.2 Ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu và báo chí để cập đến vấn để giáo duc nói chung và đạo đức của lứa tuổi thanh thiếu niên. -Tháng 10/1978, Dao Ngọc Đệ nghiễn cứu về giáo dục tinh trung thực cho học sinh, ‘Thang 1/1980, Trinh Văn Ngân tim hiểu về vấn để giáo duc dao đức cho học sinh cấp I, II. -Tháng 6/1980, Đào Vinh tim hiểu về giáo dục đạo đức cho học sinh qua những ấn ky luật, -Tháng 6/1983, Nguyễn Văn Tuân có bài viết về giáo dục đạo đức cho học sinh phé thông trung học được đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục. -Tháng 6/1985, Đăng Xuân Hoai có hài viết về sự hình Thành động cơ đạo đức ở học sinh cấp I, II, dang trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục.
-Năm 1987, Để tài nghiên cứu: Khảo sát thực trạng dao đức của học sinh cấp II, Il trong nội thành Tp. HCM của khoa Tâm lý - Giáo dục Đại học su nhạm Tp. -Năm 1993, Khoá luận tốt nghiệp: Tìm hiểu thực trạng đạo đức của một số học sinh ldp11 qua một số trường PTTH ở nội thành Tp. HCM của khoa Tâm lý- Giáo dục Đại học sư phạm Tp.
-Tháng 3/1995, PTS Phạm Thanh Bình và Lê Phong có hài viết về học sinh yếu kém đạo đức đăng trên tạp chí Nghiên cửu Giáo dục. -Năm 1994, Luận văn tốt nghiệp: khảo sát vấn để giáo dục dao đức cho học sinh ở trường phổ thông cấp 2-3 Sương Nguyệt Ánh Quận 10 Tp, HCM. Thông qua sự kết hợp ba lực lượng gido dục : Gia đình- Nhà trường- Xã hội được bảo vệ thành công của Nguyễn Thị Diễm Thu, Khoa tâm lý Giáo dục, Đại học sư pham Tp. -Nam 1995, Luận văn tốt nghiệp : Tìm hiểu kinh nghiệm giáo dục học sinh kém dao đức của một số giáo viên chủ nhiệm ở trường PTTH Nguyễn Du - Nguyễn Khuyến 7 tại Tp.
HCM của Nguyễn Thị Trúc Ly, Khoa Tâm lý -Giáo dục. Đại học sư phạm Tp. -Gẵn đây, tháng 1/1997, tác giả Lê Phong, Dai học Huế có bài viết vé sự sa sút đạo đức của một bộ phận nhỏ học sinh các trường phổ thông khu vực Bình Trị Thiên, dang trên Tap chi Nghiên cứu giáo dục. Tom lại: Các công trình nghiên cứu, các bài viết đã cho ta thấy những vấn để về giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt, học sinh ở lứa tuổi thanh thiếu niên.
Dù nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, song các tác giả đều thống nhất: vin để giáo dục đạo đức ủ lứa tuổi thanh thiếu niên là vấn để phong phú nhưng không đơn giản và có tính thiết thực lớn. -Hức : + Là cái hiểu hiện tốt đẹp của dao lý trong tính nết, tứ cách hành động của con người, theo quan niệm của một giai cấp, một xã hội nhất định (vita có tài, vừa ed đức } + Tinh tốt dep hơn đạo lý, tính tốt (nói tất. Đức khiếm tốn, giản dị. Cái đức chịu thương chịu khó } + Điều tốt lành do ăn ở có đức, để lại cho con cháu đời sau, thea một quan niệm duy tâm xã hội cũ ( Nhờ đức ông ba để lại ) +( Cũ ) An huệ của người trên đốt với người dưới ( đức cù lao ) s* Với tư cách là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điểu chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bửi niém tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội ”.
(2) + Mặt khác, có thể hiểu khái niệm dao đức như T.Hina viết :” Đạo đức là những tiêu chuẩn, những quy tắc sinh hoạt xã hội, là những tiêu chuẩn, những quy tắc hành vi của con người những quy tắc đó quyết định nghĩa vụ và thái độ của con người đối với nhau và đối với xã hội và việc tuân theo những quy tắc này liên quan đến động cơ bén trong của con người”, (3) + Giáo sư G.Banzeladze đã viết " Đạo đức của con người biểu hiện ở năng lực hành động tự nguyện , tự giác vì lợi ích của những người khác và của xã hội. Nói đến đạo đức của xã hội nói chung tức là nói đến hệ thống những chuẩn mực đạo đức ". “Xét từ quan điểm này thì đạo đức là hệ thống những chuẩn mực đạo đức biểu hiện sự quan tim tự nguyện , tự giác của những con nnưữi trang quan hệ với nhau và trong xã hội nói chung”. { 4) Tám lại : Đạu đức là một hiện tượng xã hội đặt biệt, bao gồm những quy tắc, những chuẩn mực đã được dư luận xã hội thừa nhận quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đổi với xã hội.
Nổi cách khác, đó là bộ mat nhân cách của cá nhắn. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội gop phẩn quan trọng xây dựng mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội. Đạo đức là phương thức nhận thức hiện thực có tính chất mệnh lệnh, đánh gid, nó điểu chỉnh hành vi của con người trên cơ sở vẫn động của các mặt đối lập thiện vã ác. Vì vậy đạo đức có một số chức nắng Rall: Con người muốn làm được diéu thiện, tránh làm điều ác trước hết ho phải hiểu, nắm vững được những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được xã hội quy định, thừa nhận.
Đó là cd sở cho họ vận dụng vào việc thực hiện những hành vi phù hợp với quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Đạo đức giúp con người hiểu được những quy tắc, nguyễn tắc và những chuẩn mực đạo đức trong xã hội. s* Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong cuộc sống, con người luôn phải giải quyết các mâu thuẫn phức tạp về cái gì nên làm và không nên làm, lầm bằng cách này hay làm bằng cách khác; nhất là các mỗi quan hệ phức tap giữa lợi ích cá nhân, tâp thể và xã hội. bản chất của sự diéu chỉnh hành vi là quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cải ắc, giữa lương tâm và trách nhiệm, giữa cái đạo đức và vô dao đức.Đạo đức giún cho mỗi cá nhân nhãn thức và thực hiện hành vi đúng hay sai, do dư luận xã hội đẳng tình ủng hộ hoặc lên tiếng phê phan, do lương tâm thoải mái hay không thoái mái, Như vậy chức năng định hướng giáo dục và chức ning điều chỉnh hành vi gắn liền với nhau trong đời sống đạo đức.
s*Cluic nững kiểm tra đúnh wich: Con người, chủ thể của hành vi đạo đức phải nhận thức được những quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội tiến bộ. Nhờ dé mà họ phân biệt được cái tốt, cái xấu, cái thiện, cấi ác trong cuộc sống và định hướng chính xác cũng như tin tưởng vào hành vi của mình. Điều đó giúp cho con người tự đánh giá và khẳng định giá trị đạo đức của minh trong xã hội. Các kiểu đạo đức trong lịch sử: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội.
được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và luân được moi giai cấp, mọi xã hội, mọi thời đại quan tâm. Ngay từ thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, ý thức đạo đức đã được hình thành và hoàn thiện dẫn trên cử sở của sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội từ thấp lên cao. Xã hội loài người đã trãi qua 5 hình thái kinh tế-xã hội, do đó đạo đức cũng có 5 kiểu Lưng ứng: - Đạo đức trong xã hội cộng sản nguyễn thủy. - Bao đức trong xã hội chiếm hữu nỗ lệ.
- Bao đức trong xã hội phong kiến. - Đạo đức trong xã hội tư bản chủ nghĩa. - Dav đức trong xã hội xã hội chủ nghĩa hay còn gọi là đạo đức cộng sản. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI Ở bậc trung học ed sở, việc giáo dục học sinh được tiến hành trong nãm học để đạt được mục tiêu của cấp học.
Quá trình giáo dục được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau và bao gẩm nhiều quá trình, bộ phận. Để có thể tiến hành công tác giáo dục đạo đúc cho học sinh, người giáo viên cần nắm được trình độ. những quy luật phát triển tâm lý của học sinh ở lứa tuổi 11-15, 12 Su cải tổ về mặt hình thải và sinh lý gây ra hiện tượng mất cân bằng tam thửi trong cuộc sống và trong hoạt động của thiếu niễn. Hiện tượng dậy thì nơi thiếu niên làm cho cơ thé các em có sự cải tổ mạnh mẽ, VỀ mat hình thai, trẻ ở lửa tuổi thiếu niên phát triển mạnh về chiểu cao, có sự nhảy vọt về tắm vóc.
Tuy nhiên, sự phat triển của co bắp không theo kịp với chiều cao nên đầu và giữa tuổi thiếu niên có sự mất cần đối giữa chiéu cao và chiéu ngang của cơ thể. Các tuyến nội tiết hoại động mạnh, đặc biệt là hoạt động của tuyến gidp trạng và tuyến sinh dục, gãy sự mất cân bằng của hệ thấn kinh trung ương. Chính sự mất cân bằng này dễ gây nên những cơn xúc động mạnh, gay ra những phản ứng nóng nẩy vô cd, những hành vi bat thường, tính dé bi kích thích, tính dễ nổi nóng, tính hiểu động ở tuổi thiếu niên. s*Thiếu niên muốn mọi người đối xử với mình như đối với người lớn.