Khảo sát thành phần chất thải rắn tại hộ gia đình và mô hình hướng đến không phát thải tại Đà Nẵng

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp khảo sát thành phần chất thải rắn phát sinh tại hộ gia đình và đề xuất mô hình, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu nghiên cứu

0.2. Mục tiêu tổng quát

0.3. Mục tiêu cụ thể

0.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.4.1. Ý nghĩa khoa học

0.4.2. Ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt

1.1.1. Định nghĩa chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt

1.1.2. Thành phần rác thải sinh hoạt các đô thị ở Việt Nam

1.1.3. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình thành phố Đà Nẵng

1.1.4. Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt ở thành phố Đà Nẵng

1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần chất thải rắn

1.1.6. Thành phố Đà Nẵng

1.2. Phương pháp tiếp cận trong xử lý CTR hướng đến không phát thải (Zero waste)

1.2.1. Mô hình không phát thải (Zero waste)

1.2.2. Tình hình nghiên cứu và áp dụng phương pháp xử lý CTR hướng đến mô hình không phát thải (Zero waste) trên thế giới

2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG

2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Khảo sát thành phần chất thải rắn tại các hộ gia đình ở thành phố Đà Nẵng

2.2.2. Đánh giá sự thay đổi thành phần chất thải rắn ở hộ gia đình tại thành phố Đà Nẵng

2.2.3. Đề xuất mô hình giảm thiểu rác thải tại thành phố Đà Nẵng

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa

2.3.2. Phương pháp phỏng vấn, lập phiếu điều tra khảo sát

2.3.3. Phương pháp thực nghiệm

2.3.4. Phương pháp thống kê phân tích số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Kết quả khảo sát CTR vào mùa mưa

3.1.1. Tình hình phát thải theo khu vực

3.1.2. Tình hình phát thải theo nghề nghiệp

3.1.3. Tình hình phát thải theo thu nhập

3.2. Kết quả nghiên cứu đợt mùa khô

3.2.1. Tình hình phát thải theo khu vực

3.2.2. Tình hình phát thải theo nghề nghiệp

3.2.3. Tình hình phát thải theo thu nhập

3.3. So sánh thành phần chất thải rắn với cuộc khảo sát vào năm 2010

3.4. Đánh giá thói quen phân loại rác và cam kết tham gia công tác giảm thiểu CTR hộ gia đình

3.5. Đề xuất các biện pháp giảm thiểu CTR hướng đến không phát thải (Zero waste)

3.5.1. Đề xuất kế hoạch thực hiện ở giai đoạn 1

3.5.2. Đề xuất kế hoạch thực hiện ở giai đoạn 2

3.5.3. Đề xuất kế hoạch thực hiện ở giai đoạn 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khảo sát chất thải rắn tại hộ gia đình

Khảo sát chất thải rắn tại hộ gia đình là một phần quan trọng trong việc hiểu rõ thành phần và nguồn gốc của chất thải phát sinh. Tại thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu cho thấy rằng chất thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng chất thải rắn. Theo số liệu, khoảng 70% chất thải phát sinh từ thực phẩm, hoa, cỏ, trong khi các thành phần khác như giấy, nhựa, và kim loại chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Việc phân tích thành phần này không chỉ giúp xác định nguồn gốc của chất thải mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho việc quản lý và xử lý hiệu quả hơn. Đặc biệt, việc phân loại chất thải tại nguồn là một yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường. Theo nghiên cứu, thói quen phân loại rác của người dân còn hạn chế, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình quản lý chất thải hiện tại.

1.1. Thành phần chất thải rắn tại hộ gia đình

Thành phần chất thải rắn tại hộ gia đình ở Đà Nẵng chủ yếu bao gồm chất thải sinh hoạt như thực phẩm thừa, giấy, nhựa, và kim loại. Cụ thể, chất thải hữu cơ chiếm khoảng 70.8%, trong khi chất thải tái chế chỉ chiếm 13%. Điều này cho thấy rằng việc quản lý chất thải hữu cơ là rất cần thiết. Các hoạt động nông nghiệp và làm vườn ở ngoại ô thành phố cũng góp phần làm tăng lượng chất thải này. Việc sử dụng chất thải hữu cơ làm phân bón hoặc thức ăn cho gia súc là một giải pháp khả thi, giúp giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường. Tuy nhiên, cần có các biện pháp khuyến khích và giáo dục người dân về việc phân loại và xử lý chất thải hiệu quả hơn.

II. Mô hình không phát thải tại Đà Nẵng

Mô hình không phát thải (Zero Waste) đang được áp dụng tại nhiều quốc gia và có thể được triển khai tại Đà Nẵng. Mô hình này không chỉ tập trung vào việc tái chế mà còn nhấn mạnh vào việc ngăn ngừa chất thải ngay từ đầu. Theo đó, tài nguyên được tái sử dụng và thu hồi tối đa, chỉ xử lý chất thải như là phương án cuối cùng. Việc áp dụng mô hình này tại Đà Nẵng có thể giúp giảm thiểu lượng chất thải phát sinh từ hộ gia đình, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về quản lý chất thải. Các chương trình giáo dục và thay đổi hành vi của người dân là rất cần thiết để đạt được mục tiêu này. Mô hình không phát thải đã được chứng minh là hiệu quả tại nhiều địa phương, như thị trấn Kamikatsu ở Nhật Bản, nơi người dân đã giảm được một nửa lượng chất thải nhờ vào việc phân loại rác nghiêm ngặt.

2.1. Lợi ích của mô hình không phát thải

Mô hình không phát thải mang lại nhiều lợi ích cho môi trường và cộng đồng. Đầu tiên, nó giúp giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường, từ đó giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường. Thứ hai, việc tái sử dụng và tái chế chất thải giúp tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và giảm chi phí xử lý chất thải. Cuối cùng, mô hình này còn nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc quản lý chất thải hiệu quả. Để triển khai thành công mô hình này tại Đà Nẵng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động giảm thiểu chất thải.

III. Quản lý chất thải rắn tại Đà Nẵng

Quản lý chất thải rắn tại Đà Nẵng hiện đang gặp nhiều thách thức. Hệ thống thu gom và xử lý chất thải chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng tồn đọng rác tại các khu dân cư. Tỷ lệ thu gom rác tại khu vực nội thành đạt trên 97%, nhưng huyện Hòa Vang vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác thu gom. Việc xử lý chất thải chủ yếu dựa vào công nghệ chôn lấp, điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Cần có các biện pháp cải thiện hệ thống quản lý chất thải, bao gồm việc nâng cao nhận thức của người dân về phân loại và xử lý chất thải. Các chương trình giáo dục và khuyến khích người dân tham gia vào công tác quản lý chất thải là rất cần thiết.

3.1. Thách thức trong quản lý chất thải rắn

Một trong những thách thức lớn trong quản lý chất thải rắn tại Đà Nẵng là sự thiếu hiểu biết của người dân về cách phân loại và xử lý chất thải. Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc phân loại rác tại nguồn, dẫn đến việc chất thải không được xử lý hiệu quả. Bên cạnh đó, các quy định về quản lý chất thải chưa được thực thi hiệu quả, gây khó khăn trong việc duy trì một môi trường sạch sẽ. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp giữa chính quyền và cộng đồng trong việc triển khai các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức về quản lý chất thải.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt 1. Định nghĩa chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [9].

Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại [4]. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm thực phẩm dư thừa và quá hạn sử dụng, chất dẻo, nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại,. Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau: khu dân cư, chợ, trường học, cơ quan, trung tâm du lịch thương mại,.

Thành phần rác thải sinh hoạt các đô thị ở Việt Nam Rác hữu cơ chiếm khoảng 60% thành phần rác thải sinh hoạt ở các đô thị Việt Nam, ngoài ra gồm có Giấy: 6%, nhựa: 16%, thủy tinh: 7%, kim loại: 2%, các thành phần khác: 9% [19]. Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Tp.71 [Nguồn: Báo cáo Nghiên cứu quản lý CTR tại Việt Nam, JICA, 3/2011] 3 Luan van Ở Việt Nam hiện nay, phương pháp xử lý thông thường với rác thải là chôn lấp. Ngoài ra còn có các phương pháp ủ phân compost, đốt rác ở nhiều nhà máy xử lý rác khác như ở Hội An, đảo Lý Sơn. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình thành phố Đà Nẵng Thành phần rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình ở Đà Nẵng có khoảng hơn 70% chất thải rắn từ thức ăn, hoa, cỏ, Giấy: 5%, Kim loại: 0.9%, nhựa, chất dẻo: 14%, thủy tinh: 1.1%, các thành phần khác: 5.

Trong đó rác hữu cơ chếm 70.8%, rác thải tái chế chiếm 13. Các hoạt động nông nghiệp và làm vườn ở ngoại ô thành phố làm tăng lượng hầu hết các loại chất thải, đặc biệt là chất thải hữu cơ. Một phần chất thải hữu cơ được người dân sử dụng làm phân bón hay để làm thức ăn nuôi gia súc [19]. Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt ở thành phố Đà Nẵng Mô hình quản lý chất thải rắn hiện nay ở Đà Nẵng là thu gom chung các thành phần rác thải và xử lý bằng công nghệ chôn lấp giống với các đô thị khác như Nam Sơn, Xuân Sơn (Hà Nội), Tràng Cát (Hải Phòng), Thủy Phương (Huế).

Mô hình thu gom CTR sinh hoạt tại thành phố Đà Nẵng: Hình 1. Mô hình thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt [Nguồn: Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng, 2017] 4 Luan van Tại 6 quận của thành phố, công tác thu gom rác thải được thực hiện hàng ngày, tỷ lệ thu gom rác tại khu vực nội thành đạt trên 97% khối lượng rác phát sinh trên địa bàn. Riêng huyện Hoà Vang, công tác thu gom CTR mới được thực hiện tại các khu dân cư nằm ven quốc lộ, tỉnh lộ và các chợ của xã [18]. Hệ thống thu gom CTR chưa đồng bộ, phương tiện thay đổi theo qui mô của khu vực thu gom dẫn đến vấn đề tồn đọng rác tại nhà dân và vỉa hè vì khó kiểm soát giờ giấc thu gom hay vấn đề rơi vãi rác trên các tuyến đường thu gom làm mất vệ sinh.

Một vấn đề lớn nữa là các trạm trung chuyển trước đây được bố trí xa khu dân cư nhưng với tốc độ đô thị hóa nhanh nên hiện phần lớn các trạm nằm trong khu dân cư, gây ô nhiễm mùi nghiêm trọng đến người dân sống xung quanh. Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt tại bãi rác Khánh Sơn: Xe thu gom rác Cân điện tử Phun chế phẩm khử mùi Đổ vào các hộc rác rá c Xử lý nước Nước San ủi rác rỉ rác Cầu rửa xe Xả thải Cân điện tử Điểm thu gom tiếp theo Hình 1. Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt tại bãi rác Khánh Sơn [Nguồn: Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng, 2015] Hiện nay công tác quản lý CTR chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tế, quản lý chất thải rắn ở Việt Nam đang cần cải thiện các vấn đề [16]: • Các hoạt động xử lý chất thải đô thị đang được cải thiện nhưng vẫn là một mối đe dọa đối với sức khoẻ và môi trường. 5 Luan van • Người dân chưa thực sự hiểu biết về chất thải rắn và cách phân loại chúng • Các quy định không được thi hành hiệu quả.

• Thiếu tài chính cho các hoạt động đe doạ tính bền vững xây dựng các chương trình quản lý chất thải rắn. • Người dân đóng vai trò hạn chế trong quản lý chất thải Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang gặp phải những khó khăn lớn. Việc triển khai chương trình phân loại rác tại nguồn đã được thực hiện nhiều lần nhưng do thiếu sự hợp tác từ phía cộng đồng và thiếu đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật từ hệ thống thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý chất thải chưa đồng bộ nên hiệu quả kinh tế còn hạn chế. CTR sinh hoạt của Đà Nẵng hiện nay sau khi thu gom đều được xử lý bằng công nghệ chôn lấp hiện thành phố có 1 bãi chôn lấp là bãi rác Khánh Sơn (quận Liên Chiểu), bắt đầu hoạt động từ năm 2000, hiện bãi rác Khánh Sơn hiện đã lấp đầy hơn 3/5 hộc chôn lấp rác thải đô thị.

Theo quy hoạch, bãi rác này sẽ đóng cửa vào năm 2020. Xử lý chất thải rắn và nước rỉ rác hiện đang chú trọng xử lý mùi hôi để không gây ảnh hưởng lớn đến dân cư xung quanh chưa được xử lý chất lượng triệt để. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần chất thải rắn Các mô hình tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế xã hội, môi trường và nhân khẩu học (Keser et al. Tăng thu nhập có thể làm cho mô hình tiêu dùng của người dân thay đổi, điều này có thể ảnh hưởng đến loại và số lượng chất thải [15]:  Dân số: Sự gia tăng dân số làm khối lượng rác tăng lên, thành phần rác đa dạng hơn.

 Thời điểm trong năm, trong tuần: Tùy vào mùa mưa hay mùa khô (trong tuần hay cuối tuần) mà lượng rác giảm hay tăng  Điều kiện kinh tế xã hội: Tính bình quân người dân đô thị tiêu dùng năng lượng, đồ tiêu dùng, thực phẩm,. cao gấp hai đến ba lần người dân nông thôn kéo theo lượng rác thải của người dân đô thị cũng gấp hai đến ba lần người dân nông thôn.  Thói quen và thái độ xã hội: Thói quen trong cách sử dụng sản phẩm, trong cách vứt bỏ và nhìn nhận về rác có ảnh hưởng đến thành phần, tính chất của rác. Thành phố Đà Nẵng Đà Nẵng là một thành phố thuộc Trung ương từ năm 1997, nằm trong vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam.

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1. Tọa độ phần đất liền của thành phố Đà Nẵng từ 15°15' đến 16°40' vĩ độ Bắc và từ 107°17' đến 108°20' kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 766 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 961 km về phía Nam. Thành phố Đà Nẵng gồm 6 quận : Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, và 2 huyện: Hòa Vang và Hoàng Sa. Bốn điểm cực trên đất liền của thành phố Đà Nẵng là:  Cực Bắc là phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu  Cực Tây xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang  Cực Nam là xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang.

 Cực Đông là phường Thọ Quang, quận Sơn Trà Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài [22]. Thống kê dân số các quận (huyện) tại thành phố Đà Nẵng Quận (huyện) Diện tích Dân số Mật độ Hải Châu 23,28 204. Phương pháp tiếp cận trong xử lý CTR hướng đến không phát thải (Zero waste) 1.

Mô hình không phát thải (Zero waste) Có rất nhiều khái niệm về mô hình không phát thải, đó là một bước tiến xa hơn việc tối đa hóa việc tái chế, chuyển sang ngăn ngừa chất thải. Tài nguyên nguyên liệu được tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi bất cứ khi nào có thể và chỉ xử lý như là phương án cuối cùng [20]. Mô hình không phát thải (Zero waste) là một phương tiện để loại bỏ việc sử dụng không cần thiết các nguyên liệu sử dụng hiệu quả tài nguyên và ngăn ngừa chất thải; tái sử dụng sản phẩm và thu hồi tài nguyên từ các sản phẩm khi chúng hết hạn hoặc thông qua tái chế, ủ phân hoặc thu hồi năng lượng, phù hợp với hệ thống phân loại chất thải [21]. Tình hình nghiên cứu và áp dụng phương pháp xử lý CTR hướng đến mô hình không phát thải (Zero waste) trên thế giới Trên thế giới phương pháp tiếp cận trong xử lý CTR hướng đến mô hình không phát thải (Zero waste) được áp dụng rộng rãi theo nhiều phương thức, lĩnh vực khác nhau.

Hiệu quả của mô hình tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước, sự quan tâm của Chính phủ, vào sự nhận thức của người dân.Các phương thức xử lý CTR hướng đến mục tiêu giảm thiểu lượng rác thải như hình 1. Phương thức xử lý CTR theo hiệu quả giảm hiểu [Nguồn: International Alliance] 8 Luan van Kế thừa phương pháp tiếp cận này, mô hình hướng đến không phát thải được áp dụng tại nhiều nước. Hiện nay các nước trên thế giới đang hướng đến thay đổi hành vi của con người đối với rác thải để giảm thiểu và sử dụng rác thải như một dạng tài nguyên. Tại thị trấn Kamikatsu, Tỉnh Tokushima, Nhật Bản, từ năm 2003 chính quyền địa phương đã bắt đầu thực hiện chiến dịch phân loại rác nghiêm ngặt.

Người dân trong thị trấn buộc phải tiếp thu kiến thức mới về phân loại rác, từ các loại chai nhựa dầu gội, nắp, lon, dao cạo,. tất cả là 34 nhóm rác khác nhau và đang được nâng dần lên 44 nhóm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát thành phần chất thải rắn tại hộ gia đình và mô hình hướng đến không phát thải tại Đà Nẵng" của tác giả Lê Thị Bích Hường, dưới sự hướng dẫn của TS. Kiều Thị Kính, trình bày một nghiên cứu quan trọng về quản lý chất thải rắn tại hộ gia đình ở Đà Nẵng. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thành phần chất thải mà còn đề xuất các mô hình nhằm hướng tới việc giảm thiểu phát thải, góp phần bảo vệ môi trường. Bài viết mang lại cái nhìn sâu sắc về thực trạng và giải pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc quản lý chất thải hiệu quả.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và quản lý y tế, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Thực Trạng Tự Kỳ Thị và Yếu Tố Liên Quan ở Bệnh Nhân HIV/AIDS Tại Phòng Khám Đông Anh Hà Nội (2017)", nơi nghiên cứu về các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến bệnh nhân HIV. Bài viết này cũng đề cập đến các khía cạnh quản lý sức khỏe cộng đồng, tương tự như trong nghiên cứu về chất thải rắn.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang", một nghiên cứu khác trong lĩnh vực y tế, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về công tác chăm sóc sức khỏe và quản lý y tế tại các cơ sở y tế.

Cuối cùng, bài viết "Thực trạng chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng tại khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020" cũng mang lại thông tin hữu ích về quy trình chăm sóc sức khỏe, liên quan đến việc quản lý và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế.

Những bài viết này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề y tế và môi trường mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về cách thức quản lý và cải thiện chất lượng cuộc sống.