Chương I MOT SO VAN ĐÈ LÝ THUYET VÀ CANH HUONG NGON NGỮ - XÃ HOI O LANG DAI LOC, XA YEN CHÍNH, HUYỆN Y YEN, NAM DINH 1. Tổng quan nghiên cứu hiện tượng lẫn lộn /I/ - /n/ trong tiếng Việt Trong giới Việt ngữ học, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến hiện tượng lẫn lộn /1/ và /n/. Trong đó, đầu tiên phải kể đến tác giả Trần Thị Thin với bài nghiên cứu “Bước dau tìm hiểu hiện tượng phát âm lệch chuẩn //, /n/” (1979), Trong bài viết, tác giả cho rằng hiện tượng lẫn lộn /1⁄, /n/ là hiện tượng lệch chuẩn hay còn gọi là ngọng. Tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích tư liệu, tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi của trên 100 học sinh lớp 4 và 100 học sinh lớp 1 thuộc trường tiểu học Đoàn Kết, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Nghiên cứu đã dùng phương pháp thực nghiệm rồi so sánh kết quả trước và sau khi thực nghiệm cho trẻ tập phát âm phân biệt hai phụ âm đầu này. Kết quả cho thấy sau khi có sự luyện tập phát âm số lượng trẻ phát âm chuẩn tăng lên đáng ké, chỉ còn 25/100 trẻ lớp 1 đôi lúc vẫn mắc lỗi. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cũng có một nghiên cứu “/n] hay [I] ở một làng quê Việt Nam: một quan sát từ góc độ ngôn ngữ học xã hội. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp định lượng của ngôn ngữ học xã hội để khảo sát biến thé của /I/ ở một làng quê Việt Nam nhằm tìm sự giống và khác nhau giữa cộng đồng văn hóa ngôn ngữ này với các cộng đồng văn hóa ngôn ngữ đã được khảo sát ở nơi khác.
Sau đó tác giả cũng đưa ra kết luận rằng hiện nay xu hướng phát âm /1/ thành /n/ là xu hướng chính. Liên quan đến đối tượng này, tác Hà Quang Năng cũng có một nghiên cứu được trình bày trong bài viết “Khảo sát thực trạng các cách phát âm lẫn lộn [1] - [n] hiện nay” (2007). Trong nghiên cứu này, tác giả nhìn đối tượng với tư cách một hiện tượng “phát âm địa phương” và tìm hiểu xu hướng chuyên đổi hai phụ âm này tại một làng ngoại thành Hà Nội. Tác giả cũng đã 6 đưa ra kiến nghị răng “Cần có những điều tra, khảo sát tiếp theo ở nhiều địa phương khác nhau thuộc phương ngữ Bắc Bộ nhằm xác định xu hướng chuyên đổi của cặp phụ âm này”.
Như vậy, tác giả Hà Quang Năng đã chỉ ra một hướng đi là mở rộng địa bàn khảo sát tiến tới điều tra tổng thé trong phạm vi phương ngữ Bac dé có những tổng hợp về thực trạng lẫn lộn hai phụ âm đầu /I/ va /n/. Một trong những tiếng nói góp vào số các công trình nghiên cứu hiện tượng này là nghiên cứu của tác giả sinh viên Dương Thị Hồng Yên với một công trình nghiên cứu đạt giải Nhì của Bộ Giáo duc va Dao tạo năm 2012. Nghiên cứu cho thấy góc nhìn khá tổng quan về “Sw khác biệt trong hiện tượng lan lộn /1⁄. /n/ giữa khu vực đô thị và nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc”.
Với đề tài này, tác giả đã phân tích các biến xã hội tác động đến tình hình sử dụng các biến thé phi chuẩn của /1, /n/ tại Vĩnh Phúc. Sau đó tác giả tổng hợp kết qua và đưa ra phân tích của những nhân tố xã hội tác động đến hiện tượng lẫn lộn các phụ âm đầu /1⁄, /n/ tại khu vực nông thôn và khu vực đô thị. Từ đó, nghiên cứu đã phân tích, tìm ra những khác biệt trong hiện tượng lẫn lộn các phụ âm đầu /1/, /n/ ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị của tỉnh Vĩnh Phúc như thế nào, thông qua đó, tác giả mong muốn hướng người đọc nhìn rộng ra các cộng đồng nông thôn và đô thị khác. Ngoài những nghiên cứu trên đây còn có một số nghiên cứu của các tác giả khác có đề cập đến hiện tượng ở những mức độ khác nhau, hoặc ban đến hiện tượng nhân nghiên cứu các biến thể phát âm địa phương thuộc phương ngữ Bắc nói chung như Bùi Thị Minh Yến (2007) với “Học vấn với việc phát âm [I] - [n] trong tiếng Việt (ở một xã ngoại thành Hà Nội)”, trong cuỗn “Ngôn ngữ và văn hóa Hà Nội”; Ngô Thi Hải Yến (2014) với “Biến thể ngôn ngữ mang tính đánh dấu tại hai xã Cổ Loa và Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Noi” (Khoá luận tốt nghiệp Cử nhân Ngôn ngữ học trình độ quốc tế, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học KHXH&NV); Trịnh Cam Lan (2016) với “Biến thể ngôn ngữ đánh dấu trong tiếng Hà Nội khu vực nông thôn” (Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 1, 2016).
Các nghiên cứu này chủ yếu đều phác thảo hiện trạng phát âm hai phụ âm /1/, /n/, lý giải hiện trạng từ góc độ ngôn ngữ và xã hội, tìm ra những nhân tố xã hội có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến hiện trạng đó. Như vậy, có thể nói, hiện trạng phát âm các biến thé của /1/ và /n/ đã được nghiên cứu ở một số cộng đồng nông thôn Bắc Bộ và bước đầu các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những nhận định về hiện trạng. Một số nghiên cứu cũng xem xét các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến hiện trạng này. Tuy nhiên, mỗi cộng đồng nông thôn lại có những cảnh huống riêng về dân cư, xã hội, sự cư trú, cũng có thể có những đặc điểm riêng về sự giao lưu, tiếp xúc với các cộng đồng bên ngoài, đặc điểm riêng về cảnh huống ngôn ngữ nên việc sử dụng các biến thé phát âm của /1/ và /n/ nói riêng, của các âm vị khác trong hệ thống nói chung có thé không giống nhau.
Vì vậy, việc lựa chọn Khảo sdt các biến thé phát âm của NV, /n/ (nghiên cứu trường hop làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định) ở luận văn này là góp thêm một hiện trạng từ một cộng đồng nông thôn chưa từng được nghiên cứu cho bức tranh chung. Một số vấn đề lý thuyết chính Trong chương này, chúng tôi cố gắng trình bày một cách ngắn gọn những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho các chương tiếp theo. Như đã trình bày ở phần phương pháp nghiên cứu, luận văn này nghiên cứu phương ngữ với tư cách là biến thể của ngôn ngữ trong lời nói. Đối tượng nghiên cứu đòi hỏi phải dùng các phương pháp và cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học xã hội mà chỗ dựa cơ bản là cách tiếp cận của trường phái “Biến thé học” trong nghiên cứu phương ngữ.
Sau đây là một vài vấn đề lý thuyết cơ bản. Biến thể ngôn ngữ, phương ngữ, thổ ngữ với tư cách là biến thể của ngôn ngữ 1. Biến thé ngôn ngữ, biến thé ngôn ngữ đánh dau Biến thể ngôn ngữ Cho đến nay, trong giới nghiên cứu, có rất nhiều các quan niệm khác nhau về biến thé ngôn ngữ. Có quan niệm cho rằng biến thé là một loại biến dạng của hăng thê và chỉ tồn tại trong mối tương quan với hằng thể đó.
Tuy nhiên, cách quan niệm như vậy chỉ ton tại được trong điều kiện một ngôn ngữ đã được xác định những biến thé chuẩn mực một cách chính thức [Dẫn theo 48]. Nguyễn Văn Khang coi biến thể ngôn ngữ (variety hay variant) là một đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội, theo đó biến thể là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ thông trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với đặc trưng xã hội giống nhau. [11; 30] Nhu vậy, cái gọi là biến thé ở đây có thé là ngôn ngữ, cũng có thé là phương ngữ hoặc thậm chí là phong cách, hay một dạng biểu hiện một đơn vị nào đó của hệ thống ngôn ngữ như một thành tố ngữ pháp, một yếu tố từ vựng hay một âm vị nào đó. Chăng hạn phương ngữ của vùng Nam Bộ cũng được coi là biến thể ngôn ngữ, cụ thể hơn, cách phát âm lệch chuẩn [n] của âm vị /1/, [1] của âm vị /n/, cách phủ định “hồng có” thay vì “không” trong phương ngữ Nam,.
đều là các biến thé. Theo Trịnh Câm Lan, đây là cách quan niệm có thể nói là thỏa đáng và ton tại phổ biến trong ngôn ngữ học xã hội nhiều thập kỉ qua. Tất nhiên, hai cách quan niệm trên có xu hướng xích lại gần nhau ở những ngôn ngữ mà người ta đã xác định được đâu là các biến thé chuẩn mực trong số các biến thé. [Trịnh Cam Lan, Sự biến đổi ngôn từ của các cộng đồng chuyển cư đến thủ đô - Nghiên cứu trường hợp cộng dong Nghệ Tĩnh tại Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007.] [48,16] Cơ sở nghiên cứu của phương ngữ học xã hội là dựa trên mối tương quan nào đó giữa các biến ngôn ngữ và các biến xã hội ở một cộng đồng phương ngữ.
Khi nói đến các biến xã hội là chúng tôi muốn nói đến những nhân tố tạo nên tính đa dạng xã hội của ngôn ngữ, như: khu vực, địa vị xã hội, phong cách, tuôi, giới, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, hoàn cảnh giao tiếp. Chính sự liên quan, sự tương tác giữa những nhân tô xã hội khác nhau đó và sự thể hiện của chúng trên các biến thể ngôn từ lại làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ, đặc biệt là thứ ngôn ngữ sinh động mà ngôn ngữ học xã hội lấy làm doi tượng nghiên cứu [51,17]. Trong luận văn này, chúng tôi muốn xem xét việc sử dụng các biến thể của /1/ và /n/ trong ngôn từ của người dân một vùng nông thôn Nam Dinh (cu thể là làng Đại Lộc, xã Yên Chính, Ý Yên, Nam Định) dé từ đó xem xét anh hưởng của sự phân bố xã hội lên những biến thể ngôn ngữ đó, cố gắng tìm ra những mối tương quan giữa các biến ngôn ngữ và các biến xã hội. Bên cạnh đó, cũng tôi cũng cố gắng điều tra thái độ ngôn ngữ của họ với các biến thé địa phương vốn đã và đang tồn tại trong cộng đồng của họ.
Biến thể ngôn ngữ đánh dấu Biến thể ngôn ngữ mang tính đánh dấu hay biến thể ngôn ngữ bị đánh dấu (marked variation) lan dau được Nikolay Trubetzkoy (1890 — 1938), một nhà ngôn ngữ hoc thuộc trường phải Praha dua ra và được ung dung trước hết trong âm vị học để chỉ những khác biệt lưỡng phân liên quan đến khả năng có hay không có thuộc tinh x của một cặp đối lập: không có thuộc tính x — không đánh dấu (unmarked) và có thuộc tính x — bị đánh dấu (marked) [dẫn theo 1, tr21]. Chang hạn, các cặp doing/doin; call/calls. là những cặp đối lập giữa không đánh dấu và đánh dấu (hay bị đánh dấu).