Khảo nghiệm một số loại thuốc hóa học trừ sâu ăn lá trên cây lạc trong vụ đông xuân 2018 tại quảng nam

Khảo nghiệm hiệu quả các loại thuốc hóa học trừ sâu ăn lá trên cây lạc vụ đông xuân 2018 tại Quảng Nam, mang lại thông tin hữu ích cho nông dân.

Trường đại học

Trường Đại Học Quảng Nam

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

72
19
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1. PHẦN I: Lí do chọn đề tài

1.1. Mục tiêu của đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về cây lạc

2.1.1. Phân loại khoa học (Scientific classification)

2.1.2. Nguồn gốc và phân bố

2.1.3. Đặc điểm sinh học của cây lạc

2.1.4. Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây lạc

2.1.5. Tình hình nghiên cứu sâu hại ở cây lạc trên thế giới và trong nước

2.1.5.1. Tình hình nghiên cứu sâu hại ở cây lạc trên thế giới
2.1.5.2. Tình hình nghiên cứu sâu hại trên cây lạc ở Việt Nam
2.1.5.3. Tình hình nghiên cứu sâu hại và sản xuất lạc tại Quảng Nam

2.1.6. Các loại sâu chính trên cây lạc và tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây lạc

2.1.6.1. Các loại sâu hại chính trên cây lạc
2.1.6.2. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây lạc

2.1.7. Tổng quan về các loại thuốc thí nghiệm

2.1.8. Điều kiện tự nhiên, địa hình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam và điều kiện khí hậu thời tiết vụ Đông Xuân năm 2017 – 2018

2.1.8.1. Điều kiện tự nhiên, địa hình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
2.1.8.2. Điều kiện tự nhiên
2.1.8.3. Điều kiện khí hậu thời tiết vụ Đông Xuân năm 2017 – 2018

2.2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Thuốc trừ sâu hóa học

2.2.3. Dụng cụ dùng trong nghiên cứu

2.2.4. Nội dung nghiên cứu

2.2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.2.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.2.5.2. Phương pháp theo dõi thí nghiệm
2.2.5.3. Phương pháp xử lí số liệu

2.2.6. Quy trình canh tác cây lạc

2.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

2.3.1. Ảnh hưởng của thuốc hóa học đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và đặc tính nông học của giống lạc thí nghiệm

2.3.2. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng của giống lạc thí nghiệm

2.3.3. Tỷ lệ mọc khi gieo ở các công thức thí nghiệm

2.3.4. Động thái tăng trưởng chiều cao cây lạc ở các công thức thí nghiệm

2.3.5. Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến sự tăng trưởng số lá lạc

2.3.6. Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến đặc tính ra hoa của lạc

2.3.7. Hiệu lực của các loại thuốc trong phòng trừ sâu ăn lá hại lạc

2.3.8. Thành phần và tình hình một số sâu ăn lá hại giống lạc thí nghiệm

2.3.9. Hiệu lực trừ sâu khoang của các thuốc thí nghiệm

2.3.10. Hiệu lực trừ sâu cuốn lá của các thuốc thí nghiệm

2.3.11. Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây lạc

2.4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo nghiệm thuốc hóa học trừ sâu ăn lá trên cây lạc

Khảo nghiệm thuốc hóa học trừ sâu ăn lá trên cây lạc tại Quảng Nam là một nghiên cứu quan trọng nhằm xác định hiệu quả của các loại thuốc bảo vệ thực vật trong việc kiểm soát sâu hại. Cây lạc, một trong những cây trồng chủ lực tại Việt Nam, đang phải đối mặt với nhiều loại sâu ăn lá gây hại. Việc tìm ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn bảo vệ môi trường.

1.1. Tình hình sâu ăn lá trên cây lạc tại Quảng Nam

Tình hình sâu ăn lá trên cây lạc tại Quảng Nam đang trở nên nghiêm trọng. Các loại sâu như sâu khoang và sâu cuốn lá phát triển mạnh mẽ, gây thiệt hại lớn cho năng suất. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuốc hóa học là một trong những biện pháp hiệu quả để kiểm soát tình trạng này.

1.2. Vai trò của cây lạc trong nông nghiệp bền vững

Cây lạc không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất và tăng cường độ phì nhiêu. Việc bảo vệ cây lạc khỏi sâu hại là cần thiết để duy trì sản xuất nông nghiệp bền vững tại Quảng Nam.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng trừ sâu ăn lá

Việc phòng trừ sâu ăn lá trên cây lạc gặp nhiều thách thức, bao gồm sự phát triển nhanh chóng của các loại sâu hại và sự kháng thuốc của chúng. Nông dân thường gặp khó khăn trong việc lựa chọn loại thuốc phù hợp và hiệu quả. Điều này đòi hỏi cần có các nghiên cứu sâu hơn để tìm ra giải pháp tối ưu.

2.1. Sự phát triển của sâu hại và kháng thuốc

Sự phát triển của sâu hại trên cây lạc ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong điều kiện khí hậu biến đổi. Nhiều loại sâu đã xuất hiện tình trạng kháng thuốc, làm giảm hiệu quả của các biện pháp phòng trừ truyền thống.

2.2. Khó khăn trong việc lựa chọn thuốc trừ sâu

Nông dân thường gặp khó khăn trong việc lựa chọn thuốc trừ sâu phù hợp. Việc thiếu thông tin và kiến thức về các loại thuốc có thể dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả, gây lãng phí và ảnh hưởng đến môi trường.

III. Phương pháp khảo nghiệm thuốc hóa học trừ sâu ăn lá

Nghiên cứu khảo nghiệm thuốc hóa học trừ sâu ăn lá được thực hiện thông qua các thí nghiệm trên đồng ruộng. Các loại thuốc được chọn lựa dựa trên hiệu quả trừ sâu và tính an toàn cho cây lạc. Phương pháp thí nghiệm bao gồm việc theo dõi sự phát triển của cây lạc và đánh giá hiệu quả của từng loại thuốc.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và phương pháp thực hiện

Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, với các lô thí nghiệm được phân chia rõ ràng. Mỗi loại thuốc được áp dụng theo liều lượng khuyến cáo và theo dõi sự phát triển của cây lạc trong suốt vụ mùa.

3.2. Đánh giá hiệu quả của thuốc trừ sâu

Hiệu quả của các loại thuốc được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu như tỷ lệ sống sót của cây, số lượng lá, và năng suất thu hoạch. Kết quả sẽ giúp xác định loại thuốc nào có hiệu quả nhất trong việc kiểm soát sâu ăn lá.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số loại thuốc hóa học có hiệu quả cao trong việc trừ sâu ăn lá trên cây lạc. Việc áp dụng các loại thuốc này không chỉ giúp giảm thiệt hại do sâu hại mà còn nâng cao năng suất cây lạc. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc cần phải được thực hiện một cách hợp lý để đảm bảo an toàn cho môi trường.

4.1. Hiệu quả của các loại thuốc thí nghiệm

Các loại thuốc như Anboom 48CE và Sairifos 585 EC đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc kiểm soát sâu ăn lá. Năng suất cây lạc tăng lên đáng kể khi sử dụng các loại thuốc này, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sản xuất.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao cho nông dân tại Quảng Nam để áp dụng trong sản xuất. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Khảo nghiệm thuốc hóa học trừ sâu ăn lá trên cây lạc tại Quảng Nam đã chỉ ra những kết quả khả quan. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao nhận thức cho nông dân về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn và hiệu quả.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được các loại thuốc hóa học hiệu quả trong việc trừ sâu ăn lá, góp phần nâng cao năng suất cây lạc. Kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc quản lý sâu hại trong nông nghiệp.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu các biện pháp sinh học và tích hợp để quản lý sâu hại một cách bền vững. Việc này không chỉ giúp bảo vệ cây lạc mà còn bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp.

10/07/2025
Khảo nghiệm một số loại thuốc hóa học trừ sâu ăn lá trên cây lạc trong vụ đông xuân 2018 tại quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây lạc Cây lạc có nguồn gốc lịch sử ở Nam Mỹ. Vào thời kỳ phát hiện Châu Mỹ, cùng vói sự thâm nhập của Châu Âu vào lục địa mới, người ta mới biết cây lạc.

Nguồn gốc cây lạc ở Nam Mỹ được khẳng định khi SKiê (E.1877) tìm thấy lạc trong ngôi mộ cổ An Côn ở bờ biển gần LiMa, thủ đô PêRu. Người ta đã phát hiện ở đây nhiều ngôi mộ có chứa những xác ướp đặt ngồi, xung quanh là những vại bằng đất nung đựng nhiều loại thực phẩm khác nhau, còn được bảo vệ tốt. Trong đó có nhiều vại dựng quả lạc. Những mẫu vật về lạc phát hiện ở An Côn có liên quan với văn hoá trước An Côn được xác định vào khoảng 750-500 năm trước công nguyên.

Theo tài liệu của Engen thì lạc tìm thấy ở (Las Haldas) thuộc thời kỳ trước đồ gốm cách đây khoảng 3800 năm.1 Phân loại khoa học (Scientific classification) Bộ (ordo) Đậu (Fabales) Họ (familia) Đậu (Fabaceae) Phân họ (subfamilia) Đậu (Faboideae) Tông (tribus) Rút dại (Aeschynomeneae) Chi (genus) Lạc (Arachis) Loài (species) Arachis hypogaea 1.2 Nguồn gốc và phân bố Lạc (Arachis) với khoảng 70 loài thực vật có hoa sống một năm hoặc lâu năm và có nguồn gốc từ khu vực Trung và Nam Mỹ. 3 Loài đậu phộng /lạc (Arachis hypogaea) có thể được thần hóa đầu tiên ở các vùng thung lũng của Paraguay hoặc Bolivia (Nam Mỹ), nơi mà các chủng hoang dã nhất còn phát triển cho đến ngày nay. Ở Nam Mỹ, nhiều nền văn hóa tiền Columbus, chẳng hạn như nền văn hóa Moche, đã mô tả đậu phộng trong nghệ thuật của họ. Ở Peru, các nhà khảo cổ đã tìm thấy mẫu vật lâu đời nhất của cây đậu phộng khoảng 7.

Người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha phát hiện cây đậu phộng ở các thuộc địa ở Nam và Trung Mỹ, từ đó cây đậu phộng được lan truyền trên toàn thế giới bởi các thương nhân châu Âu. Vào thế kỷ 16 người Bồ Đào Nha đã mang lạc từ Brazil đến Tây châu Phi và sau đó là Tây Nam Ấn Độ. Cây đậu phộng đã được giới thiệu đến Trung Quốc và các nước ở Tây Thái Bình Dương như Indonesia, Madagascar do thương nhân người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 17 và một loạt các nhà truyền giáo người Mỹ trong thế kỷ 19 và sau đó lan rộng ra khắp châu Á. Ở Việt Nam, lịch sử trồng cây đậu phộng chưa được xác minh rõ ràng, sách “Văn đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn cũng chưa đề cập đến cây đậu phộng Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “Lạc” có thể do từ Hán “Lạc hoa sinh” (có người cho rằng người Hán đã phiên âm từ "Arachis") là từ mà người Trung Quốc gọi cây lạc.

Do vậy, cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ 17-18. Trước thế kỷ 19, cây đậu phộng ở Nam và Bắc Mỹ được người Châu Âu khai thác chủ yếu được dùng làm thức ăn gia súc. Hiện nay cây đậu phộng có khoảng 1000 giống khác nhau được trồng khắp các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Do ít mẫn cảm với thời 4 gian chiếu sáng và có tính chịu hạn tốt cho nên lạc được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam (Nigam et al, 1991).

Đặc điểm sinh học của cây lạc * Đặc điểm cơ quan sinh dưỡng Rễ Rễ chính của lạc phát triển nhanh trong thời kỳ đầu sinh trưởng. Quan sát trong vụ xuân ở nước ta, sau khi gieo 10 ngày rễ chính ăn sâu 5cm. Sau gieo 20 ngày, rễ chính ăn sâu 10cm và hệ rễ con đã phát triển. Khi lạc được 5 lá bộ rễ lạc đã tương đối hoàn chỉnh với 1 rễ chính sâu 15-20cm, hệ rễ con phát triển với rẽ cấp 2, 3 và nốt sần đã có khả năng cố định đạm.

Trong điều kiện thuận lợi, rễ chính có thể ăn sâu tới 1m. Tuy nhiên đại bộ phận rễ con phân bố ở tầng đất mặt 0-30cm (chiếm 60-80% trọng lượng). Trọng lượng rễ thay đổi tuỳ thuộc ở điều kiện canh tác, tính chất đất đai, chế độ nước trong đất. Bộ rễ phát triển sớm và khoẻ là cơ sở quan trọng để tăng năng suất lạc.

Thân, cành Cây lạc lớn lên nhờ mầm sinh trưởng ở ngọn cây và ngọn cành, thân lạc mền, lúc còn non thì tròn, sau khi ra hoa phần trên thân có cành rỗng, hoặc có cạnh. Thân có 15-25 đốt, ở phía dưới gốc đốt ngắn, ở giữa và phía trên thân đốt dài, thân thường có màu xanh hoặc màu đỏ tím, trên thân có 5 lông tơ trắng, nhiều hay ít tuỳ thuộc vào giống, tuỳ vào điều kiện ngoại cảnh. Thân lạc tương đối cao và phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền giống. + Cành cấp 1: thường có 4- 6 cành.

Cành cấp 1, mọc từ nách lá thân chính. Hai cành đầu tiên mọc từ nách lá mầm. Vì 2 lá mầm gần như mọc đối nên 2 cành này cũng ở vị trí gần như đối nhau qua thân chính và thời gian xuất hiện đồng thời.Trong thực tế, rất khó phân biệt cành số 1và số 2 cho nên có thể coi chúng như cặp cành đầu tiên. Cặp cành này xuất hiện khi cây có 2-3 lá thật.

Cành số 3, số 4 mọc từ nách lá thật 1, 2. Lá lạc mọc cách, nhưng đốt thứ 2 thường ngắn hơn đốt 1và 3 cho nên cành 3,4 gần nhau hơn và tạo thành cặp cành thứ 2 và cành 5,6 cũng tương đối gần nhau hơn, tạo nên cạp cành thứ 3. + Cành cấp 2: cành cấp 2 thường chỉ xuất hiện ở cặp cành cấp 1 đầu tiên. Vị trí cành cấp 2 thường ở 2 đốt đầu tiên của cành cấp 1.

Như vậy, thường chỉ có 4 cành cấp 2. Cành cấp 2 xuất hiện khi lạc được 5,6 lá trên thân chính. Số cành của lạc liên quan trực tiếp đến số quả. Các cành mô tả trên đều là cành quả.

Số hoa và số quả ở tầng cành thứ nhất (că ̣p cành 1, 2 và các cành cấp 2) chiếm khoảng 50-70% tổng số hoa, quả/cây; tầng cành thứ 2 chỉ chiếm 20-30% và tầng cành 3 thường dưới 10% số hoa, quả. Lá lạc Lá: Lá lạc thuộc loại lá kép hình lông chim gồm 2 đôi lá chét, cuống lá dài từ 4-9cm. Thường có những lá biến thái có 1, 2, 3, 5 hoặc 6-8 lá chét. Lá chết không cuống mọc đối nhau, thường có hình bầu dục, bầu dục dài, hình trứng lộn ngược, màu sắc xanh nhạt hay xanh đậm, vàng nhạt hay đậm tuỳ theo giống.

Màu sắc lá thay đổi tuỳ điều kiện trồng trọt (Đất nhiều nước quá lá màu xanh vàng, đất khô hạn lá màu xanh tối). Độ ẩm vừa phải, đất thoáng, vi khuẩn cố định Nitơ hoạt động mạnh cung cấp đủ N cho cây thì lá có màu xanh đậm. 6 Sự phát triển của bộ lá Trên thân chính cây lạc số lá có thể đạt 20-25 lá. Khi thu hoạch tổng số lá trên cây có thể đạt 50-80 lá.

Tuy nhiên, do những lá già rụng sớm nên số lá trên cây cao nhất vào thời kỳ hình thành quả và hạt, thường đạt 40- 60 lá. Diễn biến tăng trưởng diện tích lá lạc từ khi mọc đến thời kỳ hình thành quả và hạt tương ứng sự tăng trưởng chiều cao thân. Thời kỳ ra hoa đến hình thành quả, hạt là thời kỳ thân cành phát triển mạnh. Diện tích lá đạt cao nhất thường vào thời kỳ hình thành quả, hạt (30-35 ngày sau khi có hoa), sau đó giảm dần do sự rụng của lá già.

* Đặc điểm cơ quan sinh dưỡng Hoa Cấu tạo hoa Hoa lạc màu vàng, không có cuống, gồm 5 bộ phận: Lá bắc, đài hoa, tràng hoa, nhị đực và nhị cái Hình 1.2 Hoa lạc * Tập tính ra hoa của lạc Hoa lạc phát triển thành chùm gồm 2-7 hoa có khi tới 15 hoa. Chùm hoa mọc từ cành dinh dưỡng ở nách một lá đã phát triển đầy đủ hoặc chưa đầy đủ. Trên mỗi đốt của chùm hoa mang 1 lá bao và ở nách lá đó một cành hoa rất ngắn phát triển, cành hoa mang 1 lá thường là chẻ đôi và ở nách lá này là mầm hoa. Cành hoa phát triển trên trục chùm hoa theo công 7 thức diệp tự 2/5.

Như vậy, chùm hoa phát triển như 1 cành dinh dưỡng có khích thước rất nhỏ. Quả và hạt Sau khi thụ tinh, tia lạc phát triển đẩy bầu hoa xuống đất. Tia do mô phân sinh nằm ở gốc bầu hoa hình thành, thực chất là bộ phận của quả.Tận cùng tia là quả phát triển sau khi tia đã đâm xuống đất. Tia thường dài không quá 15cm.

Tia có tính hướng địa dương, mọc đâm thẳng vào đất và quả phát triển ở vị trí nằm ngang giữa độ sâu 2-7cm dưới mặt đất.3 Quả lạc * Cấ u ta ̣o quả: Quả lạc hình kén, dài 1-8cm, rộng 0,5- 2cm, một đầu có vết đính với tia, đầu kia là mỏ quả, phần giữa thắt eo lại, ngăn cách 2 hạt. Mỏ quả, độ thắt, kích thước, trọng lượng quả là những đặc điểm để phân loại giống lạc. Vậy quả lạc hình thành từ ngoài vào trong, vỏ có trước, hạt có sau, hoa nở được 30 ngày thì vỏ quả hình thành xong. Hoa nở được 60 ngày hạt hình thành xong.

Vì lớp vỏ quả trong giữa noãn và vỏ quả ngoài lớn nhanh làm thành một tầng mô mềm rất dày. Sau đó sang giai đoạn hình thành hạt, noãn càng lớn lên thì vỏ quả trong càng xẹp đi và biến mất khi hạt già. * Hình dạng quả Hình dạng quả thay đổi tuỳ theo giống. Mỏ quả tù, hơi tù hoặc nhọn, eo lưng, eo bụng rõ hay không, đường gân trên vỏ quả nhiều hay ít là 8 những chỉ tiêu dùng để phân loại giống lạc.

Màu sắc vỏ quả thay đổi nhiều theo điều kiện ngoại cảnh đất trồng lạc, đều kiện phơi. Ở đất cát, vỏ quả màu vàng sáng, bóng * Hình dạng hạt Hình dạng hạt tròn, bầu dục hay ngắn, phần tiếp súc với hạt bên cạnh thường thẳng. Trong một quả, hạt ở ngăn trước dài, bé, hạt ở ngăn sau ngắn, to. Màu sắc vỏ lụa có thể trắng hồng, đỏ tím.

Có vân hoặc không. Màu sắc vỏ lụa ít bị điều kiện ngoại cảnh chi phối là một đặc tính giống. Màu sắc vỏ hạt quan sát sau khi phơi khô, bóc vỏ mới chính xác. Số hạt trong 1 quả thay đổi chủ yếu do giống, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh.

Phần lớn quả có 2 hạt, một số giống có 3 hạt. Quả có 1 hạt giống nào cũng có. Thường giống quả to, quả có ít hạt, giống hạt nhỏ quả có nhiều hạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ