Chương 1 với các nội dung đã thể hiện; điều đó làm cơ sở tiên quyết nhằm đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật và hoạt động kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân thuộc phạm vi nghiên cứu trong thời gian lấy số liệu, từ đó mới có thể giải quyết được các yêu cầu đặt ra của Chương tiếp theo. 15 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNGTẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển các quy định về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam 2.Quy định của Hiến pháp và các luật chuyên ngành Hiến pháp 1946 quy định về Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự và bộ phận Công tố nằm trong Tòa án; chưa quy định thủ tục 2 cấp xét xử, chưa quy định VKS và quyền kháng nghị phúc thẩm. Hiến pháp các năm: 1959, 1980, 1992 và năm 2013 đều có quy định về thủ tục 2 cấp xét xử (xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị).
LTCVKSND các năm: 1960, 1981, 1992, 2002 và 2014 có quy định quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS đối với bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp. LTCTAND các năm: 1960, 1981, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 1993 và 1995), 2002 và 2014 đều quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm để xét kháng cáo, kháng nghị. Từ 1959 đến trước khi có Hiến pháp 1992 các bản Hiến pháp và các LTCTAND, các LTCVKSND trong giai đoạn này, kể cả BLTTHS 1988 đều không quy định quyền kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hình sự của Tòa hình sự TANDTC vì bản án này là sơ chung thẩm. Hiến pháp năm 1992 và LTCTAND 1992 trở đi đã không quy định TANDTC xét xử vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm nữa; đây là một chủ trương đúng đắn để bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, các thủ tục tố tụng đặc biệt.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự BLTTHS 1988 tại Điều 204 quy định về tính chất của phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị; Điều 206 quy định về quyền kháng 16 nghị của VKS đối với những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án; Điều 208 quy định về thời hạn kháng cáo, kháng nghị; Điều 211 về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị; Điều 212 về bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị; Điều 214 về phạm vi xét xử phúc thẩm; Điều 216 về thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm; Điều 220 về bản án phúc thẩm; Điều 225 quy định phúc thẩm những quyết định của Tòa án sơ thẩm…Lần đầu tiên Nhà nước ta đã luật hóa trong tố tụng hình sự về thủ tục xét xử phúc thẩm trong đó có xét kháng nghị. Tuy nhiên, một trong những hạn chế đáng kể của Bộ luật này là không có quy định về chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm, mà chỉ có LTCVKSND 1981 quy định Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp mới có quyền kháng nghị theo thủ tục này, nhưng thời hạn kháng nghị cũng chỉ trong mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm, trong khi Luật này là luật chuyên ngành. Quy định của Bộ luật tố tụng hình 2015 về kháng nghị phúc thẩm 2. Chủ thể, phạm vi, thời hạn, hậu quả kháng nghị - Chủ thể kháng nghị.
Theo Điều 27 thì một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật này là ghi nhận chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (thay cho thủ tục 2 cấp xét xử của BLTTHS 2003), đó chính là tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp và ghi nhận quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS. Kháng nghị là sự kiện pháp lý làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm, nếu không xảy ra việc VKS hoặc Kiểm sát viên rút kháng nghị tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm. Cần nhận thức rằng, nếu bản án, quyết định sơ thẩm nào bị kháng nghị trong thời hạn theo quy định của pháp luật, thì không phải toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm đó đều chưa có hiệu lực pháp luật, mà chỉ có những phần của bản án, quyết định sơ thẩm đó hoặc toàn bộ bản án, quyết định đó bị kháng nghị mới chưa có hiệu lực pháp luật; nếu kháng nghị đều quá thời hạn theo Bộ luật này quy định, thì toàn bộ bản án, quyết định hoặc một phần bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, hay nói một cách khác là kháng nghị khong có giá trị pháp lý về hình thức nên không phát sinh thù tục phúc thẩm. Tuy nhiên, không phải ai cũng có quyền ban hành kháng nghị phúc thẩm, mà chỉ có cơ quan và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo pháp luật quy định.
17 Điều 34 Bộ luật này quy định về CQTHTT và NTHTT, trong đó có quy định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là những người tiến hành tố tụng. Trên cơ sở Hiến pháp 2013, LTCVKSND 2014 tiếp tục quy định hệ thống VKS được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, đó là Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên trực tiếp và chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSNDTC. BLTTHS 2003 quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ (các Điều 170, 171) và BLTTHS 2015 cũng tiếp tục quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án, thẩm quyền theo lãnh thổ (các Điều 268, 269), làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình khi tiến hành các hoạt động tố tụng. Điểm o khoản 2 Điều 41 của BLTTHS 2015 quy định khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng VKS có nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
Khoản 3 Điều này quy định Viện trưởng VKS có quyền phân công cho Phó Viện trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án. Khoản 4 Điều này quy định Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Với quy định trên, thì việc ban hành hoặc không ban hành kháng nghị phúc thẩm chỉ thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và quyền năng pháp lý ra kháng nghị xuất phát từ cơ sở để cho VKS thực hiện tốt chức năng của mình là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Lần đầu tiên BLTTHS 2015 quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng - là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm 18 ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, thấy rằng cần phải được cấp có thẩm quyền hướng dẫn những dạng phổ biến để áp dụng thống nhất và ràng buộc trách nhiệm của VKS vì VKS có thể là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp của vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì xem ra không phải mọi trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đều có thể được VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp thừa nhận, phát hiện và kháng nghị để khắc phục.
- Phạm vi kháng nghị. Theo khoản 1 Điều 330 thì phạm vi kháng nghị phúc thẩm có thể là một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật do bị kháng nghị (ở đây ta chỉ đề cập đến bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị, không đề cập đến kháng cáo) và phạm vi kháng nghị đó thông thường phải được BLTTHS quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp phúc thẩm khi ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị. Những gì mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm không giải quyết, thì không thể phát sinh thủ tục phúc thẩm, hay nói một cách khác không thể bị kháng nghị. Bên cạnh đó, xét theo hình thức pháp luật thành văn thể hiện bằng quy phạm pháp luật, nếu phạm vi kháng nghị phúc thẩm không được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thì cấp phúc thẩm không thể chấp nhận kháng nghị vì không có cơ sở pháp lý.
Về khoản 2 Điều này, không phải mọi quyết định sơ thẩm đều bị kháng nghị phúc thẩm mà chỉ có thể kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này. Theo quy định của BLTTHS, quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án sẽ do Thẩm phán ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoặc do Hội đồng xét xử sơ thẩm ban hành tại phiên tòa sơ thẩm; quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can sẽ do Thẩm phán ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (do bị can phạm tội đơn lẻ mà bỏ trốn cần phải truy nã hoặc cần phải trưng cầu giám định tâm thần đối với bị can,….