Luận văn: Kháng nghị phúc thẩm hình sự tại VKSND Cấp cao Hà Nội

Kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự tại Hà Nội, phân tích thực tiễn và luận văn thạc sỹ luật.

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

1.2. Đặc điểm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

1.2.1. Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt và chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền thực hiện

1.2.2. Kháng nghị phúc thẩm là căn cứ pháp lý để Tòa án xét xử phúc thẩm và xác định giới hạn xét xử phúc thẩm của Tòa án

1.2.3. Hệ quả của kháng nghị phúc thẩm là những phần của bản án, quyết định bị kháng nghị thì chưa có hiệu lực thi hành

1.3. Ý nghĩa của việc quy định và thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

1.3.1. Ý nghĩa chính trị - xã hội

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật

2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm

2.2.1. Đối tượng của kháng nghị

2.2.2. Chủ thể kháng nghị

2.2.3. Căn cứ kháng nghị

2.2.4. Quyết định kháng nghị

2.2.5. Hậu quả của kháng nghị

2.2.6. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

3.1. Thực tiễn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

3.1.1. Những kết quả đạt được

3.1.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm

3.2.2. Giải pháp khác

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh kháng nghị của Viện kiểm sát theo thủ tục phúc thẩm

Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự là một chế định pháp lý quan trọng, thể hiện quyền năng và trách nhiệm của ngành Kiểm sát trong việc bảo vệ pháp chế. Đây không chỉ là một công cụ để sửa chữa sai sót của bản án sơ thẩm mà còn là cơ chế đảm bảo công lý, bảo vệ quyền con người. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Anh đã hệ thống hóa một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động này. Theo đó, kháng nghị phúc thẩm hình sự được định nghĩa là hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhằm chống lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, oan, sai, hoặc bỏ lọt tội phạm. Hoạt động này vừa thuộc chức năng thực hành quyền công tố, vừa thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Vai trò của Viện kiểm sát được thể hiện rõ nét qua quyền năng pháp lý đặc biệt này, bởi chỉ có VKS mới có thẩm quyền kháng nghị. Kháng nghị hợp pháp sẽ làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm, đồng thời tạm dừng hiệu lực thi hành của phần bản án, quyết định bị kháng nghị, trừ những trường hợp được thi hành ngay theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Việc thực hiện hiệu quả quyền kháng nghị góp phần nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo các phán quyết của Tòa án là khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp.

1.1. Khái niệm và đặc điểm cốt lõi của kháng nghị phúc thẩm

Theo luận văn, có thể định nghĩa: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tô tụng hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyên công tô và kiểm sát xét xử, chống lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong trưởng hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng vỀ thủ tục tổ tụng, yêu câu Toà án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm đó theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tô chức, cá nhân”. Đặc điểm của loại kháng nghị này bao gồm: (1) Đây là quyền năng pháp lý đặc biệt và duy nhất của Viện kiểm sát. (2) Kháng nghị là căn cứ pháp lý bắt buộc để Tòa án mở phiên tòa phúc thẩm và xác định giới hạn xét xử. (3) Hậu quả pháp lý của kháng nghị là phần bản án, quyết định bị kháng nghị chưa có hiệu lực thi hành, nhằm tránh các hệ quả khó khắc phục nếu bản án sơ thẩm bị sửa hoặc hủy.

1.2. Ý nghĩa pháp lý và chính trị xã hội của kháng nghị VKS

Về mặt pháp lý, kháng nghị phúc thẩm là cơ chế đảm bảo thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, giúp kiểm tra, khắc phục kịp thời các vi phạm tố tụng hoặc sai lầm trong áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm. Hoạt động này góp phần hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất, nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Về mặt chính trị - xã hội, việc kháng nghị kịp thời các bản án oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm giúp bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Nó củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một "lá chắn quan trọng" để quyền con người không bị tước đoạt một cách tùy tiện trong hoạt động xét xử.

II. Thách thức trong thực tiễn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Mặc dù pháp luật đã có những quy định tương đối đầy đủ, công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân, đặc biệt tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, vẫn đối mặt với nhiều tồn tại và hạn chế. Luận văn của tác giả Nguyễn Tuấn Anh chỉ ra rằng những thách thức này xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về mặt pháp lý, một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vẫn còn bất cập, chưa thực sự rõ ràng, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Việc xác định thế nào là "vi phạm pháp luật nghiêm trọng" để làm căn cứ kháng nghị phúc thẩm đôi khi còn mang tính định tính, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của Kiểm sát viên. Bên cạnh đó, áp lực về thời hạn kháng nghị (15 ngày đối với VKS cùng cấp, 30 ngày đối với VKS cấp trên) là rất lớn, trong khi hồ sơ vụ án thường phức tạp, đòi hỏi thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng. Năng lực và kỹ năng của Kiểm sát viên cũng là một yếu tố quyết định. Một số Kiểm sát viên chưa thực sự chủ động, nhạy bén trong việc phát hiện vi phạm, hoặc kỹ năng phân tích, tổng hợp, lập luận trong quyết định kháng nghị chưa sắc bén, dẫn đến chất lượng kháng nghị chưa cao, thậm chí có trường hợp phải rút kháng nghị phúc thẩm tại phiên tòa.

2.1. Vướng mắc từ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Luận văn chỉ ra một số điểm chưa hoàn thiện trong BLTTHS 2015. Ví dụ, khái niệm “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” tuy đã được định nghĩa tại Điều 4 nhưng việc áp dụng vào từng trường hợp cụ thể vẫn còn lúng túng. Thêm vào đó, quy định về việc VKS cấp trên không có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị của VKS cấp dưới có thể làm giảm tính chủ động và tự quyết của VKS cấp trên khi phát hiện thêm tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm. Những khoảng trống pháp lý này đòi hỏi cần có các văn bản hướng dẫn chi tiết hơn để đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất.

2.2. Khó khăn trong việc xác định các căn cứ kháng nghị phúc thẩm

Việc xác định căn cứ kháng nghị phúc thẩm là khâu mấu chốt và khó khăn nhất. Các căn cứ như "kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan" hay "có sai lầm trong việc áp dụng BLHS" đòi hỏi Kiểm sát viên phải có tư duy pháp lý sắc bén và khả năng phân tích chứng cứ sâu sắc. Trên thực tế, không ít trường hợp Tòa án phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị do các lập luận và chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra chưa đủ sức thuyết phục. Điều này cho thấy việc thu thập thêm chứng cứ, tài liệu để củng cố cho kháng nghị là một thách thức lớn trong thực tiễn xét xử phúc thẩm.

III. Hướng dẫn chi tiết căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự VKS

Để ban hành một quyết định kháng nghị có chất lượng, thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát phải được thực thi dựa trên những căn cứ pháp lý vững chắc. Theo Quy chế công tác của ngành và tinh thần của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, các căn cứ để kháng nghị một bản án sơ thẩm bị kháng nghị được hệ thống hóa một cách chi tiết. Thứ nhất, việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ, dẫn đến đánh giá sai tính chất vụ án. Thứ hai, kết luận trong bản án không phù hợp với các tình tiết khách quan, ví dụ như kết luận không dựa trên chứng cứ đã thẩm tra, bỏ qua chứng cứ quan trọng, hoặc tồn tại các mâu thuẫn trong chứng cứ chưa được giải quyết. Thứ ba, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự. Các sai lầm này có thể là định sai tội danh, quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, hoặc sai lầm trong việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Cuối cùng, một căn cứ quan trọng khác là có vi phạm tố tụng nghiêm trọng, chẳng hạn như thành phần Hội đồng xét xử không đúng luật định hoặc vi phạm các thủ tục tố tụng khác làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

3.1. Phân tích các vi phạm tố tụng làm cơ sở kháng nghị

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là một trong những căn cứ kháng nghị phúc thẩm phổ biến. Các vi phạm này được luận văn nêu cụ thể, bao gồm: xét xử không đúng thẩm quyền; xác định sai tư cách người tham gia tố tụng; không thay đổi người tiến hành tố tụng khi có căn cứ; xét xử vắng mặt bị cáo, người bào chữa trái luật; trình tự phiên tòa không đúng quy định... Những vi phạm này nếu không được khắc phục sẽ xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng và có thể làm sai lệch bản chất vụ án, dẫn đến hậu quả pháp lý của kháng nghị là Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại.

3.2. Sai lầm trong áp dụng BLHS và thủ tục giải quyết kháng nghị

Sai lầm trong áp dụng Bộ luật Hình sự là căn cứ kháng nghị phổ biến nhất, thể hiện rõ chức năng kiểm sát xét xử của VKS. Các dạng sai lầm điển hình gồm: định tội danh không chính xác (ví dụ từ "Cướp tài sản" thành "Cưỡng đoạt tài sản"), áp dụng sai khung hình phạt, đánh giá không đúng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cho hưởng án treo không đủ điều kiện. Về thủ tục giải quyết kháng nghị, sau khi ban hành, quyết định kháng nghị phải được gửi cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, bị cáo và những người liên quan trong thời hạn luật định. Tòa án sơ thẩm có trách nhiệm gửi hồ sơ vụ án cùng kháng nghị lên Tòa án cấp phúc thẩm để giải quyết theo trình tự.

IV. Thực tiễn kháng nghị tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Hà Nội

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Anh cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào thực tiễn xét xử phúc thẩm thông qua việc phân tích số liệu công tác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giai đoạn 2016-2020. Các số liệu cho thấy công tác kháng nghị đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Chất lượng kháng nghị ngày càng được nâng cao, tỷ lệ kháng nghị được Tòa án phúc thẩm chấp nhận ở mức cao, góp phần sửa chữa nhiều sai sót của các bản án sơ thẩm. Điều này khẳng định vai trò của Viện kiểm sát trong việc giám sát hoạt động tư pháp, bảo vệ pháp chế. Nhiều vụ án phức tạp, có dấu hiệu oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm đã được phát hiện và kháng nghị kịp thời. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng bộc lộ những tồn tại. Số lượng kháng nghị theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc liên quan đến vi phạm tố tụng còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Đôi khi vẫn còn tình trạng kháng nghị chưa đủ căn cứ vững chắc, dẫn đến việc Tòa án không chấp nhận hoặc Viện kiểm sát phải rút kháng nghị phúc thẩm. Nguyên nhân của những hạn chế này được xác định là do cả chất lượng công tác kiểm sát xét xử ở cấp sơ thẩm, năng lực của một bộ phận Kiểm sát viên cao cấp, và sự phối hợp chưa thực sự chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

4.1. Phân tích số liệu bản án sơ thẩm bị kháng nghị 2016 2020

Dựa trên các bảng số liệu trong luận văn (Bảng 3.1, 3.2, 3.3), có thể thấy xu hướng kháng nghị của VKSND cấp cao tại Hà Nội tập trung chủ yếu vào các sai lầm trong áp dụng pháp luật nội dung (định tội danh, quyết định hình phạt). Tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận (sửa, hủy án) là một chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng kháng nghị. Việc phân tích các số liệu này giúp nhận diện các loại vi phạm phổ biến của Tòa án cấp sơ thẩm, từ đó đưa ra các cảnh báo nghiệp vụ và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị trong toàn ngành.

4.2. Tồn tại hạn chế qua thực tiễn chức năng kiểm sát xét xử

Luận văn chỉ rõ một số hạn chế trong thực tiễn xét xử phúc thẩm. Thứ nhất, việc phát hiện vi phạm của một số VKS cấp dưới còn thụ động, chủ yếu dựa vào việc nghiên cứu bản án mà chưa bám sát diễn biến phiên tòa. Thứ hai, chất lượng một số bản kháng nghị còn hạn chế, lập luận chưa chặt chẽ, phân tích chứng cứ chưa sâu, chưa chỉ rõ được vi phạm của bản án sơ thẩm. Thứ ba, vẫn còn tình trạng nể nang, ngại va chạm trong việc thực hiện quyền kháng nghị, đặc biệt đối với các vụ án phức tạp, nhạy cảm. Những tồn tại này đòi hỏi phải có các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi công vụ.

V. Top giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự

Từ việc phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đây là những kiến nghị mang tính xây dựng, có giá trị tham khảo cao cho các nhà lập pháp và các cấp quản lý trong ngành Kiểm sát. Về mặt lập pháp, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 liên quan đến kháng nghị phúc thẩm cho rõ ràng, cụ thể hơn, đặc biệt là các quy định về căn cứ kháng nghị và thẩm quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên. Về mặt nghiệp vụ, giải pháp trọng tâm là nâng cao trình độ, năng lực và trách nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên cao cấp. Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng của Kiểm sát viên, nhất là kỹ năng phát hiện vi phạm, kỹ năng phân tích chứng cứ và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa VKS các cấp, cũng như giữa VKS với Tòa án và Cơ quan điều tra. Cuối cùng, việc tổng kết, rút kinh nghiệm thường xuyên qua các vụ án có kháng nghị được chấp nhận hoặc không được chấp nhận là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng công tác này một cách bền vững.

5.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền kháng nghị

Luận văn đề xuất cần nghiên cứu, bổ sung quy định cho phép Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới. Điều này sẽ tạo sự chủ động cho Kiểm sát viên cao cấp tại phiên tòa phúc thẩm khi phát sinh những tình tiết mới hoặc nhận thấy kháng nghị của cấp dưới chưa đầy đủ, toàn diện. Đồng thời, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về việc xác định "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" và các căn cứ kháng nghị khác để tránh việc áp dụng tùy tiện, thiếu thống nhất.

5.2. Nâng cao kỹ năng của kiểm sát viên trong thực tiễn xét xử

Đây là giải pháp then chốt. Kỹ năng của Kiểm sát viên không chỉ là kiến thức pháp luật mà còn là khả năng tư duy phản biện, kỹ năng phân tích hồ sơ, phát hiện mâu thuẫn và đặc biệt là bản lĩnh nghề nghiệp. Ngành Kiểm sát cần tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, các buổi tập huấn chuyên sâu về kỹ năng viết kháng nghị và tranh tụng. Mỗi Kiểm sát viên phải tự nêu cao tinh thần trách nhiệm, coi việc kháng nghị không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ để bảo vệ công lý, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm, xứng đáng với vai trò là người giữ quyền công tố tại tòa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự trên cơ sở thực tiễn tại viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại hà nội luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LI LUAN VE KHANG NGHI CUA VIEN KIEM SAT NHAN DAN THEO THU TUC PHUC THAM TRONG TO TUNG HINH SU’ 1. Khái niệm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Viện kiểm sát (VKS) là một hệ thống cơ quan độc lập, là cơ quan duy nhất có quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, do đó, hoạt động giám sát của VKS mang tính độc lập, khách quan và có hiệu quả cao. Hoạt động này của VKS diễn ra trong tất cả các giai đoạn tố tụng trong đó có giai đoạn xét xử của Tòa án, đây là điều kiện quan trọng để VKS giám sát hoạt động tố tụng của Tòa án, kịp thời phát hiện ra vi phạm. Theo đó, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử VAHS là việc VKS sử dụng tông hợp các quyền hạn được quy định trong BLTTHS để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội, đề nghị áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.

Cùng với chức năng thực hành quyền công tố, VKS còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tô tụng nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật. Kháng nghị theo thủ tục phúc thâm là một loại kháng nghị trong tổ tụng hình sự. Quyền kháng nghị này đã được quy định trong các văn bản pháp luật của nước ta qua từng giai đoạn. Theo đó, khi công tố còn là một bộ phận của Toà án tại Điều 34 Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946 của Chủ tịch nước đã quy định về quyền kháng nghị “Toà đại hình xử sơ thẩm, Ông Biện lý, bị can và nguyên đơn có quyên chống án lên Toà Thượng thẩm ”.

Tiếp đến, tại điểm c Điều 1 mục II Thông tư số 141-HCTP ngày 5/12/1957 của Bộ Tư pháp quy định: “Ông công tổ uỷ viên, dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp có nhiệm vụ kháng nghị đối với bản án hoặc nghị quyết của toà an không đúng pháp luật”. Đến khi Luật tổ chức VKSND ra đời, chức năng kháng nghị phúc thẩm đã chính thức được ghi nhận tại Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1960: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyên: kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp”. Trong giai đoạn tiếp theo, chức năng kháng nghị phúc thâm của VKS được quy định lại tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 1981 cũng có những sửa đối, bố sung: “Khi thuc hiện công tác kiểm sát xét xử, các Viện kiểm sát nhân dân có quyển:. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật”.

Việc kháng nghị phúc thầm hình sự ở giai đoạn này được thực hiện theo “Bản hướng dẫn về trình tự tổ tụng phúc thẩm về hình sự kèm theo Ti hong tu số 19-TATC ngày 2 tháng 10 năm 1974 của Toà án nhân dân Tối cao”. Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời có ý nghĩa rất quan trọng. BLTTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới, đấu tranh phòng chống tội phạm. Tại BLTTHS này, kháng nghị phúc thấm hình sự đã được quy định thành những điều luật cụ thể tai Phan thứ tư, chương XXII tại các Điều 206, Điều 207, Điều 208, Điều 210, Điều 211, Điều 212, Điều 213.

Sau khi đã được quy định trong BLTTHS năm 1988, tại Luật tô chức VKSND năm 1992, chức năng kháng nghị phúc thâm hình sự của VKS được sửa đôi, bố sung theo hướng gắn với pháp luật tố tụng hình sự: Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự, Viện kiêm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây. 3- Kháng nghị theo thủ tục phúc thấm, giám đốc thâm, tái thâm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đến Luật tô chức VKSND năm 2002, chức năng kháng nghị của VKS đã tiếp tục được sửa đổi, bổ sung thêm việc VKS có quyên kháng nghị khi thực hành quyền công tố của mình chứ không chỉ gói gọn khi thực hiện việc kiểm sát xét xử. Cụ thể, tại Điều 19 của Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thâm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử; kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự.

Dé dam bảo tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác như BLHS năm 1999, Luật tổ chức VKSND năm 2002, Luật tổ chức TAND năm 2002 cũng như đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, BLTTHS năm 2003 ra đời đã thay thế cho BLTTHS năm 1988 đã kế thừa và giữ lại những điều luật còn phù hợp, loại bỏ, sửa đổi những quy định không còn phù hợp, bố sung và xây dựng những quy định mới. Trong đó, những quy định về kháng nghị phúc thâm tiếp tục có những sửa đổi, bố sung và được quy định tại các Điều 232, Điều 233, Điều 234, Điều 236, Điều 237, Điều 238 và Điều 239 cũng tại Phần thir tu, chuong XXII. Hiện nay, những quy định về kháng nghị phúc thâm được quy định tại BLTTHS năm 2015 và Luật tổ chức VKSND năm 2014. Thông qua sự thay đổi trong những quy định của Luật tổ chức VKSND và đặc biệt là của BLTTHS, chức năng kháng nghị phúc thấm hình sự được sửa đối, bổ sung, hoàn thiện phù hợp với mỗi giai đoạn cụ thể, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của ngành kiểm sát.

BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật có liên quan chưa có một khái niệm cụ thê thế nào là kháng nghị theo thủ tục phúc thâm. Mặc dù vậy, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về kháng nghị theo thủ thục phúc thâm. Thuật ngữ “Kháng nghị ” được hiểu “1à sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức” [67, tr. 492]; Kháng nghị trong tố tụng hình sự là “việc Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm, xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” [57].

Trong tố tụng hình sự nước ta, chủ thể có quyền kháng nghị với mọi thủ tục là VKS. VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thâm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân. Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm là việc “người có thẩm quyển yêu câu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm ” [55, tr. Trong Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là: Hành vi tố tụng của người có thẩm quyền thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần nội dụng bản án hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho toàn bộ việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong 10 bản án, quyết định của Tòa án [57, tr.

227] Tác giả Đinh Văn Quế tiếp cận kháng nghị theo thủ tục phúc thấm là một văn bản pháp lý của VKS đã đưa ra khái nệm: Kháng nghị theo thủ tục phúc thâm là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thâm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thâm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật [25, tr. Khái niệm này đã thê hiện chủ thể kháng nghị và tòa án có thẩm quyền xét xử lại vụ án khi có kháng nghị phúc thâm. Tuy nhiên, khái niệm này chưa chỉ ra được đối tượng của kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thâm chưa có hiệu lực và căn cứ để thực hiện kháng nghị là bản ám, quyết định đó phải có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Tiếp cận kháng nghị phúc thâm dưới góc độ là một trong những quyền năng tổ tụng của VKS và tác giả Lê Thanh Duong đã đưa ra khái niệm: Kháng nghị phúc thâm là quyền năng pháp lý được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thâm nhăm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kip thoi [10, tr.

Quan điểm này đã thể hiện đầy đủ các đặc điểm của kháng nghị phúc thâm, tuy vậy, sẽ phù hợp hơn khi tác giả chỉ ra chủ thể có quyền kháng nghị ở đây là VKS cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và VKS cấp trên trực tiếp. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng cụm từ “để kháng nghị” là chưa hợp lý bởi lẽ đây đang là nội dung cần được trình bày, giải thích cụ thể để làm sáng tỏ khái niệm kháng nghị phúc thâm là gì.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ