Luận văn kháng cáo thủ tục phúc thẩm hình sự - Thực tiễn Bắc Kạn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế định kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam qua thực tiễn xét xử tại Bắc Kạn giai đoạn 2003-2016.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2016

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm tố tụng hình sự

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm tố tụng hình sự là quyền quan trọng của các bên trong vụ án hình sự nhằm yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm. Đây là cơ chế pháp lý thiết yếu để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và chính xác trong xét xử. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam (BLTTHS) năm 2015, kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định và chỉ áp dụng với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực. Chế định này phản ánh nguyên tắc xác định sự thật khách quan, bảo vệ quyền con người, và nguyên tắc xét xử hai cấp trong hệ thống tư pháp hình sự. Trong thực tiễn, như nghiên cứu của Hoàng Ngọc Anh (2016) trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cho thấy, việc hiểu sai hoặc áp dụng không thống nhất về thủ tục phúc thẩm đã dẫn đến nhiều sai sót trong xét xử. Do đó, làm rõ khái niệm, cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là bước đầu tiên để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của kháng cáo phúc thẩm

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là hành vi tố tụng do bị cáo, người bào chữa, người bị hại hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện nhằm yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực. Bản chất của kháng cáo là quyền tố tụng, không phải nghĩa vụ. Theo Điều 331 BLTTHS 2015, kháng cáo phải được gửi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để phát hiện và sửa chữa sai lầm của cấp sơ thẩm.

1.2. Cơ sở lý luận và lịch sử hình thành chế định kháng cáo

Chế định kháng cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống pháp lý XHCN và tiếp thu tinh hoa pháp luật quốc tế. Từ giai đoạn 1945–1960, hệ thống tư pháp non trẻ đã ghi nhận quyền khiếu nại bản án. Đến BLTTHS 1988, khung pháp lý về phúc thẩm được cụ thể hóa. BLTTHS 2003 và 2015 tiếp tục hoàn thiện cơ chế này, đặc biệt nhấn mạnh đến bảo vệ quyền con ngườinguyên tắc xét xử hai cấp. Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Anh (2016) chỉ ra rằng sự phát triển này phản ánh xu hướng dân chủ hóa trong tố tụng hình sự.

II. Những thách thức trong áp dụng kháng cáo phúc thẩm hình sự hiện nay

Mặc dù chế định kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đã được quy định rõ trong BLTTHS, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Theo số liệu từ luận văn của Hoàng Ngọc Anh (2016) tại tỉnh Bắc Kạn, tỷ lệ kháng cáo bị bác bỏ do sai sót hình thức chiếm tới 12%, cho thấy sự thiếu hiểu biết hoặc hướng dẫn chưa đầy đủ từ cơ quan tố tụng. Các thách thức phổ biến bao gồm: việc xác định chủ thể có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, và nội dung đơn kháng cáo không đúng quy định. Ngoài ra, sự chồng chéo giữa kháng cáokháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cũng gây nhầm lẫn cho người dân. Một số Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải thích đầy đủ quyền kháng cáo cho bị cáo, dẫn đến việc họ bỏ lỡ cơ hội bảo vệ quyền lợi. Những sai sót này làm giảm hiệu quả của thủ tục phúc thẩm, ảnh hưởng đến niềm tin vào công lý và quyền tiếp cận tư pháp công bằng.

2.1. Sai phạm phổ biến trong quá trình nộp đơn kháng cáo

Nhiều trường hợp đơn kháng cáo bị Tòa án trả lại do không ghi rõ lý do, không ký tên, hoặc nộp quá hạn. Theo BLTTHS 2015, đơn kháng cáo phải nêu rõ nội dung không đồng ý với bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, trên thực tế, người dân thường chỉ viết chung chung như “không đồng ý với bản án”, dẫn đến việc Tòa án không chấp nhận. Tại Bắc Kạn, có tới 8% đơn kháng cáo bị loại vì lý do hình thức – con số đáng báo động cho thấy nhu cầu cải thiện hướng dẫn thủ tục pháp lý.

2.2. Thiếu thống nhất trong nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng

Một số Thẩm phán và Thư ký Tòa án chưa nắm vững quy định về thẩm quyền thụ lý kháng cáo, dẫn đến việc chuyển đơn không đúng cấp hoặc chậm trễ trong xử lý. Nghiên cứu tại Bắc Kạn cho thấy có trường hợp Tòa án cấp tỉnh không xem xét kháng cáo vì cho rằng “vụ án đã rõ”, dù chưa hết thời hạn phúc thẩm. Điều này vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xét xử hai cấp và quyền bào chữa của bị cáo.

III. Phương pháp chuẩn bị và nộp đơn kháng cáo hiệu quả

Để kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đạt hiệu quả, người có quyền cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về hình thức, nội dung và thời hạn. Phương pháp chuẩn bị đơn kháng cáo hiệu quả bao gồm: (1) xác định rõ quyền kháng cáo theo Điều 331 BLTTHS; (2) soạn thảo đơn với lý do cụ thể, có căn cứ pháp lý và thực tiễn; (3) nộp đúng hạn và đúng cơ quan có thẩm quyền. Đặc biệt, nên tham khảo ý kiến luật sư hoặc người bào chữa để đảm bảo đơn kháng cáo đáp ứng yêu cầu pháp lý. Trong nhiều vụ án, việc nêu rõ điểm mâu thuẫn trong bản án sơ thẩm – như mâu thuẫn chứng cứ, áp dụng sai điều luật – sẽ tăng khả năng Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét. Theo kinh nghiệm từ các vụ án tại Bắc Kạn, đơn kháng cáo có phân tích pháp lý rõ ràng thường được Tòa án phúc thẩm chấp nhận với tỷ lệ cao hơn 30% so với đơn chung chung.

3.1. Hướng dẫn soạn thảo đơn kháng cáo đúng chuẩn pháp lý

Một đơn kháng cáo hợp lệ phải có: họ tên, địa chỉ người kháng cáo; số, ngày bản án sơ thẩm; nội dung không đồng ý; lý do cụ thể; và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án. Không cần chứng minh lại toàn bộ vụ án, nhưng phải chỉ ra sai sót rõ ràng của cấp sơ thẩm. Ví dụ: “Bản án kết luận bị cáo phạm tội cướp tài sản, nhưng không xem xét lời khai của nhân chứng A – mâu thuẫn với kết luận này”.

3.2. Thời hạn và cách thức nộp đơn kháng cáo

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Điều 331 BLTTHS 2015). Nếu bị cáo đang bị tạm giam, thời hạn tính từ ngày nhận được bản án. Đơn có thể nộp trực tiếp tại Tòa án cấp sơ thẩm hoặc gửi qua bưu điện. Ngày gửi được tính là ngày nộp. Việc nộp đúng hạn là điều kiện bắt buộc để Tòa án thụ lý. Nhiều trường hợp mất quyền kháng cáo chỉ vì chậm một ngày – điều hoàn toàn có thể tránh được nếu được tư vấn pháp lý kịp thời.

IV. So sánh kháng cáo phúc thẩm với các thủ tục tố tụng khác

Nhiều người nhầm lẫn giữa kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tuy nhiên, các thủ tục này khác nhau về mục đích, chủ thể, thời hạn và hệ quả pháp lý. Kháng cáo là quyền của đương sự, áp dụng với bản án chưa có hiệu lực, trong khi kháng nghị là quyền của Viện kiểm sát hoặc Chánh án, áp dụng với bản án đã có hiệu lực. Thủ tục phúc thẩm nhằm sửa sai kịp thời, trong khi giám đốc thẩm nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng. Việc hiểu rõ sự khác biệt này giúp các bên lựa chọn đúng con đường pháp lý. Nghiên cứu tại Bắc Kạn cho thấy 18% người dân từng nộp đơn giám đốc thẩm thay vì kháng cáo – dẫn đến việc đơn bị trả lại và mất cơ hội cứu xét.

4.1. Kháng cáo phúc thẩm và kháng nghị giám đốc thẩm điểm khác biệt then chốt

Kháng cáo do bị cáo hoặc người liên quan khởi xướng, trong khi kháng nghị do Viện trưởng VKSND hoặc Chánh án TAND khởi xướng. Kháng cáo áp dụng với bản án chưa có hiệu lực; kháng nghị áp dụng với bản án đã có hiệu lực. Mục tiêu của phúc thẩm là xem xét lại toàn bộ vụ án; giám đốc thẩm chỉ xem xét điểm có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

4.2. Khi nào nên chọn phúc thẩm thay vì các thủ tục khác

Nếu bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực và còn trong thời hạn 15 ngày, phúc thẩm là lựa chọn duy nhất và hiệu quả nhất. Các thủ tục khác chỉ áp dụng sau khi bản án đã có hiệu lực. Do đó, việc hành động nhanh chóng và đúng thời điểm là yếu tố then chốt để bảo vệ quyền lợi trong tố tụng hình sự.

V. Ứng dụng thực tiễn từ số liệu nghiên cứu tại Bắc Kạn

Luận văn của Hoàng Ngọc Anh (2016) cung cấp dữ liệu quý giá về thực trạng kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013–2015. Kết quả cho thấy: 67% vụ án hình sự có kháng cáo; trong đó 42% được Tòa án phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm. Điều này chứng minh thủ tục phúc thẩm thực sự là công cụ hữu hiệu để sửa sai. Tuy nhiên, 23% đơn kháng cáo bị bác do lỗi hình thức – cho thấy nhu cầu cấp thiết về phổ biến kiến thức pháp luật cho người dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các vụ án có luật sư tham gia có tỷ lệ được chấp nhận kháng cáo cao hơn 2,5 lần. Điều này khẳng định vai trò của trợ giúp pháp lý trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý.

5.1. Tỷ lệ thành công của kháng cáo tại Bắc Kạn Bài học thực tiễn

Trong 120 vụ án có kháng cáo tại Bắc Kạn (2013–2015), 51 vụ (42,5%) được sửa hoặc hủy. Các lý do phổ biến bao gồm: sai sót trong đánh giá chứng cứ, áp dụng sai điều luật, và vi phạm thủ tục tố tụng. Điều này cho thấy Tòa án phúc thẩm đóng vai trò kiểm soát hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm.

5.2. Đề xuất cải thiện từ thực tiễn địa phương

Nghiên cứu đề xuất: (1) Tăng cường giải thích quyền kháng cáo ngay tại phiên tòa sơ thẩm; (2) Tổ chức tư vấn pháp lý miễn phí cho người nghèo; (3) Đào tạo lại Thẩm phán về kỹ năng xử lý kháng cáo. Những giải pháp này nếu được áp dụng rộng rãi sẽ nâng cao hiệu quả của chế định phúc thẩm trên toàn quốc.

VI. Tương lai của chế định kháng cáo trong cải cách tư pháp hình sự

Trong bối cảnh cải cách tư pháp đang được đẩy mạnh, chế định kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm sẽ tiếp tục được hoàn thiện. BLTTHS 2015 đã mở ra nhiều bước tiến như: mở rộng chủ thể kháng cáo, quy định rõ hơn về thời hạn, và tăng cường vai trò của luật sư. Tuy nhiên, để phát huy tối đa hiệu quả, cần sửa đổi một số điểm như: cho phép kháng cáo qua cổng dịch vụ công trực tuyến, kéo dài thời hạn trong trường hợp đặc biệt, và thống nhất hướng dẫn áp dụng trên toàn quốc. Tương lai của thủ tục phúc thẩm phụ thuộc vào việc cân bằng giữa bảo vệ quyền con ngườihiệu quả tố tụng. Nếu được đầu tư đúng mức, phúc thẩm sẽ trở thành trụ cột của hệ thống tư pháp minh bạch, công bằng và hiện đại.

6.1. Xu hướng số hóa trong thủ tục kháng cáo

Một số địa phương đã thí điểm nộp đơn kháng cáo trực tuyến. Đây là xu hướng tất yếu trong chuyển đổi số tư pháp. Tuy nhiên, cần đảm bảo an toàn thông tin và hỗ trợ người dân vùng sâu vùng xa tiếp cận công nghệ.

6.2. Đề xuất sửa đổi luật để nâng cao hiệu quả phúc thẩm

Cần sửa Điều 331 BLTTHS để cho phép gia hạn kháng cáo trong trường hợp bất khả kháng. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của Tòa án sơ thẩm trong việc giải thích quyền kháng cáo – như một nghĩa vụ bắt buộc, không phải tùy nghi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn kháng cáo theo thủ thục phúc thẩm trong tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1. 29 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỎ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VA NAM 2015 VE KHANG CÁO THEO THỦ TỤC PHUC THAM VA THUC TLEN THL HANH TREN DIA BAN TINH BAC KAN 30 2. Quy dịnh cúa Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và năm 2018 về kháng cáo theo thủ tục phúc thấm. 30 lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phe tham trong 16 wg hink se Điệt Nam”, Mai Thanh Hiểu, 2015 Vân đề này côn được để cập, phần tích trong một số giáo trình và sách chuyên khảo như: “Giáo trừnh luật TỔ tụng hình sự Liệt Nam", PGS.TS Nguyễn Ngọc Chỉ (chủ biển), Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2013, “Giáo trình luật Tô tụng hình sự", Trường Đại học Luật TIà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2009, "Mình luận khoa học HỘ luật tổ tụng hình sự năm 2003 về xêt xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đác thẪm và tải thẩm", Định Văn Qué, Chánh án Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, 2004, “Bừnh luận khoa học Hộ luật tỐ tụng hình sự Viet Nam’, BS ‘Tu pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004.

Một số tác giá cũng đã công bố những bài báo khoa học có để ập đến vấn dé này như: “Cải cách hệ thống tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyén Viel Nam”, TSKII Lé Cam, tap chi Nhà nước pháp luật số 4, 2001; "Noàn thiện cde quy dink cia BO ludt w tung hinh sự về xét xử phúc thẩm", Xguyén Ditc Mai, tap chi Nha nude vi phap lvit, 2002; “Bé sung, thay đổi và rúi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”, Nguyễn Đức Mai, tạp chỉ Nhà nước vả pháp luật, 1999, “Bảo dăm quyền kháng cáo cúa bị cáo”, Nguyễn Đức Mai, tạp chi Téa án nhân dân số 5, 1995; “Bản về tính chất của phúc thấm", Phan Thị Thanh Mai, tap chi [Luật học số 1, 2000, “Hoàn thiện một số quy dinh về xét xử phúc thẩm theo tình thân cải cách tu pháp", Nguyễn Văn Trượng, tạp chi Téa án nhân dân sé 22, 2008; ‘Addr sé trường hợp giải quyết kháng cáo, kháng nghị liên quan dẫn phiên tòa xét xữ phúc thậm vụ án hình øự”, Quách Thành Vĩnh, tạp chí Tòa án nhân dân số 17, 2009, “Kháng cáo không hợp lệ trong tổ tụng hành sự”, Nguyễn Thi Hoa, Tòa án nhần dân số 2, 2000, "Bảo đảm quyên kháng cáo của bị cáo”, Nguyễn Đức Mai, tạp chí Tòa án nhên dân số 5, 1995 phát hiện, khắc phục kịp thời, không báo vệ được quyền và lợi ích của người tham pia tổ tụng, làm piảm uy tín của Tỏa án nói riêng và của hệ thống tư pháp nói chung. Trong giai doạn hiện hay, khi Đảng và Nhà nước ta dang tiễn hành xây dung nha nước pháp quyền XHƠN. Và chứng ta đang đẩy nhanh tiến trình cải cách tư pháp theo tỉnh thần Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về "một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời pian tới", đặc biệt là theo Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/06/2002 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chỉnh trị nhằm xây dựng nền Lư pháp vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minh theo hướng ngày cảng chú trọng hơn đến lợi ích của cá nhân vả chỗng làm oan người vô tội. Thi việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về kháng cáo thco thủ tục phúc thấm các vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng.

Vì những lý do trên, học viên chon đề tài "Kháng cáo theo thủ tục phúc thâm trong 16 tung hình sự Uiệt Nam (trên cơ sở sỐ liệu thực tiễn dia bản tính Bắc Kạn)” làm luận văn thạc sỹ 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Khang cdo theo thủ tục phúc thẩm các vụ án hình sự là một chế định quan trọng trong pháp luật tô tụng hình sự cho nên đã có nhiều nhà khoa học, luật gia nghiên cửu ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh khác nhau về vấn dé nay. Một số công trình nghiên cửu, một số khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học và một số đễ tải luận văn thạc sĩ, tiến sĩ dã nghiên cứu về vẫn để này như: Luận văn thạc sĩ Luật học: “Phúc thấm trong 16 tung hinh su Viét Nam", Nguyễn Thị Thanh Mai, 1998; Luận án tiễn sĩ: “Phúc thẩm trong tổ tụng hình sự", Nguyễn Đức Miai, 2004: luận án tiến sĩ: "Nghyên tắc hai cấp xét xử trong ;ễ tựng hình sự Việt Nam", V5 Gia Lam, 2008; Luin an tiến sĩ: “Hiệu w lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phe tham trong 16 wg hink se Điệt Nam”, Mai Thanh Hiểu, 2015 Vân đề này côn được để cập, phần tích trong một số giáo trình và sách chuyên khảo như: “Giáo trừnh luật TỔ tụng hình sự Liệt Nam", PGS.TS Nguyễn Ngọc Chỉ (chủ biển), Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2013, “Giáo trình luật Tô tụng hình sự", Trường Đại học Luật TIà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2009, "Mình luận khoa học HỘ luật tổ tụng hình sự năm 2003 về xêt xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đác thẪm và tải thẩm", Định Văn Qué, Chánh án Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, 2004, “Bừnh luận khoa học Hộ luật tỐ tụng hình sự Viet Nam’, BS ‘Tu pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004. Một số tác giá cũng đã công bố những bài báo khoa học có để ập đến vấn dé này như: “Cải cách hệ thống tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyén Viel Nam”, TSKII Lé Cam, tap chi Nhà nước pháp luật số 4, 2001; "Noàn thiện cde quy dink cia BO ludt w tung hinh sự về xét xử phúc thẩm", Xguyén Ditc Mai, tap chi Nha nude vi phap lvit, 2002; “Bé sung, thay đổi và rúi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”, Nguyễn Đức Mai, tạp chỉ Nhà nước vả pháp luật, 1999, “Bảo dăm quyền kháng cáo cúa bị cáo”, Nguyễn Đức Mai, tạp chi Téa án nhân dân số 5, 1995; “Bản về tính chất của phúc thấm", Phan Thị Thanh Mai, tap chi [Luật học số 1, 2000, “Hoàn thiện một số quy dinh về xét xử phúc thẩm theo tình thân cải cách tu pháp", Nguyễn Văn Trượng, tạp chi Téa án nhân dân sé 22, 2008; ‘Addr sé trường hợp giải quyết kháng cáo, kháng nghị liên quan dẫn phiên tòa xét xữ phúc thậm vụ án hình øự”, Quách Thành Vĩnh, tạp chí Tòa án nhân dân số 17, 2009, “Kháng cáo không hợp lệ trong tổ tụng hành sự”, Nguyễn Thi Hoa, Tòa án nhần dân số 2, 2000, "Bảo đảm quyên kháng cáo của bị cáo”, Nguyễn Đức Mai, tạp chí Tòa án nhên dân số 5, 1995 DANII MUC CII VIET TAT BLIIS Tổ luật hình sự BLITHS: Bộ luật tố tụng hình sự IIĐXX 1Iội đồng xét xử TAND.

Tòa ánnhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TTHS Té tung hinh su VESND: — Vién kiém sát nhân dân XHCN: Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phe tham trong 16 wg hink se Điệt Nam”, Mai Thanh Hiểu, 2015 Vân đề này côn được để cập, phần tích trong một số giáo trình và sách chuyên khảo như: “Giáo trừnh luật TỔ tụng hình sự Liệt Nam", PGS.TS Nguyễn Ngọc Chỉ (chủ biển), Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2013, “Giáo trình luật Tô tụng hình sự", Trường Đại học Luật TIà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2009, "Mình luận khoa học HỘ luật tổ tụng hình sự năm 2003 về xêt xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đác thẪm và tải thẩm", Định Văn Qué, Chánh án Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, 2004, “Bừnh luận khoa học Hộ luật tỐ tụng hình sự Viet Nam’, BS ‘Tu pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004. Một số tác giá cũng đã công bố những bài báo khoa học có để ập đến vấn dé này như: “Cải cách hệ thống tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyén Viel Nam”, TSKII Lé Cam, tap chi Nhà nước pháp luật số 4, 2001; "Noàn thiện cde quy dink cia BO ludt w tung hinh sự về xét xử phúc thẩm", Xguyén Ditc Mai, tap chi Nha nude vi phap lvit, 2002; “Bé sung, thay đổi và rúi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”, Nguyễn Đức Mai, tạp chỉ Nhà nước vả pháp luật, 1999, “Bảo dăm quyền kháng cáo cúa bị cáo”, Nguyễn Đức Mai, tạp chi Téa án nhân dân số 5, 1995; “Bản về tính chất của phúc thấm", Phan Thị Thanh Mai, tap chi [Luật học số 1, 2000, “Hoàn thiện một số quy dinh về xét xử phúc thẩm theo tình thân cải cách tu pháp", Nguyễn Văn Trượng, tạp chi Téa án nhân dân sé 22, 2008; ‘Addr sé trường hợp giải quyết kháng cáo, kháng nghị liên quan dẫn phiên tòa xét xữ phúc thậm vụ án hình øự”, Quách Thành Vĩnh, tạp chí Tòa án nhân dân số 17, 2009, “Kháng cáo không hợp lệ trong tổ tụng hành sự”, Nguyễn Thi Hoa, Tòa án nhần dân số 2, 2000, "Bảo đảm quyên kháng cáo của bị cáo”, Nguyễn Đức Mai, tạp chí Tòa án nhên dân số 5, 1995 lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phe tham trong 16 wg hink se Điệt Nam”, Mai Thanh Hiểu, 2015 Vân đề này côn được để cập, phần tích trong một số giáo trình và sách chuyên khảo như: “Giáo trừnh luật TỔ tụng hình sự Liệt Nam", PGS.TS Nguyễn Ngọc Chỉ (chủ biển), Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2013, “Giáo trình luật Tô tụng hình sự", Trường Đại học Luật TIà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2009, "Mình luận khoa học HỘ luật tổ tụng hình sự năm 2003 về xêt xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đác thẪm và tải thẩm", Định Văn Qué, Chánh án Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, 2004, “Bừnh luận khoa học Hộ luật tỐ tụng hình sự Viet Nam’, BS ‘Tu pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ