Chương I TINH HINH KHAI THAC VA CONG TAC BOM VAN CHUYEN DAU 1. Tinh hình khai thác Dầu Khí ở Việt Nam Là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có nhiều thuận lợi, đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú đa đạng cả trong đất liền và ngoài biển khơi. Với diện tích thềm lục địa khoảng ÏI triệu km sông Hồng, Cửu Long, Hoàng Sa và Trường Sa. Từ những năm 60 của thế kỷ XX mặc dù trong nước còn tồn tại rất nhiều khó khăn về kinh tế, khoa học kỹ thuật nhưng công tắc tìm kiếm thăm dò dầu khí đã được các đoàn địa chất của tổng cục cục dầu khí tiến hành trên địa bàn sông Hồng ở miền bắc và từ những năm 70 đã tiễn hành nghiên cứu vùng thêm lục địa.
Đến nay công tác tìm kiếm thăm dò đã được thực hiện trên 1/3 diện tích thềm lục địa và đã đạt được rất nhiều kết quả, mang lại những lợi ích lớn về mặt kinh tế, đồng thời đã khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế đất nước. Sau đây chúng ta nhìn lại lịch sử phát triển của nghành Dầu khí: Ngày 27/11/1961, Đoàn Địa Chất 36, trực thuộc tổng cục Địa Chất được thành lập để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò dầu, khí tại Việt Nam. Hoạt động của đoàn Địa Chất 36 ngày càng lớn cho nên ngày 09/10/1969 Thủ Tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 203/CP thành lập Liên đoàn Địa Chất 36, có nhiệm vụ xây dựng, quy hoạch, và lập kế hoạch nghiên cứu tìm kiếm và thăm dò dầu mỏ, khí đốt ở trong nước. Trước đó, với tiền thân là đoàn Địa Chất 36, các hoạt động thăm dò địa chất đã đạt được một số thành tựu đáng kể, trong đó có việc tiến hành thăm dò địa chấn và khoan thử nghiệm tại miền Bắc.
Một số nghiên cứu chuyên ngành khác về thạch học, trầm tích,. cũng đã được triển khai. Quan điểm về triển vọng dầu khí là nguồn tài nguyên tăng dần về phía biển đã được hình thành. Năm 1975, ngay sau ngày thống nhất đất nước, ngày 03/09/1975 Tổng cục Dâu mỏ và Khí đôt Việt Nam được thành lập trên cơ sở Liên đoàn Địa Sinh viên: Đặng Tiến Cảnh 3 Lớp: Thiết bị dầu khí K _49 Trường Đại học Mó - Địa chất Đồ án tốt nghiệp chất 36 và một bộ phận thuộc Tổng cục Hóa chất, đã đánh dẫu một bước phát triển mới của ngành Dầu khí.
Một năm sau ngày thành lập, ngày 25/07/1976, ngành Dầu khí đã phát hiện dòng khí thiên nhiên đầu tiên tại giếng khoan số 61 ởxã Đông Cơ - huyện Tiền Hải — Thái Bình. Trong giai đoạn từ 1977-1986, nhiều hoạt động nghiên cứu thăm dò đã được tiễn hành với các đối tác của Liên Xô và Châu Âu trong lĩnh vực dầu mỏ. Sau 5 năm, kế từ khi phát hiện khí, dòng khí công nghiệp ở mỏ Tiền Hải đã được khai thác để đưa vào phục vụ cho phát điện và công nghiệp địa phương tỉnh Thái Bình. Ngày 19/06/1981, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro) được thành lập.
Những nghiên cứu và khảo sát tìm kiếm vào tháng 05/1984 đã cho thấy: Có khả năng khai thác dầu thương mại trên các cấu tạo Bạch Hồ, Rồng. Ngày 06/11/1984 hạ thủy chân đề giàn khoan dầu khí đầu tiên của Việt Nam (MSP- 1) tại mỏ Bạch Hồ và ngày 26/06/1986 đã đi vào lịch sử khai thác Việt Nam, khi Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt-Xô đã khai thác tấn dầu đầu tiên tại mỏ Bạch Hỗ từ giàn MSP-I và đã có tên trong danh sách các nước khai thác và xuất khầu dầu thô trên thế giới, khắng định một tương lai phát triển đầy hứa hẹn cho ngành công nghiệp Dâu khí nước ta. Kế từ ngày 26/06/1986 đến hết tháng 10/2008, ngành Dầu khí đã khai thác được trên 280 triệu tấn dầu thô và trên 45 tỷ mét khối khí, mang lại doanh thu gần 60 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước trên 36 tỷ USD, tạo dựng được nguôn vốn chủ sở hữu trên 100 nghìn tỷ đồng. Tháng 04/1990 - Tổng cục Dầu khí Việt Nam được sát nhập vào Bộ Công nghiệp nặng.
Tháng 06/1990 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Vietnam Oil & Gas Corporation — Petrovietnam) dugc tổ chức lại trên cơ sở các đơn vị cũ của Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Sinh viên: Đặng Tiến Cảnh 4 Lớp: Thiết bị dầu khí K _49 Trường Đại học Mó - Địa chất Đồ án tốt nghiệp Tháng 05/1992- Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, tách khỏi Bộ Công nghiệp nặng và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, trở thành Tổng Công ty Dầu khí quốc gia, với tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam. Năm 1993, Luật Dầu khí được ban hành. Cũng trong năm này, Petrovietnam bắt đầu triển khai xây dựng hệ thống thu gom và vận chuyền khí đồng hành từ mỏ Bạch Hồ vào đất liền, phục vụ trước tiên cho Nhà máy nhiệt điện Bà Rịa —- Vũng Tàu và sau này cho Phú Mỹ.
Ngày 29/05/1995, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam quyết định thành lập Tổng Công ty Nhà nước với tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam. Năm 2001, cột mốc xuất khẩu 100 triệu tấn dau thô. Ngày 28/11/2005, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất — Nha may lọc dầu đầu tiên của Việt Nam được khởi công xây dựng với tổng vốn đầu tư là 2,5 tỷ USD và đã cho lô dầu đầu tiên vào tháng 3 năm 2009. Song song với việc tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu, các dự án trong lĩnh vực công nghiệp khí cũng đã được tích cực triển khai.
Dòng khí đồng hành ở mỏ Bạch Hỗ được đưa vào bờ đã đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế, đồng thời cung cấp nhiên liệu cho cho nhà máy điện đạm Phú Mỹ với một lượng lớn khí hoả lỏng LPG và condenasate cho nhu câu nội địa. Cùng với nguồn khí đồng hành bể Cửu Long thì nguồn khí Nam Côn Sơn được đưa vào tiếp đó đã hoàn thiện cho sự hoạt động của cụm công nghiệp khí điện đạm Đông Nam Bộ. Cùng với việc đưa vào hoạt động của nhà máy khí điện đạm Cà Mau đã tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế của đồng bằng sông Cửu Long. Trong tương lai nhiều mỏ khí mới như lô B, mỏ Sư Tử Trắng sẽ mở ra một giai đoạn đầy hứa hẹn cho nền công nghiệp khí Việt Nam.
Cùng với sự phát triển trọng tâm của công nghiệp dầu khí , để khép kín và hoạt động đồng bộ của ngành, các hoạt động về dịch vụ, kỹ thuật, thương mại, tài chính, bảo hiểm.của ngành dầu khí đã được hình thành và phát triển với doanh số hoạt động ngày càng cao trong tông doanh thu của ngành. Sinh viên: Đặng Tiến Cảnh 2 Lớp: Thiết bị dầu khí K _49 Trường Đại học Mó - Địa chất Đồ án tốt nghiệp Thực hiện mục tiêu xây dựng ngành dầu khí quốc gia Việt Nam trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước công tác hoàn thiện cơ chế quản lý cơ cấu tổ chức và công tác cô phần hoá doanh nghiệp đã được triển khai có hiệu quả, do đó hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị cô phần hoá được cải thiện rõ rệt. Hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn xác định theo hướng có hiệu quả nhất và phát triển thêm một số lĩnh vực để tận dụng thế mạnh của ngành. Là một ngành kinh tế kỹ thuật yêu cầu công nghệ cao, vốn đầu tư lớn và an toàn cao nên con người luôn là yếu tố quyết định đặc biệt trong thới kỳ hội nhập.
Ý thức được điều đó tập đoàn dầu khí Việt Nam đã sớm đầu tư xây dựng và đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, đặc biệt là các cán bộ khoa học và các bộ có trình độ quản lý cao. Đến nay tập đoàn dầu khí Việt Nam đã có đội ngũ cán bộ trên 22000 người và đang đảm đương tốt công việc được giao. Chặng đường xây dựng và phát triển của ngành dầu khí Việt Nam trên 30 năm qua hết sức vẻ vang. Nhà nước đã luôn tạo điều kiện cho ngành dầu khí phát triển.
Thủ tướng chính phủ đã có quyết dịnh số 386/QĐ-TTG 09/03/2006 phê duyệt chiến lược phát triển ngành dầu khí quốc gia Việt Nam đến năm 2015 và định hướng năm 2020. Vi lí do đó ngày 29/08/2006 thủ tướng đã có quyết định số 199/2006/QD-TTg thành lập tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Tên giao dịch quốc tế là VIETNAM OIL AND GAS GROUP, gọi tắt là Petrovietnam, viết tắt là PVN nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp bách và tăng trưởng kinh tế chung của đất nước trong giai đoạn này. Với những thuận lợi và thế mạnh sẵn có tập đoàn dầu khí Việt Nam xác định mục tiêu và nhiêm vụ như sau: Mục tiêu tông quát: Phát triển ngành dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng bao gồm: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác vận chuyên chế biến, dự trữ, phân phối và dịch vụ xuất nhập khẩu.
Xây dựng tập đoàn dầu khí lớn mạnh và kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế. Các mục tiêu cụ thê: Sinh viên: Đặng Tiến Cảnh 6 Lớp: Thiết bị dầu khí K _49 Trường Đại học Mó - Địa chất Đồ án tốt nghiệp -Về tìm kiếm thăm dò dầu khí: Đây mạnh việc tìm kiếm thăm dò, gia tăng trữ lượng có thể khai thác. Ưu tiên những vùng biển nước sâu xa bờ. Tích cực triển khai đầu tư tìm kiềm thăm dò dầu khí ra nước ngoài.
-Về khai thác dầu khí: Khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguôn tài nguyên dầu khí trong nước để sử dụng lâu dài. Đồng thời tích cực mở rộng hoạt động khai thác dầu khí ở nước ngoài dé bd xung phan thiéu hut của khai thác trong nước. Phấn đấu khai thác 25:35 triệu tấn quy đổi /năm, trong đó khai thác dầu thô giữ ốn định ở mức 18:20 triệu tấn/năm và khai thác khí 6ó+17 tỷ m”/năm. -Về phát triển công nghiệp khí: Tích cực phát triển thị trường tiêu thụ trong nước, sử dụng khí tiết kiệmhiệu quả cao thông qua sản xuất điện, phân bón, hoá chất, phục vụ các ngành công nghiệp khai thác, giao thông vận tải tiêu dùng gia đình.
Xây dựng và vận hành an toàn hệ thống đường ống quốc gia, sẵn sàng kết nối với đường ống dẫn khí khu vực Đông Nam Á phục vụ cho nhu cầu xuất nhập khẩu khí. Riêng tập đoàn dầu khí Việt Nam sản xuất 10+15% tong sản lượng điện của cả nước. -Về công nghiệp chế biến khí: Tích cực thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để phát triển nhanh công nghiệp chế biến khí.